CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm có liên quan Công tác tạo động lực lao động đang là mối quan tâm của rất nhiều nhà lãnh đạo và quản lý bởi kích thích lao động có thể giúp tăng năng suất lao động nhằm tạo ra lợi nhuận cao hơn, hiệu quả hoạt động của tổ chức cao hơn trên cơ sở trang thiết bị và vốn sẵn có. Khi tham gia vào quá trình lao động, các yếu tố thuộc về cá nhân NLĐ cũng đóng góp một phần quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ để đạt được kết quả công việc tốt với năng suất lao động cao như: nhu cầu, động cơ lao động, động lực lao động, các quan niệm về giá trị, lý tưởng… Nhu cầu tạo ra động cơ lao động, khi nhu cầu được đáp ứng ở một mức độ nào đó thì NLĐ nhận được lợi ích, mà chính lợi ích tạo ra động lực lao động, lợi ích đạt được càng cao thì động lực lao động càng lớn. Muốn tạo động lực lao động thì tổ chức phải có những biện pháp, cách ứng xử nhằm tạo ra động lực lao động.
Để hiểu rõ hơn về tạo động lực lao động, việc phân tích các yếu tố liên quan đến tạo động lực lao động là hết sức cần thiết. Nhu cầu, động lực lao động 1. Nhu cầu Năng suất, chất lượng lao động của mỗi NLĐ khác nhau bởi họ có động cơ lao động khác nhau, động cơ lao động càng cao thì năng suất, chất lượng lao động càng cao và ngược lại. “Động cơ lao động của NLĐ xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của NLĐ như: nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, phát triển, được tôn trọng…” [4, tr142].
8 Hiểu một cách khác, động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động con người (cộng đồng, tập thể, xã hội), là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra. “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn” [21, tr. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội. Hệ thống nhu cầu rất phong phú và đa dạng, song cơ bản, nó được chia thành 02 nhóm chính là: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Nhu cầu vật chất: là những nhu cầu sinh lý như ăn, mặc, ở, đi lại… Nhu cầu tinh thần: là những nhu cầu xã hội (nhu cầu giao tiếp), nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự hoàn thiện… Nội hàm của các nhu cầu này luôn vận động, biến đổi và cùng với thời gian, có thể phát sinh thêm các nhu cầu mới. NLĐ luôn mong muốn được thỏa mãn càng nhiều nhu cầu càng tốt, nhưng việc thỏa mãn chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố và không phải lúc nào họ cũng được thỏa mãn nhu cầu đầy đủ. Mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc tạo ra đó gọi là lợi ích mà NLĐ nhận được. Có 2 dạng lợi ích đó là lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; trong hầu hết trường hợp, lợi ích càng cao thì động lực lao động càng lớn.
Động lực lao động “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” [12, tr 128]. Như vậy cũng có thể hiểu: động lực lao động xuất phát từ trong nội tâm của NLĐ chứ không phải xuất phát từ bất kỳ một sự cưỡng chế nào, nó không 9 biểu hiện bằng lời nói mà qua các hành động cụ thể. Động lực lao động không phải là tính cách cá nhân, nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc và trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực lao động cao sẽ dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc cao hơn. Tạo động lực lao động “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của NLĐ cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức” [4, 145].
Như vậy, vấn đề tạo động lực lao động chủ yếu là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức. Để tạo được động lực lao động cho NLĐ, tổ chức phải đưa ra những chính sách, cách thức triển khai những chính sách đó để NLĐ thực hiện nó một cách tự nguyện và tổ chức phải làm sao để NLĐ thực hiện được những ước mơ, hoài bão, kế hoạch trong tương lai của họ, giúp họ thỏa mãn nhu cầu, đạt được những lợi ích nhất định. Để tạo được sự phát triển trong tương lai, tổ chức không thể không quan tâm đến vấn đề tạo động lực lao động. Tuy nhiên, tổ chức sẽ phải lựa chọn những vấn đề ưu tiên giải quyết trước trong phạm vi nguồn lực hạn chế của mình để các phương pháp tạo động lực lao động có thể thực hiện được và đạt được mục tiêu của tổ chức.
Các biện pháp tạo động lực lao động được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích vật chất và kích thích tinh thần. Kích thích vật chất Kích thích vật chất là những biện pháp kích thích lao động sử dụng các biện pháp có liên quan đến tài chính để giúp cho NLĐ đảm bảo cuộc sống của họ và gia đình họ như: tiền lương, phụ cấp lương, tiền thưởng, các chế độ phúc lợi… 1 Kích thích vật chất là một động lực quan trọng thúc đẩy NLĐ làm việc nhiệt tình, có trách nhiệm, phấn đấu nâng cao hiệu quả công việc. Tiền lương được sử dụng như một công cụ cơ bản để kích thích vật chất đối với NLĐ bởi tiền lương là bộ phận chủ yếu trong thu nhập và biểu hiện rõ ràng nhất lợi ích kinh tế của NLĐ, nó nên được sử dụng như là một đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ nhất để kích thích NLĐ. Tiền lương phải được trả thỏa đáng so với sự đóng góp của NLĐ và phải công bằng.
Sử dụng hợp lý các hình thức khuyến khích vật chất như: tăng lương tương xứng với việc thực hiện công việc, tiền thưởng, các hình thức trả công khuyến khích, chế độ phúc lợi… để nâng cao sự nỗ lực và thành tích lao động của NLĐ. Kích thích tinh thần Kích thích tinh thần là những biện pháp kích thích lao động sử dụng các biện pháp phi tài chính để thỏa mãn nhu cầu tinh thần của NLĐ như: phân công công việc hợp lý; đánh giá thực hiện công việc công bằng, khách quan; tạo cơ hội đào tạo, phát triển nhân lực và thăng tiến cho người lao động; tạo điều kiện và môi trường làm việc thuận lợi cho NLĐ, tạo ra phong cách quản lý và giao tiếp với nhân viên hiệu quả… Trên thực tế không thể tách rời các đòn bẩy kích thích vật chất và tinh thần với nhau bởi khi NLĐ được kích thích vật chất thì họ sẽ được thỏa mãn những nhu cầu vật chất của mình, từ đó tinh thần của NLĐ sẽ được thúc đẩy nếu họ đạt thành tích cao và ngược lại, khi NLĐ được kích thích về tinh thần, họ sẽ làm việc với tinh thần thoải mái hơn từ đó dẫn đến việc họ sẽ đạt được thành tích cao trong công việc và được hưởng thu nhập cao. Điều này cho thấy, việc thực hiện kết hợp các đòn bẩy kích thích vật chất và tinh thần sẽ tạo ra kết quả thực hiện công việc cao do sự “cộng hưởng” của hai loại đòn bẩy này. Một số học thuyết về tạo động lực lao động 1.
Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Theo nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow (1908-1970), nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì nhóm nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa. Các cấp độ nhu cầu theo A.Maslow được thể hiện qua tháp nhu cầu: Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 1.1: Tháp nhu cầu của A.Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để 1 có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được mọi người. Trong hệ thống nhu cầu của A.Maslow, nhóm nhu cầu này được xếp ở tầng thấp nhấp.
Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa mất việc làm, mất tài sản, vì vậy mà họ sẽ không sẵn sàng làm việc trong những điều kiện nguy hiểm. Đó là những nhu cầu của con người được sống trong một môi trường an toàn, được đảm bảo về y tế, đảm bảo về việc làm và tài chính của NLĐ. Nhóm nhu cầu này được xếp ở cấp độ thứ 2, sau nhu cầu sinh lý. Nhu cầu xã hội: Là những nhu cầu được quan hệ với những người khác để trao và nhận tình cảm, sự quý mến, sự chăm sóc hay sự hiệp tác.
Đây chính là nhu cầu bạn bè, giao tiếp của con người; cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển. Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọng, tự tôn trọng mình.Maslow, khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu xã hội, tức là được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Nhu cầu này dẫn tới sự mong muốn đạt được: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin. Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được biến các khả năng, tiềm năng của mình thành hiện thực, hoặc là nhu cầu đạt được các thành tích mới, nhu cầu sáng tạo.Maslow xem đây là nhu cầu bậc cao nhất trong cách phân cấp của ông.
Nhu cầu này thể hiện sự khát vọng nỗ lực để đạt được mong muốn; con người sẽ hài lòng khi họ thực hiện được một công việc nào đó theo đúng sở thích, mong muốn của họ. Học thuyết nhu cầu của A.