phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt…nội dung của luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Phát Triển TPHCM. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Phát triển Tp.HCM 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về thanh khoản Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn - đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ đƣợc quy định. Do thực hiện bằng tiền, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lƣu chuyển tiền tệ.
Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản (Rudolf Duttweiler, 1020). Nhƣ vậy, thanh khoản đƣợc hiểu thông qua các yếu tố sau: - Tính lỏng, tính linh hoạt của tài sản. - Khả năng chuyển hóa tài sản thành tiền. - Khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán với chi phí hợp lý.2 Cung - cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng 1.1Cung thanh khoản Cung thanh khoản là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, là các tài sản có tính thanh khoản cao và các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng (Nguyễn Đăng Dờn, 2010), bao gồm: - Tiền mặt tại quỹ (cả nội tệ và ngoại tệ), vàng, tiền gửi tại Ngân hàng nhà nƣớc, tiền gửi tại các TCTD khác: đây là nguồn thanh khoản đầu tiên của ngân hàng, nguồn này giúp việc thanh toán của ngân hàng diễn ra nhanh và kịp thời.
Nhƣng nguồn này càng tăng thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng thấp, vì vậy các ngân hàng thƣơng mại đều có chiến lƣợc duy trì lƣợng tiền mặt không quá nhiều. - Tiền gửi của khách hàng: đây đƣợc xem là nguồn thanh khoản quan trọng nhất của ngân hàng để duy trì nhu cầu thanh khoản thƣờng xuyên, bao gồm các 2 khoản tiền gửi mới phát sinh, đối với tiền gửi đến hạn nhƣng đƣợc gia hạn cho kỳ hạn tiếp theo tạm thời đƣợc loại khỏi nhu cầu thanh khoản trƣớc mắt. - Các khoản tín dụng đƣợc hoàn trả: vừa tạo nguồn cung thanh khoản cho ngân hàng, vừa chứng tỏ khoản tín dụng an toàn, không bị rủi ro mất vốn. - Lãi và phí dịch vụ đang thu: chẳng hạn nhƣ phí mở, thông báo L/C, bảo lãnh ngân hàng, kinh doanh ngoại tệ, thu chi hộ, két sắt… là nguồn thu và nguồn tạo cung thanh khoản cho ngân hàng.
- Bán tài sản tài chính, tài sản đang kinh doanh và đang sử dụng: ngân hàng có thể chuyển hóa một phần tài sản thành tiền mặt tức thời để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Các tài sản dễ chuyển hóa thành tiền nhƣ trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, các loại Giấy tờ có giá tại các TCTD, Tổ chức kinh tế phát hành. - Vay trên thị trƣờng tiền tệ: là vay từ Ngân hàng nhà nƣớc hay các TCTD khác trong trƣờng hợp thiếu thanh khoản.2Cầu thanh khoản Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động nghiệp vụ hàng ngày của ngân hàng, các khoản làm giảm dự trữ của ngân hàng (Nguyễn Đăng Dờn, 2010), bao gồm: - Khách hàng rút tiền: đây là nhu cầu thanh khoản chính của ngân hàng, có tính thƣờng xuyên, tức thời và vô điều kiện, bao gồm rút vốn và lãi trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn có khả năng rút trƣớc hạn và khi đến hạn, kỳ phiếu, trái phiếu…(Nguyễn Đăng Dờn, 2010). - Cấp tín dụng cho khách hàng: đây là các khoản tín dụng mà ngân hàng đã cam kết cấp cho khách hàng trong hạn mức tín dụng, gia hạn khoản vay mới, nhu cầu cấp tín dụng mới… Cấp tín dụng là hoạt động mà ngân hàng luôn muốn duy trì và đáp ứng nhu cầu của khách hàng nên rất cần thanh khoản (Nguyễn Đăng Dờn, 2010).
- Hoàn trả các khoản vay đến hạn (vay từ Ngân hàng nhà nƣớc, từ các tổ chức tín dụng): bao gồm gốc và lãi vay. 3 - Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ; - Chi phí nghiệp vụ nhƣ lƣơng, thƣởng, bảo hiểm, công tác phí, mua sắm tài sản, chi nộp thuế và trả cổ tức bằng tiền mặt… 1.3Trạng thái thanh khoản ròng Trạng thái thanh khoản ròng hay còn gọi là khe hở thanh khoản (Net Liquidity Position - NLP) là chênh lệch giữa tổng cung thanh khoản và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm (Nguyễn Đăng Dờn, 2010). Công thức: NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Từ công thức này ta thấy có 3 trƣờng hợp xảy ra đối với NLP: - NLP >0, nghĩa là Tổng cung thanh khoản > Tổng cầu thanh khoản, là ngân hàng đang trong tình trạng thặng dƣ thanh khoản, lúc này việc cần làm của nhà quản trị ngân hàng là xem xét và quyết định việc đầu tƣ có hiệu quả khoảng thặng dƣ thanh khoản này cho đến khi nguồn thanh khoản này đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tƣơng lai. Đây là việc ngân hàng không khai thác hết đƣợc tiềm năng sinh lời của Tài sản Có.
Thanh khoản thừa thƣờng đƣợc xử lý nhƣ sau (Nguyễn Đăng Dờn, 2010): o Nếu thanh khoản thừa không lớn: Ngân hàng có thể giữ nguyên trạng thái. o Nếu thừa với số tiền lớn: Ngân hàng có thể sử dụng để: Mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp và đã bán ra trƣớc đó; Cho vay trên thị trƣờng tiền tệ; Gửi tiền tại các TCTD khác - NLP <0, nghĩa là Tổng cầu thanh khoản lớn hơn Tổng cung thanh khoản, lúc này ngân hàng đang ở trong trạng thái thiếu hụt thanh khoản, ngân hàng cần áp dụng các biện pháp để bổ sung thanh khoản với chi phí hợp lý nhất và thời gian nhanh nhất. Các biện pháp có thể sử dụng khi NLP<0 nhƣ sau: Cơ cấu lại dự trữ cho hợp lý, chuyển đổi các công cụ thứ cấp thành dự trữ sơ cấp; bán các giấy tờ có giá ngắn hạn; tăng cƣờng huy động vốn thông qua các hình thức khuyến mãi, dự thƣởng, tặng quà; vay NHNN bằng hình thức vay cầm cố giấy tờ có giá, chiết khấu 4 và tái chiết khấu, vay các ngân hàng khác thông qua thị trƣờng liên ngân hàng…(Nguyễn Đăng Dờn, 2010). - NPL = 0, cung thanh khoản bằng cầu thanh khoản hay gọi trạng thái thanh khoản cân bằng.
Trạng thái này rất khó xảy ra trên thực tế.3 Các chỉ số cơ bản thể hiện khả năng thanh khoản - Chỉ số dự trữ sơ cấp Chỉ số dự trữ sơ cấp = Dự trữ sơ cấp/Nguồn vốn huy động. Dự trữ sơ cấp bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi thanh toán tại các TCTD. Dự trữ sơ cấp đƣợc xem là tuyến phòng thủ số một của ngân hàng. Chỉ số này phản ánh tỷ lệ giữa các tài sản có tính lỏng cao nhất so với tổng tiền gửi của khách hàng.
Một tỷ lệ tiền mặt và tiền gửi cao thì càng đảm bảo cho ngân hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng. Chỉ số này càng cao thì tính thanh khoản của ngân hàng càng tốt nhƣng hiệu quả kinh doanh, tính sinh lợi từ tài sản sẽ không cao (Nguyễn Đăng Dờn, 2010). - Chỉ số Tài sản lỏng/Tổng nợ phải trả Tài sản lỏng (tài sản có tính thanh khoản cao) là những tài sản dễ dàng đƣợc chuyển đổi thành tiền mặt trong thời gian nhanh nhất và với chi phí thấp nhất, nghĩa là giá trị tài sản không giảm nhiều khi chuyển đổi. Tài sản lỏng của TCTD thƣờng bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi không kỳ hạn tại các TCTD khác, tín phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ.
Chỉ số này có ý nghĩa đo lƣờng khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ phải trả của ngân hàng từ các tài sản dễ dàng chuyển đổi thành tiền nhất của ngân hàng. Chỉ số này cao có nghĩa ngân hàng có khả năng đáp ứng các khoản thanh toán đến hạn, nhu cầu rút vốn hay giải ngân. Nhƣng không phải tỷ số này càng cao là càng tốt, nếu quá cao, thì thể hiện sự dƣ thừa về mặt thanh khoản và giảm sút lợi nhuận của ngân hàng vì tài sản có tính thanh khoản càng cao thì lợi tức sinh ra từ tài sản đó càng thấp (Nguyễn Đăng Dờn, 2010). - Tỷ lệ khả năng thanh toán 5 Có hai tỷ lệ khả năng thanh toán là tỷ lệ khả năng thanh toán ngay và tỷ lệ khả năng thanh toán trong 7 ngày tiếp theo.
Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “Có” thanh toán ngay và tổng Nợ phải trả và Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau và tổng tài sản “Nợ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau đối với đồng Việt Nam, đồng Euro, đồng Bảng Anh và đồng đô la Mỹ (bao gồm đồng đô la Mỹ và các ngoại tệ khác còn lại đƣợc quy đổi sang đô la Mỹ theo tỷ giá liên ngân hàng cuối mỗi ngày) (Trần Huy Hoàng, 2011). - Tỷ lệ Dƣ nợ tín dụng/Huy động Chỉ số này cho biết phần trăm các khoản cho vay tín dụng trong tổng tiền gửi của khách hàng mà ngân hàng huy động đƣợc tức là cho biết ngân hàng đã sử dụng bao nhiêu vốn huy động để cho vay. Tỷ lệ này cao cho thấy rằng ngân hàng đã dựa quá nhiều vào nguồn tiền gửi để tài trợ cho tăng trƣởng tín dụng. Chỉ số này càng cao thì tính thanh khoản của ngân hàng càng kém (Nguyễn Đăng Dờn, 2010).
- Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn = {(Tổng dƣ nợ cho vay trung hạn, dài hạn – Tổng nguồn vốn trung hạn, dài hạn đƣợc sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn sau khi trừ đi các khoản phải trừ)/Tổng nguồn vốn ngắn hạn đƣợc sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn}x100% (Trần Huy Hoàng, 2011). Nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn trung hạn, dài hạn đƣợc xác định dựa trên thời hạn còn lại. Chỉ số này cho thấy phần trăm dƣ nợ cho vay trung dài hạn đƣợc tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn so với tổng nguồn vốn ngắn hạn.