Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật bậc mắm non. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Giáo dục hòa nhập tẻ khuyết tật bậc mắm non trên địa bàn huyện Đakrông, tinh Quảng Tri - Chương 3: Các biện pháp quân lý công tác giáo dục hỏa nhập trẻ khuyết tật bậc mắm non trên địa bản huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị + Kết luận và khuyến nghị + Tải liệu tham khảo - Phụ lục B. NOI DUNG NGHIEN CUU CHUONG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẦN LÝ GIÁO DỤC HOA NHAP TRE KHUYET TAT BAC MAM NON 1,1. KI qui lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục hòa nhập là “Hỗ trợ mọi trẻ, trong đó trẻ khuyết tật, cơ hội bình đẳng tiếp cân dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cằn thiết trong lớp học phù hợp tại trường phô thông nơi trẻ sinh sống nhằm chuẩn bị trở thành những thành viên đầy.
Ý tưởng về giáo dục hòa nhập dựa trên tư tưởng tất cả các trẻ em đều có quyền được hưởng một nền giáo dục phổ thông nhằm phát triển nhân cách, kiến thức, kỹ năng, tài năng của mình. Ý tưởng này cũng phù hợp với hàng loạt những, tuyên bổ, quy định, công ước, luật pháp quốc tế và Việt Nam. Tại Việt Nam, giáo dục trẻ khuyết tật ở Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với giáo dục trẻ khuyết tật trên thể giới. Hơn nữa cũng không có nhiều tài liệu khẳng định một cách tương đối đầy đủ và chỉ tiết về vấn để này.
Tuy nhiên, tương. tự như lịch sử giáo duc trẻ khuyết tật trên thế giới, các trường hợp, cơ sở giáo dục trẻ khiếm thính và khiếm thị được ra đời sớm hơn so với các cơ sở giáo dục trẻ châm phát triển trí tuệ, trẻ khuyết tật vận đông, trẻ khuyết tật ngôn ngữ: Năm 1896, trường điếc đầu tiên ra đời ở Bình Dương: trường điếc Lái Thiêu do một linh mục người Pháp tên là Azetmat thành lập với Š trẻ khiếm thính. Đến năm 1902, trường có tới 20 trẻ khiếm thính tham gia học. Trẻ bắt đầu được dạy văn hóa và các kỹ năng giao tiếp.
Nam 1937, số lượng trẻ lên đên khoảng 30 em. Đến thời kỳ nảy, trẻ được học. văn hóa, học nghề theo chương trình do các giáo viên tự biên soạn. Các nữ sinh được.
học nghề cắt may. Trường sử dụng ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ (minique)để dạy các trẻ. Trường dành cho trẻ khiếm thị đầu tiên được ra đời đặt tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sai Gon do ông Nguyễn Văn Chí, một người khiếm thính từ Pháp trở vẻ, thành lập năm 1903. Đến năm 1927, trường được xây dựng tại 182 đường Nguyễn Chí ‘Thanh (bây giờ là trường Nguyễn Đình Chiều, TP.Hồ Chí Minh).
Nội dung day học. chủ yếu là day nghề. Từ năm 1970 đến 1990, nhiều trường chuyên biệt dành cho trẻ khiếm thính, khiếm thị và chậm phát triển trí tuệ được thành lập tại các tỉnh thành. trong cả nước.
'Tuy nhiên, sự quan tâm đến hoạt động này ở các cơ sở giáo dục còn hạn chế. Chính vì vậy, nghiên cứu, xác định tằm quan trọng của việc quản lý giáo dục hòa nhập nhằm giúp đổi mới quản lý, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đang là vấn để được quan tâm. Xung quanh vấn đề này đã có một số công trình nghiên cứu như: - Lê Thị Thúy Hằng (2001), Một số biện pháp tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trong trường mắm non hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Giáo dục: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác tổ chức GDHN tại một số huyện, tác giả đã đưa ra một số giải pháp tổ chức GDHN cho trẻ khuyết tật trong trường mắm non.
~ Huỳnh Ngọc Trả (2006), Các biện pháp quản lý giáo đục hỏa nhập trẻ khuyết đật bic mam non tink Quing Nam, Luan văn Thạc sỹ Quản lý Giáo dục: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tác giả để cập đến các vấn đẻ về quản lý, quản lý GDHN cho trẻ. khuyết tật ở cấp mầm non trên địa bản tỉnh. Từ đó, đề xuất sáu biện pháp để nâng cao.
chất lượng, hiệu quả GDHN trẻ khuyết tật cấp mằm non tại tỉnh Quảng Nam ~ Nguyễn Thanh Binh (2007), Một số giải pháp quản lý việc thực hiện giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong trường mẫm non tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình, Luận văn Thạc sỹ Quản lý giáo dục: Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục Hà Nội. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập, trẻ khuyết tật trong trường mầm non tại Huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Các khái niệm cơ bản 1.W Taylor, "Quin lý là nghệ thuật, biết rõ rằng, chính xác cái gì cằn làm và cái đó làm bằng phương pháp tốt nhất, ré nhat" (38; 28} Harold Koontz cho ring: "Quan ly là thiết kế và duy trì một môi trường mà. 12 trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ vả mục tiêu đã định” [17, 32], Cie Mac đã viết: *Một người độc tấu vĩ cằm tự mình điều khiển lấy minh, còn một đàn nhac thi edn phải có nhạc trưởng” [15 1] Quản lý xuất hiện từ khi loài người xuất hiện và tồn tại như một tắt yếu khách quan của loài người.
Quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn. “Trong tắt cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tổn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ. đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó.
Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Có người cho quân lý là hoạt động nhằm đảm báo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. 'Tử những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành đông, có thể định nghĩa: Quản lý fà sự tác động có tố chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Quản lý giáo due Giáo dục là một hiện tượng xã hội, nhưng khác các lĩnh vực xã hội khác, là hiện tượng xã hội đặc biệt.
Vấn đề quản lý trong giáo dục luôn là vấn đề thời sự, cắp bách vì giáo dục có ảnh hướng sâu sắc trực tấp tới toàn xã hội, moi gia đình Khái niệm về quản lý giáo dục cũng có nhiều quan điểm khác nhau.V cho rằng: " Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau để tắt cả các khâu. của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ” [37] "Theo Phạm Viết Vượng: "Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức 13 quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niền thông minh, sáng tạo, năng. đông, tự chủ, biết sống và phẩn đầu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội" |4]: 206] Nhu vay, guán lý giáo dục được hiễu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực hoại động công tác giáo dục. Nói cách khác, quản ý giáo đục là hệ thống những tác động có mục đích, 5 ké hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lÿ trong hệ thống giáo dục.
là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục và là hoạt động điều hanh, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giảo dục theo yêu câu phát triển xã hội. Giáo dục là một hệ thống xã hội, do vậy, quản lý giáo dục cũng chịu sự chỉ phối của các quy luật xã hội và tác động của quản lý xã hội. “Theo phạm vi quản lý, người ta chia ra hai loại quản lý giáo dục. - Quản lý hệ thống giáo dục: quản lý giáo dục được diễn ra ở tằm vĩ mô trong phạm vỉ toàn quốc, trên địa bản lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố).
~ Quản lý nhà trường: quản lý giáo dục ở tằm vi mô, trong phạm vi một đơn vị, một cơ sở giáo dục. Quan lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch. hợp quy luật của chủ thé quản lý (các cấp quản lý của hệ thông giáo dục) nhằm lâm. cho nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục dé đạt tới mục tiêu giáo dục.
Quan lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tắt cả các mặt, các khía cạnh. Tiên quan đến hoạt động giáo dục và đảo tạo trong phạm vỉ một nhà trường. Quản lý công tác giáo duc hoa nhập trẻ khuyết tật 1. Trẻ khuyết tật Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trẻ khuyết tật.
Qua mỗi thời kì, mỗi ngành, trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ trọng tâm, lại có những định nghĩa vẻ trẻ khuyết tật phục vụ cho mục tiêu hoạt động trong lĩnh vực đó. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về trẻ khuyết tật dựa trên những văn bản do Bộ GD&DT ban hành, như Qui định 23/2006 về giáo dục hòa nhập trẻ tàn tật, khuyết tật, “Thông tư có 39/2009 về giáo dục hỏa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. 14 'Trẻ khuyết tật là những trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc, hoặc các chức năng, cơ thể hoạt đông không bình thường dẫn đến gặp khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, tập thể, xã hội và không thé học tập theo chương trình giáo dục phổ thông nếu không được hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục ~ dạy học và những, trang thiết bị trợ giúp cần thiết. Các dạng trẻ khuyết tật 'Trên cơ sở nêu trên, trẻ có các dạng khuyết tật chính sau: Khiễm thính “Trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm sức nghe ở những mức độ khác nhau dẫn tới khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp, ảnh hưởng đến quá trình nhận thức, và các chức năng tâm lý khác.