CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hoàn thiện cơ sở vật chất trường học nhằm phù hợp với sự hiện đại hóa nội dung, phương pháp và hình thức dạy học. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế, kỹ thuật và xã hội, mỗi nước có một hướng nghiên cứu và phát triển cơ sở vật chất trường học riêng.
Các nước có nền kinh tế phát triển đều quan tâm đến việc nghiên cứu, thiết kế, sản xuất các thiết bị dạy học hiện đại, đạt chất lượng cao, cần thiết cho nhu cầu giáo dục mỗi nước. Ở Nga, Hà Lan người ta chú ý đến việc trang bị những phương tiện truyền thống cho các phòng học bộ môn. Ở Đức, Ba Lan, Pháp vấn đề nổi lên là các phương tiện kỹ thuật hiện đại, những bộ thí nghiệm đa năng. Nhật, Triều Tiên, Singapore là những nước đầu tư rất nhiều cho việc trang bị đầy đủ và hiện đại, nhất là các phương tiện nghe nhìn.
Ở Mỹ, có giai đoạn phổ biến là dùng máy thay giáo viên trong giảng dạy, nên việc nghiên cứu và việc trang bị các phương tiện hiện đại rất quan trọng [30]. Trên cơ sở lý luận của học thuyết Mác Lênin và thực tiễn xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên, các nhà khoa học Liên Xô cũ đã xây dựng nền khoa học quản lý giáo dục nói chung, quản lý giáo dục đại học nói riêng trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn, nhằm thúc đẩy nền GD&ĐT và con người phát triển toàn diện trong tập thể, bằng tập thể với sự kết hợp hài hòa và sự tôn trọng nhân cách đối với mọi cá nhân. Khi đề cập đến vấn đề quản lý giáo dục đào tạo đại học thì tất yếu phải nghĩ đến hoạt động quản lý, trong đó có hoạt động quản lý cơ sở vật chất của nhà trường, bao gồm các thành tố có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác với nhau 8 trong hoạt động quản lý của nhà trường. Thực tiễn đã chứng minh rằng, nếu hoạt động quản lý không tốt thì quá trình GD&ĐT trong nhà trường cũng không đạt được những mục tiêu mong muốn.
Ngược lại, mục đích, mục tiêu GD&ĐT của nhà trường đạt được hiệu quả cao, thì trong đó có sự đóng góp lớn của hoạt động quản lý, từ Ban Giám hiệu đến các đơn vị, cá nhân và các lực lượng liên quan trong nhà trường. Do đó nghiên cứu, bàn luận đến vấn đề quản lý giáo dục đào tạo đại học, quản lý cơ sở vật chất của trường Đại học đã đựợc nhiều học giả trên thế giới quan tâm, thể hiện qua một vài luận văn, nhưng chưa trở thành một hệ thống lý luận chặt chẽ, đầy đủ. Vào những năm của thế kỷ XX, khi thế giới chuyển sang nền kinh tế đại công nghiệp với kinh tế tri thức, thì các học thuyết, các công trình nghiên cứu về quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng đã tăng tốc phát triển. Có thể kể tên một số tác phẩm như: quản lý công nghiệp với quản lý tổng quát của Henry Fayol (1841-1925), những nguyên tắc khoa học quản lý của F.Taylo (1856-1915), các nhu cầu của con người trong hoạt động quản lý của A.
Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, với xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, một số học thuyết với công trình nổi tiếng của các học giả trên thế giới như cuốn Những vấn đề cốt yếu về quản lý của ba học giả người Mỹ là: Hanold Koontz, Cyril O'Dennell, Heinz Weilnrich đã được dịch và xuất bản phổ biến rộng rãi ở Việt Nam (1992). Đặc biệt là những học thuyết mới về mối quan hệ chặt chẽ giữa kinh tế và giáo dục như lý thuyết Tư bản con người của Theodor Shoulz (giải thưởng Nobel 1979), lý thuyết về Năng suất xã hội, năng suất lao động trên cơ sở phát triển tổng hòa nhân cách con người trong sự giáo dục, đào tạo thường xuyên, liên tục của Gary Becker (giải thưởng Nobel 1992). 9 Các nhà khoa học Madelive, Robin Hanter đã viết tác phẩm Làm chủ phương pháp giảng dạy. Lecneia đưa ra nguyên lý về dạy học nêu vấn đề trong giáo dục đào tạo, M.I Kondakop với tác phẩm Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục.
Brent davies and Linda Ellinson năm 2005 đã cho ra đời tác phẩm Lãnh đạo nhà trường thế kỷ XXI, Bikas Sanyal với tác phẩm Quản lý trường đại học trong giáo dục đại học (2003), Pam Rôbins, Harvay B.Alvif với Cẩm nang dành cho Hiệu trưởng; Chiến lược và lời khuyên thực tế giúp công việc hiệu quả hơn (2004, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội) và nhiều tác phẩm khác đã đề cập và nghiên cứu về giáo dục đại học về quản lý giáo dục đại học dưới góc độ phản ảnh khác nhau. Đặc biệt là từ khi môn kinh tế học giáo dục ra đời vào đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học nổi tiếng như viện sĩ người Nga XG Strumilin, nhà kinh tế học người Anh Alfred Marshall đều cho rằng đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển con người, là đầu tư cho xã hội và đem lại lợi nhuận “Nếu đầu tư một đồng rúp vào giáo dục thì sau 5 năm sẽ sinh lợi thành 4 rúp”. Như vậy là không như những năm dài trước đây, người ta coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư đơn thuần cho phúc lợi xã hội. Từ những hệ thống lý luận và các quan điểm về mối quan hệ tương tác giữa kinh tế và giáo dục đã góp phần phát triển khoa học quản lý giáo dục ngày càng phong phú, đa dạng.
Từ thực trạng và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu, thiết kế CSVC trường học ở các nước là một trong những cơ sở thực tiễn quan trọng giúp chúng ta trong việc nghiên cứu, thiết kế và định hướng hệ thống CSVC trường học ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý cơ sở vật chất trường học như: 10 - “Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho việc dạy - học ở trường THPT công lập TP.HCM” (năm 2005; Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, TP. HCM) của Trần Quốc Bảo [8]. - “Thực trạng quản lý cơ sở vật chất ở các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ” (năm 2010; Trường ĐHSP TP.HCM) của Vương Ngọc Lê [30].
Về lĩnh vực quản lý trường học cũng đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến các phương pháp tổ chức và quản lý nhà trường ở mọi lĩnh vực giảng dạy, học tập, hướng nghiệp, cơ sở vật chất trường học,…như : - “Khoa học quản lý nhà trường” (năm 1985; TP. HCM) của Nguyễn Văn Lê [29]. “Những bài giảng quản lý trường học, tập II” (năm 1987; Hà Nội) của Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn [24]. “Giáo trình bồi dưỡng Hiệu trưởng trường THCS, tập III”, (năm 2005; Hà Nội) của Chu Mạnh Nguyên [33].“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất và TBDH ở trường phổ thông Việt Nam” (năm 2002, Hà Nội) của Trần Quốc Đắc [19].
- Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đề cập đến những vấn đề về cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý cơ sở vật chất trường học nhằm phù hợp với sự hiện đại hóa nội dung, phương pháp và hình thức dạy học. Tuy vậy, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào về đề tài quản lý cơ sở vật chất ở Trường Đại học Đồng Tháp. Chính vì lý do này tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý cơ sở vật chất ở Trường Đại học Đồng Tháp”. Các khái niệm cơ bản 1.
Quản lý và quản lý trường học 1. Quản lý Khái niệm quản lý là một khái niệm rộng, có nhiều cách tiếp cận với công tác quản lý khác nhau, do vậy có nhiều cách đưa ra khái niệm này, sau đây là một số khái niệm về quản lý. 11 - Theo Từ điển Việt Nam của Thanh Nghị năm 1958, Quản lý là trông nom coi sóc [34]. - Theo Nguyễn Ngọc Quang, quản lý (management) là tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến [35].
- Quản lý là quá trình làm việc cùng và thông qua cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích tổ chức. Thành quả đạt được các mục đích tổ chức thông qua lãnh đạo chính là quản lý [23]. - Quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và lao động [23]. Quan niệm này xuất phát từ việc cho rằng, trong dòng chảy bất tận của lịch sử xã hội loài người, từ thời mông muội đến nền văn minh hiện đại, có ba yếu tố nổi lên xuyên suốt là tri thức, lao động và quản lý.
Trong đó, quản lý bao hàm sự kết hợp giữa tri thức và lao động. Nếu kết hợp tốt thì xã hội phát triển tốt, nếu kết hợp không tốt thì xã hội phát triển chậm trễ, rối ren. - Quản lý có nghĩa là điều khiển”. Đối tượng điều khiển là các mối quan hệ giữa: con người với thiên nhiên, với kỹ thuật, công nghệ và con người với nhau.
Từ đó, quản lý là “sự tác động, chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra và đúng với ý chí của người quản lý” [20]. - Quản lý chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” [34]. - Quản lý được coi là sự kết hợp của quản và lý. “Quản” bao gồm sự coi giữ, coi sóc, tổ chức, điều khiển, trông nom và theo dõi; còn “Lý” được hiểu là lý luận về sự phân biệt phải trái, sự sửa sang, sự sắp xếp, sự thanh lý, sự dự đoán, cùng việc tạo ra thiết chế hành động.
Quản lý là sự lý luận về sự cai quản [34]. 12 - Theo Hà Sĩ Hồ cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [24].