Chương 1: Tổng quan về rửa tiền và phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng. Chương 2 : Thực trạng của việc phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay. Chương 3 : Giải pháp phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỬA TIỀN VÀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1.
Khái niệm rửa tiền và những vấn đề liên quan đến rửa tiền 1. Khái niệm rửa tiền 1. Khái niệm của quốc tế Rửa tiền theo liên hợp quốc dựa vào công ước Vienna (1988) và công ước Palermo (2000) được rất nhiều quốc gia đồng thuận nhất là “ việc sử dụng (nghĩa là với bất cứ hình thức gì kể cả cho và nhận) bất cứ tài sản nào mà nó được cho là có nguồn gốc từ hoạt động hoàn toàn hay một phần của phạm tội mà có được hoặc từ hoạt động che đậy, trá hình nhằm giúp đỡ người phạm tội đó thoát khỏi pháp luật”. Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) đưa ra định nghĩa súc tích cho thuật ngữ “rửa tiền” là “việc xử lý tiền do phạm tội mà có nhằm che đậy nguồn gốc bất hợp pháp của chúng” nhằm “hợp pháp hóa” những món lợi thu được một cách bất chính từ hành vi phạm tội.
Để hiểu một cách chính xác, cặn kẽ khái niệm rửa tiền chúng ta phải tìm hiểu một thuật ngữ khác đó là chuyển vốn tư bản hay gọi là vốn bay. Đây là vốn rút ra cấp tốc khỏi một nước do sự mất lòng tin vào chính phủ, khi nước đó xảy ra biến động về kinh tế, chính trị. Vốn bay còn được hiểu là “tiền nóng”, tiền được chuyển từ một địa điểm này sang địa điểm khác do sự lo ngại về chính sách của chính phủ. Trong nhiều trường hợp, khó có thể phân biệt tiền hợp pháp và tiền bất hợp pháp.
Những bộ phận hợp pháp của vốn bay thường là những dòng tiền sau thuế từ một quốc gia này sang quốc gia khác, và nó thường được ghi vào trong sổ sách và được lưu giữ để báo cáo. Trong khi những bộ phận hợp pháp này được chuyển đi một cách an toàn, công khai thì những bộ phận bất hợp pháp của vốn bay thường được che dấu đi. Một thuật ngữ liên quan đến hoạt động rửa tiền là “smurfing”. Thuật ngữ này được đặt tên theo những sinh vật hoạt hình, người chuyển tiền liên tục để che dấu nguồn gốc và chủ sở hữu của tiền.
Smurf là những nhân vật giúp chuyển tiền từ tổ chức này 5 sang một tổ chức rửa tiền hoặc từ quốc gia này sang quốc gia khác. Hoạt động của Smurf thường liên quan đến người cầm đầu, gọi là Papa Surf, người chỉ đạo cho Surf gửi tiền thu được từ buôn bán ma túy tại nhiều ngân hàng với số lượng nhỏ hơn số lượng tối thiểu mà các tổ chức tín dụng được yêu cầu phải báo cáo. Chúng ta tìm hiểu thêm tội phạm nguồn của tội rửa tiền, là hành vi phạm tội chính, từ đó đã tạo ra những đồng tiền mà khi đã được rửa thì sẽ dẫn tới hành vi phạm tội rửa tiền. Thuật ngữ “tiền bẩn”, “tiền dơ”, “tiền đen” đều hàm ý là tiền có nguồn gốc từ phạm tội mà có được.
Có nhiều cách đo lường trực tiếp hoặc gián tiếp để ước lượng tiền được rửa ở một nền kinh tế nào đó. Chẳng hạn cách tiếp cận vĩ mô, phổ biến vào những năm 1980, họ ước lượng hoạt động kinh tế ngầm chiếm bao nhiêu phần trăm của GDP và thông qua đó phỏng đoán mức rửa tiền. Công cụ thường dùng là quan sát sự dịch chuyển bất thường nhu cầu xã hội theo thời gian, hoặc là sự tăng vọt hay giảm thuế đột ngột. Một cách tiếp cận khác là tiếp cận vi mô.
Cách này thường ước lượng gộp thông qua các hoạt động tội phạm được phát hiện, các kênh thông tin đường phố. Thông thường thì các thống kê mức độ rửa tiền công bố với một biên độ dao động khá rộng bằng phần trăm GDP. Chẳng hạn như những kết quả công bố của IMF số lượng được rửa ở Úc khoảng 4-12% GDP, ở Đức là 2-11%, ở Ý là 10 – 33%, ở Anh là 1 – 15% và ở Mỹ là 4 – 33%. Trong báo cáo năm 2000, cơ quan chống các chất độc gây nghiện quốc tế (INCSR) đã sắp xếp nguy cơ rửa tiền ở các nước trên thế giới vào một hệ thống phân loại gồm 3 mức: nhóm mức độ lo ngại cao, nhóm mức độ lo ngại trung bình và các nhóm được theo dõi.
Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có mức độ lo ngại trung bình. Khái niệm theo luật Việt Nam Theo luật 07/2012/QH13 ngày 18/06/2012 về phòng chống rửa tiền thì Rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có thông qua các hoạt động cụ thể sau đây: (i) Hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự; (theo điều 251) 6 (ii) Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có; (iii) Chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản. Định nghĩa rửa tiền theo luật Việt Nam đã phần nào đáp ứng khuyến nghị 1 của FATF về phòng, chống rửa tiền. Trong điều 251 của bộ luật hình sự có quy định rõ các hành vi nào được xem là tội rửa tiền.
Việc gắn kết các tội phạm rửa tiền với các hành vi phạm tội trong bộ luật hình sự nhằm mục đích hình sự hóa tội danh rửa tiền. Thêm vào đó, hành vi tài trợ khủng bố nhằm che dấu nguồn tiền bẩn cũng được xem là rửa tiền. Qui trình rửa tiền Để hiểu rõ hơn về rửa tiền, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về quá trình vận động của tiền bẩn để nhận dạng đầy đủ bản chất của rửa tiền. Đầu tư phân tán (Placement) Đây là thuật ngữ nói lên việc phân phối nguồn tiền từ các hoạt động phi pháp vào 7 trong hệ thống tài chính mà không gây ra sự chú ý của các định chế tài chính và của cơ quan chức năng.
Các tội phạm rửa tiền có thể thực hiện đầu tư phân tán bằng cách chia các khoản tiền bẩn thành nhiều khoản tiền nhỏ dưới mức qui định – theo đề xuất của tổ chức chống rửa tiền quốc tế là 15.000USD hoặc EURO, và thường là ở những ngân hàng có các quy chế kiểm soát nội bộ yếu kém, hoặc những ngân hàng có uy tín thấp. Thậm chí các tội phạm rửa tiền còn thực hiện một cách hoàn hảo các kế hoạch của mình bằng cách chuyển tiền vào những tài khoản của các đối tác mà những hóa đơn thu tiền của các đối tác này không bao giờ có các hàng hóa dịch vụ đối ứng. Bước này thực hiện nhằm hai mục đích: giải tỏa việc nắm giữ lượng tiền mặt lớn của bọn tội phạm và đưa số tiền này vào hệ thống tài chính hợp pháp. Do đó nó được xem là rủi ro nhất bởi khả năng nghi ngờ là lớn nhất.
Đã từng có một số đối tác nước ngoài đề xuất với NHNN, nếu cho họ mở tài khoản và ký kết hợp đồng tín dụng thì họ sẽ chuyển vào 20 tỷ USD để cho vay với lãi suất ưu đãi trong vòng 30 năm và thậm chí 10 năm đầu họ sẽ xóa luôn các khoản nợ gốc. Phân tán lòng vòng (layering) Đây là thuật ngữ nói lên một quy trình tạo ra một chuỗi các giao dịch nhằm mục đích che đậy các nguồn tiền từ các hoạt động phi pháp và làm rối tung các dấu vết kiểm toán sau này. Các kỹ thuật phân tán thông thường là chuyển tiền điện tử ra nước ngoài, thường trực tiếp vào các ngân hàng dễ dãi “bank secrecy haven” hoặc vào những chứng chỉ tiền gửi có những qui chế pháp lý thông thoáng mà người chủ của nó sẵn sàng có thể rút ra vào bất kỳ lúc nào. Đó là những công cụ có tính thanh khoản rất cao như các séc du dịch.
Bước kế tiếp kẻ đồng lõa sẽ làm cho vấn đề phức tạp hơn bằng cách chuyển tiền điện tử tới những người nắm giữ những tài khoản bí mật – thường là ở các quốc gia có các qui tắc quản trị ngân hàng hải ngoại lỏng lẻo. Những người này sẽ cho tiền tới các đối tác mà sau này sẽ hoàn trả lại bằng các hóa đơn “có vấn đề”. Đây là bước phức tạp nhất và bản chất có tính quốc tế hóa cao nhất. Hợp nhất (Integration) Đây là thuật ngữ nói lên giai đoạn cuối cùng của việc rửa tiền, là việc tái phân 8 phối trở lại vào nền kinh tế các nguồn tiền không thể lần ra dấu vết được nữa.
Giai đoạn này được tiến hành thông qua hàng loạt các hành vi tiêu dùng xa hoa lãng phí, các chi tiêu đầu tư vào các doanh nghiệp và đầu tư tài chính. Là bước mà tiền bẩn hòa nhập vào hệ thống và từ thời điểm này trở đi số tiền này quay trở lại bọn tội phạm dưới dạng tiền hợp pháp. Những khoản tiền tội ác giờ đây đã hòa lẫn trong hệ thống tài chính và có thể sử dụng cho bất kỳ mục đích nào kể cả việc tài trợ cho những mục đích tội ác mới 1. Những ảnh hƣởng của hoạt động rửa tiền đến nền kinh tế xã hội Một số nhà kinh tế cực đoan (tôn sùng thị trường) cho rằng không có tiền nào là bẩn, tiền nào là sạch.
Theo họ, “rửa tiền” chỉ là phản ứng “hợp lý” của mọi “cá thể kinh tế”, không ai muốn trả tiền thuế và ai cũng muốn vận dụng tài sản của mình vào những hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất. Như vậy tiền bẩn theo họ đã giúp phát triển kinh tế. Tuy nhiên ý kiến này là hoàn toàn sai lầm. Tự bản chất của nó, sự phân bố tài nguyên do rửa tiền không chỉ theo tín hiệu lợi nhuận, mà phần lớn là để trốn tránh pháp luật.
Hoạt động rửa tiền vừa lãng phí nguồn lực kinh tế của xã hội (vào các hoạt động tội phạm sinh ra tiền bẩn, thay vì vào các hoạt động sản xuất thật sự hữu ích), vừa bóp méo sự phân bố các nguồn lực ấy. Sau đây là những tác động xấu của hoạt động rửa tiền đến nền kinh tế xã hội.