Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam, phát triển kinh tế trang trại giữ vai trò nòng cốt nhằm chuyển đổi phương thức sản xuất từ quy mô nông hộ nhỏ lẻ, phân tán sang sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn. Tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, xã Bá Xuyên là địa bàn thuần nông có điều kiện tự nhiên đồi thấp phù hợp với phát triển nông - lâm nghiệp và chăn nuôi. Trong giai đoạn 2016–2019, mô hình kinh tế trang trại chăn nuôi gia cầm, trọng tâm là chăn nuôi gà, đã có những bước phát triển nhanh về số lượng.

Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất tại địa phương cũng bộc lộ nhiều điểm nghẽn và hạn chế: trình độ quản lý kinh tế và kiến thức khoa học kỹ thuật của các chủ trang trại còn mang tính tự phát; năng lực phân tích thông tin thị trường yếu; quy trình kỹ thuật chưa đồng bộ; áp lực về mặt bằng chuồng trại, thiếu vốn đầu tư dài hạn; nguy cơ dịch bệnh gia cầm và vấn đề ô nhiễm môi trường do xử lý chất thải chưa triệt để. Những yếu tố này làm gia tăng chi phí sản xuất và tiềm ẩn rủi ro kinh tế cho người chăn nuôi. Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Triệu Mùi Khe đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Phát triển nông thôn với đề tài: "Phát triển chăn nuôi gà theo hướng kinh tế trang trại tại xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên".

Mục đích nghiên cứu tổng quát của đề tài là đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển chăn nuôi gà theo hướng kinh tế trang trại tại xã Bá Xuyên một cách hiệu quả và bền vững. Đề tài xác lập 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội trên địa bàn xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi gà tại xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Đưa ra được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) trong chăn nuôi trang trại tại xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi gà theo hướng trang trại ở xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ và trang trại chăn nuôi gà trên địa bàn xã Bá Xuyên.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập và khảo sát thực tế từ tháng 01/2020 đến tháng 05/2020; các số liệu thứ cấp và tình hình chăn nuôi được thu thập, theo dõi trong giai đoạn 2016–2019, tập trung phân tích sâu số liệu năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các công trình nghiên cứu và khái niệm học thuật về kinh tế trang trại:

  • Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại theo GS. TS. Nguyễn Thế Nhã, PGS. TS. Lê Trọng, tác giả Trần Trác và tác giả Nguyễn Phượng Vỹ; phân định bản chất kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn dựa trên tư liệu sản xuất tập trung, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và tự chủ hạch toán gắn với thị trường.
  • Cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm pháp luật:
    • Nghị quyết Trung ương số 06/NQ-TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về phát triển nông nghiệp, nông thôn.
    • Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về khuyến khích phát triển kinh tế trang trại.
    • Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/04/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại.
    • Thông tư số 02/2020/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí kinh tế trang trại chăn nuôi (giá trị sản xuất bình quân đạt từ 2,0 tỷ đồng/năm trở lên).
    • Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 (Điều 52, Điều 55 quy định điều kiện cơ sở chăn nuôi trang trại).
    • Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi (Điều 21 quy định quy mô trang trại: lớn từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên, vừa từ 30 đến dưới 300 đơn vị vật nuôi, nhỏ từ 10 đến dưới 30 đơn vị vật nuôi, nông hộ dưới 10 đơn vị vật nuôi).
    • Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp luận: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng (xem xét mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố nội tại và ngoại cảnh của kinh tế nông thôn) và phương pháp duy vật lịch sử (nghiên cứu hiện tượng kinh tế trong tiến trình vận động cụ thể).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu từ niên giám thống kê, báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND xã Bá Xuyên, số liệu từ Chi cục Thống kê, cán bộ khuyến nông và các tài liệu khoa học chuyên ngành.
    • Dữ liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra toàn bộ 100% trang trại chăn nuôi gà trên địa bàn xã Bá Xuyên ($n = 33$ trang trại) bằng phiếu hỏi trực tiếp; kết hợp phương pháp quan sát thực địa về quy trình chăm sóc, vệ sinh chuồng trại.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Phương pháp thống kê mô tả (số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân), phương pháp so sánh kinh tế để xác định biến động qua các năm, phương pháp phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT). Xử lý và tổng hợp bảng biểu trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi gia cầm trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn; xác định mục đích nghiên cứu tổng quát, 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, ý nghĩa học tập trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở dữ liệu cho chính quyền xã Bá Xuyên.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Nội dung chương hệ thống hóa lý luận về bản chất, đặc trưng, vai trò của kinh tế trang trại và trang trại chăn nuôi gia cầm; làm rõ nguồn gốc hình thành trang trại ở Việt Nam (từ kinh tế hộ, trang trại tiểu chủ và hộ nhận khoán nông lâm trường). Chương này cũng điểm lại tiến trình phát triển kinh tế trang trại qua các thời kỳ (phong kiến, Pháp thuộc, giai đoạn 1950 đến nay và sau Đổi mới 1986). Tác giả tổng hợp thực trạng kinh tế trang trại tại một số tỉnh như Vĩnh Phúc, Đồng Nai, Tuyên Quang, Bắc Giang; đồng thời đúc kết bài học từ các mô hình trang trại nuôi gà điển hình (mô hình nuôi gà trắng công nghiệp của hộ Lại Hữu Chín tại Vĩnh Phúc cho lãi gần 150 triệu đồng/năm; mô hình nuôi 10.000 gà thịt và 2.000 gà đẻ của hộ Dương Thị Sáng tại Lạng Sơn cho thu nhập 800 triệu đồng/năm).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành

Xác định phạm vi nghiên cứu tại xã Bá Xuyên từ tháng 01/2020 đến tháng 05/2020. Thiết lập khung nội dung nghiên cứu bao gồm điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội, thực trạng đàn gà, quy mô, cơ cấu giống, chi phí biến đổi, thị trường tiêu thụ và phân tích SWOT. Chi tiết hóa phương pháp điều tra toàn bộ 33 trang trại bằng bảng hỏi và các công cụ thống kê kinh tế ứng dụng trong phân tích dữ liệu.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Nội dung chương trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực tế tại địa bàn xã Bá Xuyên:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Tổng diện tích tự nhiên là 863,50 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 716,59 ha (82,9%), đất phi nông nghiệp chiếm 146,91 ha (17%). Dân số toàn xã có 1.211 hộ với 4.973 nhân khẩu; số người trong độ tuổi lao động là 2.984 người (chiếm 60%). Cơ cấu kinh tế gồm nông nghiệp chiếm 70% GDP, công nghiệp 18% và thương mại - dịch vụ 12%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 40 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo là 2,29% (27 hộ), hộ cận nghèo là 5,85% (69 hộ).
  • Tình hình phát triển trang trại gà: Số lượng trang trại tăng trưởng đều qua các năm: 12 trang trại (2016) lên 16 (2017), 21 (2018) và đạt 33 trang trại vào năm 2019; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016–2019 đạt 40%/năm.
  • Nhân khẩu và lao động: Trung bình một trang trại có 4,3 nhân khẩu và 2,7 lao động gia đình. Việc thuê lao động thường xuyên rất thấp (trung bình 44 công/năm, chủ yếu tập trung ở 1 trang trại quy mô lớn), trong khi lao động thời vụ phục vụ tiêm phòng và vệ sinh chuồng trại đạt bình quân 104 công/năm.
  • Trình độ và độ tuổi chủ trang trại: 87,87% chủ trang trại là nam giới; 78,78% ở độ tuổi từ 30 đến dưới 45 tuổi, 21,22% từ 45 đến dưới 60 tuổi, không có chủ trang trại dưới 30 hoặc trên 60 tuổi. Trình độ học vấn: THCS chiếm 52%, THPT chiếm 42%, tiểu học chiếm 6%; 100% chủ trang trại chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chính quy.
  • Cơ cấu giống và chu kỳ chăn nuôi: Có 2 giống gà chính:
    • Gà trắng (gà công nghiệp): 26 hộ nuôi (chiếm 78,78%), thời gian nuôi 45 ngày/lứa, xuất bán 3 ngày, thời gian vệ sinh sát trùng dãn chuồng 22 ngày; nuôi được 5 lứa/năm.
    • Gà mía: 7 hộ nuôi (chiếm 21,22%), thời gian nuôi 100 ngày/lứa, xuất bán 2 ngày, thời gian dọn chuồng 18 ngày; nuôi được 3 lứa/năm. Toàn bộ áp dụng phương thức nuôi nhốt.
  • Quy mô trang trại theo Nghị định 13/2020/NĐ-CP: Trang trại quy mô vừa (30 đến dưới 300 đơn vị vật nuôi) chiếm đa số với 28 trang trại (84,84%); trang trại quy mô nhỏ (10 đến dưới 30 đơn vị vật nuôi) có 5 trang trại (15,16%); chưa có trang trại đạt quy mô lớn (từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên).
  • Giá trị sản xuất (GTSX) theo Thông tư 02/2020/TT-BNNPTNT: 29 trang trại (88%) đạt mức GTSX từ 2,0 tỷ đồng/năm trở lên; 4 trang trại (12%) có GTSX dưới 2,0 tỷ đồng/năm do quy mô đàn còn nhỏ.
  • Thị trường tiêu thụ: 93,93% số trang trại bán sản phẩm trực tiếp cho các công ty thông qua hợp đồng liên kết bao tiêu; chỉ có 6,07% trang trại tiêu thụ qua kênh thương lái và nhà hàng địa phương.
  • Phân tích SWOT và giải pháp: Xác định các điểm mạnh về vị trí địa lý, thị trường bao tiêu ổn định; chỉ rõ điểm yếu về vốn, kỹ thuật và xử lý môi trường; nắm bắt cơ hội từ chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp; nhận diện thách thức về dịch bệnh và biến động thị trường. Đề xuất các giải pháp về quy hoạch, tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ tiếp cận vốn vay theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP và kiểm soát an toàn sinh học.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt những kết quả đạt được của quá trình phát triển trang trại gà tại xã Bá Xuyên; đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với UBND xã Bá Xuyên và UBND thành phố Sông Công về việc tạo điều kiện quỹ đất, hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật và tổ chức các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp toàn diện bức tranh chăn nuôi gà trang trại tại xã Bá Xuyên thông qua các số liệu thống kê thực chứng năm 2019:

Chỉ tiêu phân tích Đơn vị tính Giá trị thực tế Tỷ trọng / Cơ cấu
Tổng số trang trại gà khảo sát Trang trại 33 100%
Cơ cấu giống gà
- Gà trắng (công nghiệp, 5 lứa/năm, 45 ngày/lứa) Hộ / Trang trại 26 78,78%
- Gà mía (3 lứa/năm, 100 ngày/lứa) Hộ / Trang trại 7 21,22%
Phân loại quy mô (Nghị định 13/2020/NĐ-CP)
- Quy mô lớn ($\ge 300$ đơn vị vật nuôi) Trang trại 0 0,00%
- Quy mô vừa (30 đến dưới 300 đơn vị vật nuôi) Trang trại 28 84,84%
- Quy mô nhỏ (10 đến dưới 30 đơn vị vật nuôi) Trang trại 5 15,16%
Giá trị sản xuất (Thông tư 02/2020/TT-BNNPTNT)
- Đạt tiêu chí GTSX ($\ge 2,0$ tỷ đồng/năm) Trang trại 29 88,00%
- Chưa đạt tiêu chí GTSX ($< 2,0$ tỷ đồng/năm) Trang trại 4 12,00%
Thị trường tiêu thụ đầu ra
- Liên kết bán cho công ty Trang trại 31 93,93%
- Bán cho nhà hàng, thương lái Trang trại 2 6,07%
Đặc điểm chủ trang trại
- Giới tính nam % - 87,87%
- Độ tuổi 30 đến dưới 45 tuổi % - 78,78%
- Trình độ văn hóa THCS / THPT % - 52,00% / 42,00%
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật qua đào tạo % - 0,00%

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất của tác giả:

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng đầy đủ về tình hình chăn nuôi gà trang trại trên địa bàn xã Bá Xuyên giai đoạn 2016–2019, làm rõ sự chuyển biến từ chăn nuôi nông hộ sang quy mô trang trại vừa và nhỏ.
  • Đánh giá mức độ đáp ứng tiêu chí kinh tế trang trại theo hệ thống văn bản pháp luật hiện hành (Thông tư 02/2020/TT-BNNPTNT và Nghị định 13/2020/NĐ-CP).
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm: (1) Hoàn thiện quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung cách xa khu dân cư; (2) Tăng cường mở các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học và quản lý kinh tế cho chủ hộ; (3) Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi phục vụ mở rộng quy mô và hiện đại hóa chuồng trại; (4) Kiểm soát chặt chẽ quy trình thú y, tiêm phòng và ứng dụng đệm lót sinh học, bể biogas để xử lý môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế dựa trên phạm vi nghiên cứu được công bố:

  • Khảo sát thực địa giới hạn trong phạm vi 33 trang trại tại một đơn vị hành chính cấp xã (xã Bá Xuyên), chưa thực hiện đối chứng liên xã trên toàn địa bàn thành phố Sông Công.
  • Thời gian tiến hành nghiên cứu ngắn (tháng 01/2020 đến tháng 05/2020), các chỉ tiêu phân tích kinh tế chi tiết (doanh thu, chi phí trung gian) tập trung phản ánh dữ liệu của năm 2019.
  • Chưa đi sâu phân tích cấu trúc chuỗi giá trị và biên lợi nhuận của từng tác nhân trung gian phía sau khâu bao tiêu của doanh nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên toàn thành phố Sông Công hoặc các vùng chăn nuôi trọng điểm của tỉnh Thái Nguyên để so sánh hiệu quả kinh tế giữa các phương thức chăn nuôi.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình kinh tế tuần hoàn, đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi gia cầm quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản trị kinh doanh nông nghiệp và Khuyến nông tham khảo về cấu trúc bài nghiên cứu kinh tế trang trại cấp xã.
  • Người làm đề tài nghiên cứu tương tự có thể tham khảo phương pháp điều tra toàn bộ bảng hỏi ($n=33$), phương pháp phân tích ma trận SWOT và cách thức phân nhóm quy mô trang trại theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP và Thông tư số 02/2020/TT-BNNPTNT.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp, khuyến nông cơ sở tại địa phương làm tài liệu tham khảo thực tế phục vụ công tác quy hoạch vùng chăn nuôi gia cầm tập trung và triển khai chính sách tín dụng nông nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tốc độ tăng trưởng số lượng trang trại chăn nuôi gà tại xã Bá Xuyên giai đoạn 2016–2019 đạt mức bao nhiêu?
Số lượng trang trại chăn nuôi gà tại xã tăng liên tục từ 12 trang trại (năm 2016) lên 16 trang trại (năm 2017, tăng 33%), 21 trang trại (năm 2018, tăng 31%) và đạt 33 trang trại (năm 2019, tăng 57% so với 2018). Tốc độ tăng trưởng số lượng trang trại bình quân giai đoạn 2016–2019 đạt 40%/năm.

2. Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của các chủ trang trại gà tại xã Bá Xuyên có đặc điểm gì?
Về trình độ văn hóa, phần lớn chủ trang trại tốt nghiệp cấp 2 (52%) và cấp 3 (42%), chỉ có 6% trình độ cấp 1. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, 100% chủ trang trại chưa qua đào tạo chuyên môn chính quy (tỷ lệ trung cấp, cao đẳng, đại học đều bằng 0%), hoạt động chăn nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế.

3. Sự khác biệt về chu kỳ sản xuất giữa giống gà trắng và gà mía tại địa bàn nghiên cứu là gì?
Gà trắng có thời gian nuôi 45 ngày/lứa, xuất bán trong 3 ngày, thời gian dọn chuồng sát trùng 22 ngày, chu kỳ đạt 5 lứa/năm (chiếm 78,78% số hộ). Gà mía có thời gian nuôi dài hơn với 100 ngày/lứa, xuất bán trong 2 ngày, dọn chuồng sát trùng 18 ngày, chu kỳ đạt 3 lứa/năm (chiếm 21,22% số hộ).

4. Cơ cấu quy mô chăn nuôi của các trang trại gà tại xã Bá Xuyên theo Nghị định 13/2020/NĐ-CP được phân bổ ra sao?
Toàn bộ 33 trang trại trên địa bàn được phân vào hai nhóm: quy mô vừa (từ 30 đến dưới 300 đơn vị vật nuôi) chiếm ưu thế với 28 trang trại (84,84%) và quy mô nhỏ (từ 10 đến dưới 30 đơn vị vật nuôi) gồm 5 trang trại (15,16%). Địa phương chưa có trang trại đạt quy mô lớn (từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên).

5. Sản phẩm thịt gà của các trang trại tại xã Bá Xuyên được tiêu thụ chủ yếu qua kênh nào?
Thị trường tiêu thụ của các trang trại gà tại xã phụ thuộc lớn vào hình thức liên kết bao tiêu với các công ty, chiếm tỷ trọng 93,93% tổng số trang trại điều tra. Kênh tiêu thụ tự do qua thương lái và các nhà hàng địa phương chỉ chiếm 6,07%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Triệu Mùi Khe đã phản ánh trung thực thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi gà tại xã Bá Xuyên giai đoạn 2016–2019 với sự gia tăng nhanh về số lượng và tính ổn định đầu ra nhờ liên kết bao tiêu với doanh nghiệp. Mặc dù 88% số trang trại đạt tiêu chí giá trị sản xuất trên 2,0 tỷ đồng/năm, mô hình sản xuất tại địa phương vẫn bộc lộ hạn chế lớn về trình độ chuyên môn kỹ thuật của chủ hộ và quy mô chăn nuôi chỉ dừng lại ở mức vừa và nhỏ. Các giải pháp được đề xuất trong công trình tập trung vào chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ vốn tín dụng và hoàn thiện kiểm soát dịch bệnh, môi trường, tạo cơ sở thực tiễn hữu ích cho công tác quản lý và định hướng phát triển chăn nuôi bền vững tại địa phương.