Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của trái đất nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Ngoài chức năng cung cấp lâm sản phục vụ nhu cầu của con ngƣời, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trƣờng sinh thái và rừng là nơi lƣu giữ các nguồn gen động thực vật phục vụ cho cho các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp. Rừng có đƣợc những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học (ĐDSH). ĐDSH là một trong những nguồn tài nguyên quí giá nhất, vì nó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vƣợng và tiến hoá bền vững của các loài sinh vật trên hành tinh chúng ta.
Việt Nam đƣợc coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông Nam Á với hệ thực vật rất phong phú và đa dạng về thành phần loài. Từ những kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam nhiều nhà khoa học đã dự đoán ở nƣớc ta có khoảng 15000 loài thực vật bậc cao có mạch, chỉ tính riêng 3 tập Cây Cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1991- 1993) [5] đã vẽ hình và miêu tả đƣợc 11611 loài thực vật bậc cao có mạch. Sự đa dạng và phong phú của thực vật Việt Nam là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Thứ nhất, nƣớc ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mƣa nhiều thích hợp cho sự tồn tại và phát triển của nhiều loài thực vật nhiệt đới.
Thứ hai do điều kiện địa hình phức tạp, độ cao tối đa so với mực nƣớc biển đạt tới 3143m (đỉnh Phanxipăng) thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật Ôn đới núi cao. Mặt khác Việt Nam là nơi tiếp giáp của 3 luồng giao lƣu thực vật: luồng thứ nhất từ phía nam lên gọi là nhân tố Malaysia - Indonexi; luồng thứ hai từ phía tây sang gọi là nhân tố Ấn Độ - Miến Điện, gồm các loài đặc trƣng cho vùng khí hậu khô hạn; luồng thứ ba từ Tây Bắc xuống chủ yếu là các loài thuộc vĩ độ ôn đới của vùng Nam Trung Quốc (Lê Trần: Những loài thực vật có ích ở Việt Nam, 1999). n 2 Cuộc sống của chúng ta liên quan mật thiết tới nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng mà trái đất cung cấp nhƣ (nƣớc, không khí, khoáng sản, cây cỏ và động vật). Nhƣng hiện nay dân số thế giới tăng, nhu cầu về lâm sản tăng dẫn đến khai thác rừng quá mức và không khoa học làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng kéo theo suy giảm ĐDSH.
Chính vì vậy loài ngƣời đã, đang và sẽ phải đứng trƣớc một thử thách, đó là sự suy giảm về ĐDSH dẫn đến làm mất trạng thái cân bằng của môi trƣờng kéo theo là những thảm họa nhƣ lũ lụt, hạn hán, lở đất, gió bão, cháy rừng, ô nhiễm môi trƣờng sống, các căn bệnh hiểm nghèo… xuất hiện ngày càng nhiều. Tất cả các thảm họa đó là nguyên nhân ảnh hƣởng một cách trực tiếp hay gián tiếp tới việc suy giảm ĐDSH. Theo số liệu mà Maurand P. công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dƣơng” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ.
Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ năm 1976 -1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001). Việc mất rừng, độ che phủ giảm, đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trƣờng bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hƣởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cƣ. Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đa dạng về nguồn gen động thực vật. Chúng ta đang sống trong một thời đại văn minh tiên tiến, do đó vấn đề tìm hiểu về thế giới xung quanh không chỉ giới hạn ở việc tìm tòi, khám phá nó mà còn nhận một nhiệm vụ hết sức quan trọng là đảm bảo sự tồn tại, phát triển của văn minh nhân loại nói riêng và Trái đất xinh đẹp nói chung.
Trong đó, vấn đề nghiên cứu Đa dạng thực vật mặc dù đã đƣợc các thế hệ đi trƣớc n 3 thực hiện từ rất sớm, nhƣng đứng trƣớc vấn nạn ô nhiễm môi trƣờng, suy giảm đa dạng sinh học trên toàn cầu thì đến nay công tác đó vẫn đóng một vai trò quan trọng và cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu. Ba Chẽ là một huyện miền núi nằm ở phía đông của tỉnh Quảng Ninh. Với điều kiện tự nhiên tƣơng đối thuận lợi đã giúp cho hệ sinh thái của huyện có mức độ đa dạng sinh học cao và giá trị bảo tồn không nhỏ. Đặc biệt là xã Nam Sơn vẫn còn duy trì đƣợc hệ sinh thái tƣơng đối nguyên vẹn mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng ngƣời dân tại địa phƣơng.
Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về tài nguyên thực vật đƣợc triển khai tại xã Nam Sơn, nhƣng chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ. Vì vậy, chúng tôi đề xuất đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học tại xã Nam Sơn, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” góp phần bảo tồn và phát triển các nguồn gen thực vật quý hiếm, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong khu vực và nâng cao vai trò của rừng tự nhiên đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Ninh và cộng đồng dân cƣ sinh sống xung quanh khu vực này. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc tính đa dạng của các bậc phân loại thực vật. - Xác định đƣợc sự đa dạng về dạng sống, giá trị của thực vật thân gỗ tại xã Nam Sơn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Giúp cho sinh viên có đƣợc phƣơng pháp thu thập số liệu, phân tích, đánh giá và viết báo cáo về đề tài đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học thông qua việc điều tra thực tế tại xã Nam Sơn, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, đồng thời làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Việc nghiên cứu làm cơ sở cho khu vực nghiên cứu, thống kê đƣợc tính đa dạng và đƣa ra các giải pháp bảo tồn và phát triển các loài thực vật thân gỗ tại khu vực nghiên cứu.
n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Đa dạng sinh học là một môn khoa học đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nƣớc rất quan tâm, đặc biệt sang thế kỷ 21 này. Vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học đang trở nên bức xúc mà các Quốc gia đang đặt lên hàng đầu. Trƣớc tình hình suy thoái đa dạng sinh học nghiêm trọng nhƣ hiện nay thì vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học không phải là nhiệm vụ riêng một quốc gia nào,mà là nhiệm vụ chung của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên động, thực vật theo hƣớng phát triển bền vững là nhiệm vụ đang đƣợc đặt ra cho các quốc gia trong giai đoạn hiện nay. Hiện nay, Đảng và nhà nƣớc ta đã và đang có các văn bản, chính sách đầu tƣ cho công tác phát triển và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. Đây là cơ sở vững chắc trong việc đánh giá sự đa dạng, duy trì và phát triển cho hệ thực vật. Nhƣ vậy, muốn đánh giá đƣợc tính đa dạng thực vật thì phải nắm đƣợc phƣơng pháp luận về nghiên cứu của các nhà khoa học về tính đa dạng đã có,hơn nữa phải nắm vững phổ dạng sống của các loài thực vật.
Trong cuốn: “Đa dạng cho sự phát triển” của Viện tài nguyên gen và Thực vật quốc tế IPGRI, thì định nghĩa đa dạng sinh học đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Đa dạng sinh học là sự biến dạng trong cơ thể sống và các phức hệ sinh thái mà chúng sống. Đa dạng sinh học có 3 mức độ là: đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng về hệ sinh thái”. Với định nghĩa này thì đã đề cập tới ba mức độ: đa dạng gen, đa dạng loài và hệ sinh thái. Song vẫn còn chung chung vì chƣa đề cập tới không gian và môi trƣờng sống của sinh vật.
n 6 Trong công ƣớc về bảo tồn đa dạng sinh học đƣợc thông qua tại hội nghị thƣợng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro (Brazin,1992) đã định nghĩa đa dạng sinh học nhƣ sau: “Đa dạng sinh học là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và trên các hệ sinh thái nƣớc khác, sự đa dạng thể hiện trong từng loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái. Định nghĩa này đã khá đầy đủ và rõ ràng, đó là sự đa dạng đƣợc biểu hiện ở ba mức độ: Đa dạng về gen. Đa dạng về loài. Đa dạng về hệ sinh thái.
Trong công ƣớc về đa dạng sinh học, thuật ngữ “Đa dạng sinh học” đƣợc dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái (Gaston and Spicer,1998). Trong cuốn “Cẩm nang nghiên cứu về sự đa dạng sinh vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn [16] đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Đa dạng sinh vật là toàn bộ các dạng khác nhau của cơ thể sống trên trái đất, các sinh vật phân cắt đến động,thực vật ở trên cạn cũng nhƣ ở dƣới nƣớc, từ mức độ phân tử AND đến các quần thể sinh vật, kể cả xã hội loài ngƣời. Môn học nghiên cứu về tính đa dạng đó đƣợc gọi là Đa dạng sinh học”. Vậy đa dạng sinh học đƣợc chia ra thành 3 cấp: + “Đa dạng di truyền” là phạm trù chỉ mức độ đa dạng của biến dị di truyền, đó chính là sự khác biệt về di truyền giữa các xuất xứ, quần thể và các cá thể trong một loài hay một quần thể dƣới tác dụng của đột biến, đa bội hóa và tái tổ hợp.