MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây đậu tương (Glycine Max (L) Merrill) còn gọi là cây đậu nành là một cây trồng cạn có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho chế biến, thức ăn gia súc gia cầm và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương còn là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [2].
Đậu tương là một trong những cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới và là cây trồng đứng vị trí thứ tư trong các cây làm lương thực thực phẩm sau lúa mỳ, lúa nước và ngô. Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit. Trong đó protein chiếm khoảng 36 - 46%, lipit biến động từ 16 - 24% tuỳ theo giống và điều kiện khí hậu. Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó còn đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các loại axit amin không thay thế như: Xystin, Lizin, Valin, Izovalin, Leuxin, Methionin, Triptophan có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của cơ thể trẻ em và gia súc.
Ngoài ra trong hạt đậu tương còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006) [14]. Trong y học, đậu tương còn là vị thuốc chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương đen có tác dụng tốt cho người bị đái tháo đường, thấp khớp, thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [2]. Bên cạnh cây đậu tương lấy hạt truyền thống, đậu tương rau Vegetable soybean (Glycine max (L.) Merrill) được phân biệt với các giống đậu tương thu hạt truyền thống là thu quả ở giai đoạn xanh, đạt được 80 - 90% độ mẩy (Fehr và CS. Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Quốc, c 2 nhưng hiện nay đậu tương rau đã được trồng ở nhiều nước và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan với diện tích trên 50 triệu ha, cung cấp 35% lượng rau cho thế giới và là nguồn Protein chính cho trên 2 tỉ người ở Châu Á (Brar và Somd Carter, 1993).
Ở Việt Nam, đậu tương rau còn là cây trồng khá mới mẻ. Từ năm 1990, một số mẫu giống đậu tương rau nhập nội đã được trồng thử nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm đậu đỗ, nhưng cho đến nay diện tích trồng đậu tương rau còn khá hạn chế do hạt giống không nảy mầm hoặc nảy mầm với tỉ lệ thấp. Tuy nhiên đậu tương rau đang được xác định có một tiềm năng lớn tại Việt nam. Trước những nguồn lợi to lớn do cây đậu tương rau đem lại, cũng như để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm đậu tương ở nước ta, chúng ta cần nhanh chóng nghiên cứu chọn tạo ra những giống có năng suất cao, phẩm chất tốt có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái của mỗi vùng.
Từ thực tiễn trên chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống đậu tương rau nhập nội từ Đài Loan trong vụ xuân 2017 tại Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Đánh giá được những giống đậu tương rau có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cao chất lượng tốt thích hợp với điều kiện sinh thái vụ xuân ở tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác chọn tạo giống đậu tương rau cho Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đề tài là công trình nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cá thể của các giống đậu tương rau nhập nội từ Đài Loan.
Các kết quả nghiên cứu đạt được sẽ góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học cho công tác nghiên cứu và chọn tạo giống đậu tương. Mặt khác kết quả nghiên c 3 cứu của đề tài sẽ là cơ sở và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về cây đậu tương rau.2 Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp lựa chọn được những giống đậu tương rau có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cá thể cao và chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng cung cấp nguồn thực phẩm sạch có giá trị. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Tiến bộ nổi bật của khoa học kỹ thuật trên thế giới những năm cuối thế kỷ 20 là ứng dụng ưu thế lai trong quá trình chọn tạo giống.
Các nhà khoa học đã thành công trong việc lai tạo ra những giống đậu tương mới năng suất cao, khả năng chống chịu tốt. Các giống đậu tương mới sử dụng ưu thế lai trong tạo giống có ưu điểm là năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như hạn, rét… Để nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng cây đậu tương đặc biệt trong bối cảnh thời tiết khí hậu có nhiều thay đổi như hiện nay, thì các giống là một khâu then chốt. Các giống mới phát triển được trong sản xuất phải có độ đồng đều cao, thể hiện các yếu tố di truyền tốt của giống, có khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao, chất lượng tốt và ổn định qua nhiều thế hệ. Hiện nay các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu chọn tạo ra những bộ giống đậu tương cho năng suất cao thích hợp với nhiều vùng sinh thái.
Trong đó nhập nội là một phương pháp hiệu quả và tiết kiệm thời gian nhất. Tuy nhiên các giống cây trồng nhập nội và có điều kiện sinh thái khác xa so với nơi chúng được tạo ra. Do đó chúng ta cần có những nghiên cứu đánh giá tính thích nghi của giống, hạn chế số lượng đậu tương nhập khẩu hàng năm và mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng. Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống đậu tƣơng 2.
Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống đậu tương trên thế giới Nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng, cũng như nhu cầu của con người sử dụng các sản phẩm được chế biến từ đậu tương ngày một tăng mà nhiều nước đã đầu tư lớn cho việc tăng năng suất và diện tích cây đậu tương. c 5 Để thực hiện được điều đó họ đã chú trọng đến đẩy mạnh việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới. Đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu trên thế giới được thực hiện qua các năm, với các phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tìm ra những giống đậu tương có năng suất cao, phẩm chất tốt thích nghi với điều kiện sinh thái của các vùng khác nhau. Hiện nay, Nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu giữ chủ yếu ở 15 nước: Đoài Loan, Australia, Trung quốc, Pháp, Nigienia, Ấn đọ, Indonesia, Nhật bản, Triều tiên, Nam Phi, Thủy điển, Thái lan, Mỹ, Liên xô với tổng số 45.
Mỹ là quốc gia luôn dẫn đầu thế giới về năng suất và sản lượng đậu tương. Nhờ các phương pháp chọn lọc và nhập nội, gây đột biến và lai tạo mà họ đã tạo ra được những giống đậu tương mới. Những dòng nhập nội có năng suất cao đều được sủa dụng làm giống gốc trong các chương trinh lai tạo và chọn lọc.000 mẫu giống đậu tương thu thập được từ các nước trên thế giới. Mục tiêu của công tác chọn giống của mỹ là chọn ra những giống đậu tương có khả năng thâm canh cao, phản ứng yếu với yếu tố quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, có hàm lượng protein và lipit cao, đẽ bảo quuản và chế biến.
Trong những năm gần đây Trung quốc cũng đã mạnh dạn ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chọn tạo giống và đã tạo ra được nhiều giống đậu tương rau mới. Bằng phương pháp thực nghiệm tạo ra giống Tiefeng 18 do xử lý bằng tia gamma, có khả năng chịu được phèn cao, không đổ, cho năng suất cao, phẩm chất tốt. Đài Loan đã bắt đầu chương trình chọn tạo giống từ năm 1961 và đưa vào sản xuất các giống đậu tương rau Kaohsing 3, Kaohsiung 7, Kaohsiung c 6 11, Tainung 3, Tainung4. Các giống được xử lý Nơron và tia X cho các giống đột biến Tainung.
Tainung 1 và Tainung 2 có năng suất cao hơn giống khởi đầu và vỏ không bị nứt (Vũ Tuyên Hoàng và cs 1995) [8]. Hiện nay, vùng Đông nam Á cũng là một vùng trọng điểm của công tác phát triển giống đậu tương rau và được ưu tiên hàng đầu trong hệ thống nông nghiệp. Tại Indonesia, các nhà nghiên cứu chọn tạo nhằm mục đích cải tiến giống có năng suất cao trồng được ở vùng đất thấp sau vụ thu hoạch lúa, với thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 70–80 ngày, chống chịu bệnh gỉ sắt và có hạt thon dài (Sumarno và T. 14 giống có năng suất cao đã được tạo ra và được khuyến cáo gieo trồng trong đó có giống Wilis được trồng phổ biến nhất, giống này có thời gian sinh trưởng 85 ngày, năng suất bình quân đạt 2,5 tấn/ha.
Việc cải tiến giống đã góp phần đưa năng suất đạt 2,5 tấn/ha, giống có thời gian sinh trưởng ngắn, thích ứng với môi trường không thuận lợi (đất không cày bừa; đất khó tiêu nước), chất lượng hạt được tăng lên, tăng khả năng chống đổ. Qua chọn lọc mà họ đã chọn ra được một số giống trồng được trên đất ướt sau vụ thu hoạch lúa với việc làm đất và không làm đất trong mùa khô mà vẫn cho năng suất 14,7 - 16,8 tạ/ha như các giống Kerinci, Lompobatang, Rinjani, (Buitrago và cs 1971) [22]. Thái Lan với sự phối hợp giữa hai trung tâm MOAC và SGPRT nhằm cải tiến giống có năng suất cao, chống chịu tốt với một số sâu bệnh hại chính (gỉ sắt, sương mai, vi khuẩn,.) đồng thời có khả năng chịu được đất mặn, chịu được hạn hán và ngày ngắn (Judy W. Trong những năm gần đây Ấn độ tiến hành khảo nghiệm các giống đậu tương địa phương và nhập nội tại trường đại học tổng hợp Pathaga.
Tổ chức c 7 AICRPS (The All India coordinated Research Projeet on Soybean) và NRCS (National Research Center for Soybean) đã tập trung nghiên cứu và đã phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với khí hậu nhiệt đới, và phát hiện ra những giống có tính chống chịu với bệnh khảm virus (Brown D.