đặt vấn đề, bắt chước. đến tự mày mò tìm kiếm các quyển sách, tài liệu để đọc. Nếu một tổ chức có được nhiều người như vậy thì đây là một điều khẳng định chắc chắn sự phát triển bền vững. Tính đồng đội: là khả năng làm việc nhóm, là yêu cầu bắt buộc đối với bất kỳ nhân viên nào trong một tổ chức chuyên nghiệp.
Lợi ích của tính đồng đội vô cùng to lớn, khẳng định văn hóa - “cái hồn” của tổ chức, thể hiện trách nhiệm chung và đến cùng với sứ mệnh của toàn Công ty. Tính đồng đội tạo ra một bầu không khí thân thiện, đoàn kết, ngăn chặn được tính bè phái, cục bộ trong tổ chức. Lòng nhiệt huyết: Đó là sự thể hiện một sức sống tràn trề, sẵn sàng vượt qua tất cả các trở ngại và rào cản. Có lòng nhiệt huyết sẽ chấm dứt sự buồn tẻ và chán nản trong công việc.
Lòng nhiệt huyết có tính chất ảnh hưởng rất cao, nó có thể lôi kéo những người khác thay đổi dần những hành vi chưa phù hợp của mình. Tự nhận thức: Một người thành công là một người trước hết phải biết rõ hơn ai hết về chính bản thân mình, biết được sở trường, sở đoản, điểm mạnh, điểm yếu và tiềm năng. c, Hành vi 16 Hành vi con người là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định. Theo từ điển Tâm lý học Mỹ: “Hành vi là thuật ngữ khái quát chỉ những hoạt động hành động, phản ứng, phản hồi, di chuyển và tiến trình đó có thể đo lường được của bất cứ cá nhân nào”.
Rubinstein, hành vi là hình thức đặc biệt của hoạt động: nó trở thành hành vi khi động cơ hành động từ kế hoạch đối tượng chuyển sang kế hoạch quan hệ nhân cách xã hội (hai kế hoạch này không tách rời nhau: quan hệ nhân cách xã hội được hiện thực hóa ở quan hệ đối tượng) Hành vi được phân loại như sau: - Hành vi bản năng (bẩm sinh di truyền): Thoả mãn nhu cầu sinh lý của cơ thể, có thể là tự vệ, mang tính lịch sử, mang tính văn hoá mỗi quốc gia vùng miền. - Hành vi kỹ xảo: Là hành vi mới tự tạo trên cơ sở luyện tập, có tính mềm dẻo và biến đổi. Nếu được định hình trên vỏ não và củng cố thì sẽ bên vững không thay đổi. - Hành vi đáp ứng: Là hành vi ứng phó để tồn tại, phát triển và là những hành vi ngược lại với sự tự nguyện của bản thân và không có sự lựa chọn.
- Hành vi trí tuệ: Là hành vi đạt được do hoạt động trí tuệ nhằm nhận thức được bản chất của các mối quan hệ xã hội có quy luật của sự vật hiện tượng để đáp ứng và cải tạo thế giới. Như vậy hành vi của con người là một trong 4 yếu tố dễ nhận thấy để đánh giá năng lực của người đó.2 Phương pháp đánh giá Phẩm chất đạo đức người lao động gồm có phẩm chất đạo đức cá nhân và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. 17 Những biểu hiện chính của phẩm chất đạo đức của con người trong công việc là: Luôn hướng thiện, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh; Lao động chăm chỉ, nhiệt tình, cẩn trọng; Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung; Có trách nhiệm với bản thân, với công việc và với doanh nghiệp; Có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường,… Các chỉ tiêu để đo lường chất lượng nguồn nhân lực qua yếu tố phẩm chất đạo đức mang tính định tính, rất khó có thể đánh giá chính xác. Tuy nhiên, có thể sử dụng phương pháp thống kê, điều tra và xác định các chỉ tiêu định hướng, các biểu hiện của người lao động, chẳng hạn như: vắng mặt không lý do; đi muộn về sớm; tham ô; tiết lộ bí mật Công ty; uống bia rượu, hút thuốc lá trong giờ làm việc; cãi nhau, gây gổ với khách hàng, đồng nghiệp;.4 Các chỉ tiêu thuộc về tính năng động xã hội (khả năng sãn sàng làm việc, khả năng cạnh tranh, khả năng thích ứng công việc) Tính năng động xã hội còn gọi là sự cơ động xã hội hay dịch chuyển xã hội, là khái niệm xã hội học dùng để chỉ sự chuyển động của những cá nhân, gia đình, nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội.
Năng động xã hội liên quan đến sự vận động của con người từ một vị trí xã hội này đến một vị trí xã hội khác trong hệ thống phân tầng xã hội. Thực chất năng động xã hội là sự thay đổi vị trí trong hệ thống phân tầng xã hội.Vấn đề năng động xã hội liên quan tới việc các cá nhân giành vị trí, địa vị xã hội, liên quan tới điều kiện ảnh hưởng tới sự biến đổi cơ cấu xã hội. Nội hàm của năng động xã hội: Là sự vận động của cá nhân hay một nhóm người từ vị thế xã hội này sang vị thế xã hội khác; là sự di chuyển của một 18 con người, một tập thể, từ một địa vị, tầng lớp xã hội hay một giai cấp sang một địa vị, tầng lớp, giai cấp khác. Năng động xã hội có thể định nghĩa như sự chuyển dịch từ một địa vị này qua một địa vị khác trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
Đây là một nhân tố rất quan trọng, ảnh hưởng đến nhân lực từ cấp cao đến cấp thấp trong doanh nghiệp; đồng thời còn tác động đến sự gắn bó giữa doanh nghiệp và người lao động. Phần lớn các doanh nghiệp hiện nay, tính năng động xã hội được tính theo các chỉ tiêu sau: Năng động trong thế hệ: là một người thay đổi vị trí nghề nghiệp, nơi ở trong cuộc đời làm việc của mình, có thể cao hơn hoặc kém hơn so với người cùng thế hệ. Năng động xã hội theo chiều ngang dọc: Di động theo chiều ngang: chỉ sự vận động cá nhân giữa các nhóm xã hội, giai cấp xã hội tới một vị trí ngang bằng về mặt xã hội. Trong xã hội hiện đại, di động theo chiều ngang cũng rất phổ biến, nó liên quan đến sự di chuyển địa lý giữa các khu vực, các thị trấn, thành phố hoặc các vùng địa phương; Di động theo chiều dọc: chỉ sự vận động của các cá nhân giữa các nhóm xã hội, giai cấp xã hội tới vị trí, địa vị xã hội có giá trị cao hơn hoặc thấp hơn.
Biểu hiện của hình thức này di động là sự thăng tiến, đề bạt - di động lên; và miễn nhiệm, rút lui, lùi xuống, thất bại - di động xuống. Năng động xã hội theo địa vị xã hội Di động xã hội còn chủ yếu quan tâm tới địa vị đạt được - giành được, chứ không phải là địa vị gán cho - có sẵn; và phân biệt hai loại di động sau: Di động được sự bảo trợ: đạt được địa vị cao bởi nguyên nhân hoàn cảnh gia đình hoặc yếu tố khác không trực tiếp liên quan đến khả năng hoặc nỗ lực, cố gắng của bản thân; Di động do tranh tài: đạt được địa vị cao trên cơ sở của nỗ lực và tài năng bản thân. 19 Năng động xã hội theo cơ cấu xã hội Ngoài các hình thức di động trên, có thể đưa ra hai loại sau: Di động cơ cấu: là sự di động xã hội với tư cách là kết quả của sự thay đổi trong quá trình phân phối các địa vị trong xã hội. Di động cơ cấu diễn ra bất chấp quy tắc thống trị của địa vị; Di động trao động: trong di động này một số người thăng tiến thay vào vị trí của một số người khác di động xuống, kết quả tạo nên sự cân bằng cơ cấu xã hội.
Bằng phương pháp thống kê về vị trí của lao động, về việc thay đổi trong công việc và thái độ làm việc (tính số giờ nghỉ, ngày nghỉ; xem thống kê của quản lý trực tiếp; sự thay đổi trong mức lương…) có thể tính ra được mức chỉ tiêu về năng động xã hội của nhân lực.5 Các chỉ tiêu thuộc về kết quả thực hiện công việc và phương pháp đánh giá.1 Các chỉ tiêu Kết quả thực hiện công việc phảnánh mứcđộ, chất lượng hoàn thành công việc của ngườilaođộng và qua đó phảnánh chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức. Kết quả thực hiện công việc biểu hiện qua chỉ tiêu năng suấtlaođộng, tiền lương và sự thỏa mãn của khách hàng. a) Năng suấtlaođộng Năng suấtlaođộng là hiệu quả hoạtđộng cóích của con người trong mộtđơn vị thời gian. Năng suấtlaođộngđược đo bằng lượng sản phẩm hoặc lượng giá trị sản xuất trong mộtđơn vị thời gian.
Công thức: W=Q/T Trongđó: - Q là Tổng sản lượng (tính bằng hiện vật) hoặc Tổng doanh thu (tính bằng giá trị) - T là tổng thời gian hao phí (ngày, giờ) hoặc tổnglaođộng hao phíđể sản xuất ra lượng sản phẩm (lượng giá trị) trên. 20 b) Tiền lương Tiền lương là số tiền mà ngườilaođộng nhậnđược từ người sử dụng lao động sau khi hoàn thành một công việc nhấtđịnh hoặc sau một thời gian nhấtđịnh. Tiền lương của ngườilaođộng do hai bên thỏa thuận khi ký hợpđồng lao động vàđược trả dựa trên năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Tiền lương càng cao, sự hài lòng trong công việc càng lớn, giờ công và ngày công lãng phí giảm, kết quả thực hiện công việc càng tốt và ngược lại.
Vì vậy, đểđộng viên người lao động, người quản lý cần nhận thứcđúngđắn về vai trò của tiền lươngđối với kết quả thực hiện công việc để có những quyếtđịnh trả lương công bằng, thỏađáng nhằm kích thích người lao động gắn bó, tận tâm với tổ chức. c) Phản hồi của khách hàng Chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ là hai yếu tố khác nhau. Nếu như chất lượng sản phẩmđược đo lường bởi các chỉ tiêu, thông số kỹ thuật cụ thể thì chất lượng dịch vụ lạiđược đánh giá thông qua cảm nhận của khách hàng. Khoảng cách giữa mong muốn và cảm nhận của khách hàng càng nhỏ thì mứcđộ hài lòng của khách hàng với chất lượng dịch vụ càng lớn và ngược lại.Như vậy, phản hồi của khách hàng cóý nghĩa quan trọngđặc biệt trong ngành du lịch dịch vụ - một lĩnh vực có trực tiếp liên quan tới khách hàng.
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ tạo ra giá trị cho khách hàng và ngược lại, chính khách hàng sẽđem lại giá trị cho tổ chức.Chỉ khi được sử dụng sản phẩm cũng như quá trìnhđược tổ chức phục vụ thì khách hàng mớiđánh giáđược chất lượng. Khách hàng khi đến sử dụng sản phẩm, dịch vụ của một tổ chứcđều mong muốnthu lại một lượng giá trị nhấtđịnh.