phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài bao gồm 4 chương: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực Chƣơng 2. Thiết kế và phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng chất lượng nhân lực tại Trung tâm Công nghệ Thông tin của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chƣơng 4.
Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại TT CNTT/BIDV. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Nhân lực là yếu tố quyết định đến thành công và tiến bộ của mỗi quốc gia, trong đó trình độ phát triển nguồn nhân lực là thước đo chủ yếu đánh giá mức độ tiến bộ xã hội, công bằng và phát triển bền vững.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực, hầu hết các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và nhân lực đều có điểm trung là nguồn nhân lực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Từ lâu các nhà kinh tế đã quan tâm đến vai trò của vốn con người trong phát triển kinh tế và trong các quá trình sản xuất kinh doanh (Becker 1962; Kendrick, 1976; Schultz, 1961). Sự gia tăng vốn con người dẫn tới sự gia tăng sản lượng. Từ đó việc nâng cao trình độ kiến thức mọi mặt cho lao động sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất.
Việc nâng cao vốn nhân lực cần tới những khoản đầu tư vào giáo dục. Những sự đầu tư này bao gồm đào tạo trong trường và đào tạo trong quá trình làm việc. Sự nhìn nhận giáo dục là một sự đầu tư bắt nguồn từ thời Adam Smith (1776) trong tác phẩm “ Của cải của các dân tộc” năm 1776 (An Inquiry into the Nature and Causes of The Wealth of Nations) (1776). Từ năm 1980 nền kinh tế thế giới đi vào thời kỳ suy thoái và cạnh tranh khốc liệt mang tính toàn cầu buộc các nhà quản lý doanh nghiệp phải giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh nhưng đồng thời phải đáp ứng được những nhu cầu không ngừng tăng lên của nhân viên.
Đến lúc này các nhà quản trị phải thay đổi hẳn cách nhìn về lao động làm thuê. Trong quá khứ 5 z các nhà quản lý chỉ coi người lao động làm thuê như „ chi phí‟‟ của tổ chức, ngày nay các nhà quản trị ngày càng có xu hướng coi người lao động như tài sản của tổ chức. Vì vậy, họ càng muốn đầu tư vào nguồn lao động với mục tiêu thu được lợi nhuận từ việc đầu tư đó trong tương lai. Vai trò kinh tế của việc học hành tốt hơn và phổ cập hơn, sức khoẻ và dinh dưỡng tốt hơn, và tiến bộ công nghệ đều cho thấy tầm quan trọng của năng lực con người như là tác nhân số một tạo ra sự tiến bộ vật chất.
Vì vậy, Gary Becker, nhà kinh tế học được giải thưởng Noben về kinh tế năm 1992, đã khẳng định rằng “không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn lực con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục”. Hiệu quả đầu tư phát triển con người luôn cao hơn hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác, tiết kiệm được việc sử dụng và khai thác các nguồn lực khác, và có độ lan toả đồng đều hơn so với các hình thức đầu tư khác. Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra sâu rộng và nhanh chóng thì vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển càng rõ nét hơn. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế gần đây đã chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản là: áp dụng công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong đó, yếu tố và cũng là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Ông Miyai, chủ tịch Trung tâm Năng suất Nhật Bản vì sự phát triển Kinh tế xã hội (JPC-SED) đã nhận xét : „theo phân tích và kinh nghiệm của chúng tôi, trong mọi lỗ lực nhằm nâng cao năng suất, phát triển kinh tế xã hội thì yếu tố con người là quan trọng nhất. Một số người cho rằng „vốn‟‟ là yếu tố quan trọng nhất trong phát triển công nghiệp, một số khác lại cho rằng 6 z „công nghệ‟‟ là yếu tố chủ đạo đối với năng suất. Đúng, những yếu tố này rất quan trọng, nhưng vốn có thể sử dụng sai nếu con người lạm dụng nó, và tiêu chuẩn công nghệ cao khó có thể được duy trì nếu không phát triển nguồn nhân lực và nâng cấp thường xuyên nhờ nỗ lực của con người.
Điểm này đặc biệt quan trọng trong thời kỳ phát triển nhanh về công nghệ‟‟. Trong khuôn khổ Hội thảo và triển lãm Banking Vietnam 2016, ông Mauro Israel, chuyên gia an ninh mạng quốc tế ISM Secure đã nhấn mạnh về rủi ro an ninh mạng trong ngành ngân hàng: “Các cuộc tấn công mạng có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn nợ xấu”. Để đảm bảo an ninh mạng cho hệ thống ngân hàng thì vấn đề trọng tâm nhất là phát triển nguồn nhân lực CNTT có trình độ cao. Ngân hàng thế giới (WB) đã tiến hành nhiều vuộc điều tra về nhân lực dưới nhiều góc độ tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong trang wesite www.org có không ít tài liệu về nguồn nhân lực và các bài báo đều phân tích vai trò của nguồn nhân lực với việc phát triển kinh tế - xã hội theo các khía cạnh khác nhau. Và đã đưa ra tiêu chí được coi là thước đo về chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm: Sự nhận thức, kỹ năng làm việc, ứng dụng công nghệ, thái độ, sự tin tưởng, sự nhậy cảm, đặc tính cá nhân… của nhân lực. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Ở Việt Nam, Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phát triển nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời nâng cao chất lượng nhân sự trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia. Một trong các nhiệm vụ chính của ngành ngân hàng hiện nay là đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động nghiệp vụ truyền thống và 7 z các dịch vụ mở mới đã và đang phát triển.
Mặc dù chỉ mới xuất hiện tại Việt Nam khoảng 25 năm qua, nhưng CNTT đã nhanh chóng khẳng định vị thế hàng đầu của một công cụ lao động rất tiện ích, thể hiện cụ thể ở năng xuất, chất lượng và hiệu quả trong các hoạt động của ngành ngân hàng. Để ứng dụng CNTT trong ngân hàng, trước hết cần phải có Nhân lực CNTT. Điều này, ở thời điểm 25 năm trước đây không đơn giản, bởi lúc đó công nghệ Tin học cũng mới xuất hiện ở Việt Nam. Chính vì vậy, trong suốt ¼ thế kỷ qua công tác xây dựng và phát triển Nhân lực CNTT ngành ngân hàng đã được quan tâm, đầu tư quyết liệt.
Đã có nhiều tác giả, công trình nghiên cứu, khảo sát về lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực nói chung và nhân lực CNTT trong ngành ngân hàng nói riêng. Trong cuốn sách “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn” do PGS. Đỗ Minh Cương - TS. Mạc Văn Tiến đồng chủ biên, NXB Lao động – xã hội, 2004).
Bên cạnh việc đi sâu nghiên cứu tìm ra các giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam, các tác giả đã đưa ra các khái niệm nhân lực ở phạm vi vĩ mô và vi mô, kinh nghiệm đào tạo và phát triển lao động kỹ thuật ở một số nước như Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật, Mỹ. Trong giáo trình “ quản trị nguồn nhân lực” của TS. Hà Văn Hội, NXB Bưu điện, 2006 đã đưa ra khái niệm nguồn nhân lực trong tổ chức, chỉ ra quản trị nhân lực ngày nay là một khoa học và đồng thời là một nghệ thuật. Là khoa học vì nó sử dụng những thành tựu của khoa học để nghiên cứu về con người, đục kết nhưng những nguyên tắc mang tính lý luận khoa học trong quản lý con người.
Là nghệ thuật vì quản lý con người không thể tuân thủ những nguyên tắc máy móc, nó đòi hỏi phải linh hoạt, uyển chuyển và phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Là nghệ thuật lãnh đạo, chỉ huy, lôi cuốn con người hoạt động theo mục tiêu chung của tổ chức. Tác giả cũng đưa ra các 8 z phương pháp, cách thức để đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng nhằm đạt được mục tiêu phát triển của doanh nghiệp. Cuốn sách “Lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam” của PGS.
Lê Quân, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015 đã tiếp cận nghiên cứu về lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam trên ba lĩnh vực chính là: Quản trị công ty, quản trị nguồn nhân lực và lãnh đạo. Cuốn sách mô tả công việc của các vị trí quản lý và đưa ra các chỉ số trọng tâm đánh giá hoàn thành của các chức danh lanh đạo trong doanh nghiệp. Cuốn sách cũng giới thiệu khung năng lực chung cho các chức danh lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp. Với các vị trí lãnh đạo cấp cao, năng lực chuyên môn kỹ thuật không đóng vai trò quan trọng so với các lăng lực lãnh đạo, điều hành.
Cụ thể với ngành Ngân hàng, Đáng chú ý là “ Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Ngân hàng giai đoạn 2011 - 2020” ( được ban hành theo quyết định số 219/QĐ-NHNN ngày 09/02/2012 của Thống đốc ngân hàng nhà nước). Trong quyết định đã phân tích hiện trạng nhân lực ngành Ngân hàng Việt Nam, đưa ra phương hướng, các giải pháp và mục tiêu phát triển nhân lực ngành Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Tại hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực CNTT: Chuẩn hóa kĩ năng nhân lực CNTT” do Bộ TT&TT tổ chức tại TP.HCM ngày 6/6/2014 Ông Tô Hồng Nam, đại diện Vụ CNTT, Bộ TT&TT, trong báo cáo của mình tại hội thảo cho biết cần một tiếng nói chung trong thị trường nhân lực CNTT, cần một “thước đo” phẩm chất nhân lực được các bên tham gia thị trường nhân lực CNTT chấp nhận.