Luận Văn Môn Học Kinh Tế Quốc Tế: Nghiên Cứu Cải Cách Nhật Bản

Tìm hiểu bài học kinh tế từ Nhật Bản cho luận văn kinh tế quốc tế. Phân tích mô hình phát triển, chính sách và kinh nghiệm thực tiễn.

Trường đại học

Không rõ

Chuyên ngành

Kinh Tế Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn/Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp

Không rõ

57
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN

1.1. XU HƯỚNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI

1.2. NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN TỪ CUỐI NHỮNG NĂM 1980 ĐẾN NAY

1.3. CẢI CÁCH TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN

1.3.1. Các chính sách và giải pháp tình thế

1.3.2. Các chương trình cải cách kinh tế một cách cơ bản và toàn diện

2. CHƯƠNG II: Đề tài tập trung phân tích, đánh giá các cuộc cải cách tài chính của Nhật Bản và hiệu quả của nó.

3. CHƯƠNG III: Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các cuộc cải cách đó và triển vọng phát triển trong tương lai.

Kết luận, Trên cơ sở kết quả nghiên cứu phần kết luận khẳng định những kết quả đạt được và một số kiến nghị nhằm nâng cao mối quan hệ kinh tế Nhật Bản - Việt Nam trong tương lai.

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Văn Kinh Tế Quốc Tế Bài Học Nhật Bản

Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ, Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức lớn. Để tránh tụt hậu, việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển là vô cùng quan trọng. Nhật Bản, một cường quốc kinh tế với nhiều năm phát triển thần kỳ, là một đối tác tiềm năng và là nguồn bài học kinh nghiệm kinh tế Nhật Bản quý giá. Nhiều quốc gia châu Á đã noi theo mô hình kinh tế Nhật Bản và đạt được thành công. Vì vậy, việc nghiên cứu các chính sách, biện pháp, giải pháp và chiến lược mà chính phủ Nhật Bản đã sử dụng để thúc đẩy phát triển kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam, nhằm tạo ra sự tăng trưởng cao và bền vững cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn này tập trung vào việc cải cách kinh tế Nhật Bản và mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản, với mục tiêu hệ thống hóa các vấn đề liên quan, đánh giá hiệu quả, và đề xuất giải pháp. Cần nhấn mạnh, để phát triển nhanh, Việt Nam cần "Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài" như khẳng định của Đảng. Tham gia vào hội nhập kinh tế thế giới và khu vực là một tất yếu. Luận văn này sẽ góp phần làm sáng tỏ những khía cạnh quan trọng trong quá trình hội nhập đó, tập trung vào kinh tế đối ngoại Nhật Bản. Tuy nhiên, do thời gian và kiến thức hạn chế, nội dung không tránh khỏi thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô.

1.1. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu Luận Văn Kinh Tế Quốc Tế

Luận văn tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề về cải cách kinh tế Nhật Bản, hiệu quả của các cuộc cải cách và sự ảnh hưởng của nó tới Việt Nam. Đánh giá bước đầu hiệu quả của các cuộc cải cách đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản, Việt Nam và một số tồn tại. Trên cơ sở đó để có những giải pháp và tìm ra những ảnh hưởng của các cuộc cải cách đó đối với nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Cơ sở lý luận thực hiện đề tài chủ yếu dựa vào các lý thuyết liên quan đến lợi thế so sánh, lý thuyết về phát triển thương mại quốc tế Nhật Bản trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ngày nay. Luận văn bao gồm các chương: (1) Quá trình cải cách kinh tế của Nhật Bản và tầm ảnh hưởng của nó; (2) Các cuộc cải cách tài chính của Nhật Bản và hiệu quả; (3) Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản và một số giải pháp.

1.2. Tầm quan trọng của Luận Văn Kinh Tế Quốc Tế về Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những nước có tầm ảnh hưởng rất lớn trong nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Việc xem xét, nghiên cứu, tìm hiểu học hỏi những chính sách, biện pháp, giải pháp, chiến lược mà chính phủ Nhật Bản đã sử dụng để đưa nền kinh tế phát triển mạnh mẽ như vậy đối với Việt Nam là rất cần thiết nhằm tạo ra sự tăng trưởng cao và bền vững cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn này sẽ góp phần vào việc phân tích sâu sắc về sự trỗi dậy của kinh tế Nhật Bản, cũng như những thách thức và cơ hội mà Việt Nam có thể tận dụng từ kinh nghiệm này.

II. Thách Thức và Động Lực Cải Cách Kinh Tế tại Nhật Bản 55 Ký Tự

Sau thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao, Nhật Bản đối mặt với nhiều vấn đề đòi hỏi phải điều chỉnh chính sách và tiến hành cải cách trên nhiều lĩnh vực. Cải cách kinh tế Nhật Bản diễn ra từ cuối những năm 80 của thế kỷ 20 đến nay, với nội dung và hình thức phong phú và đa dạng. Các yếu tố bên trong và bên ngoài thúc đẩy cải cách kinh tế Nhật Bản bao gồm: sự đổ vỡ của kinh tế bong bóng, đồng Yên lên giá, hệ thống ngân hàng tài chính lạc hậu, sự già hoá dân số, bộ máy nhà nước yếu kém, tình hình chính trị mất ổn định và tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp. Nội dung cơ bản của cải cách kinh tế ở Nhật Bản bao gồm các chính sách và giải pháp tình thế lẫn các chương trình cải cách kinh tế một cách toàn diện. Đánh giá một số thành công cũng như hạn chế của cải cách kinh tế ở Nhật Bản và vạch ra những vấn đề cần được tiếp tục cải cách.

2.1. Tình trạng suy thoái và khủng hoảng kinh tế Nhật Bản

Từ đầu thập niên 1990 đến nay, nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa thoát hẳn ra khỏi cơn suy thoái kéo dài, cho dù cũng đã có sự tăng trưởng trở lại. Sự phát triển không ổn định đi liền với khủng hoảng suy thoái kéo dài là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế Nhật Bản trong khoảng hơn thập niên vừa qua. Tăng trưởng kinh tế (GDP) của Nhật Bản trong những năm 1990 đã suy giảm liên tục với động thái tăng trưởng rất chậm chạp và thất thường. Kinh tế Nhật Bản tăng trưởng âm liên tục trong 2 năm liền(1997: - 0,7% và 1998: -1,1%). Năm 1999: kinh tế Nhật Bản phục hồi trở lại nhưng tăng trưởng còn mong manh: 0,7%. Năm 2000: kinh tế Nhật Bản tăng trưởng khả quan: 2,4%. Năm 2001: suy giảm kinh tế trở lại với chỉ số tăng trưởng: -0,4%. Về đại thể, các chỉ số tăng trưởng GDP hàng năm trên đây đã phản ánh khái quát nhất về mặt định lượng của cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản kéo dài suốt thập niên 1990 đến nay.

2.2. Ảnh hưởng của Khủng hoảng nợ và các chính sách cải cách

Trong những năm 80 của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng nợ đã làm cho nhiều nước đang phát triền lâm vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Để thoát khỏi khủng hoảng, suy thoái các nước đang phát triển đã phải cải cách kinh tế theo hướng chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mở cửa nền kinh tế, thực hiện chiến lược CNH, hướng về xuất khẩu. Và Nhật Bản cũng không là ngoại lệ. Nếu so với cuộc khuủng hoảng kinh tế 1973 – 1975 của thế giới Tư Bản Chủ Nghĩa, trong đó có Nhật Bản thì mức độ khủng hoảng lần này còn tồi tệ hơn nhiều (cuộc khủng hoảng 1973 – 1975, năm 1973: tăng trưởng GDP của Nhật Bản là 8%, đến năm 1974 tuy có bị giảm đột ngột đến mức – 1,2%, song đến năm 1975, lại khôi phục trở lại ngay với tăng trưởng 3%, tiếp đó năm 1976 là 4%, từ đó bình quân hàng năm cho đến cuối thập niên 1980 đều đạt tăng trưởng khoảng 5%).

III. Chính Sách và Biện Pháp Cải Cách Kinh Tế Của Nhật Bản 59 Ký Tự

Các chính sách và biện pháp cải cách kinh tế Nhật Bản kể từ đầu thập kỷ 1990 có thể chia thành hai nhóm chính: các chính sách và biện pháp mang tính chất tình thế, và các chương trình cải cách kinh tế một cách cơ bản và toàn diện. Các chính sách và giải pháp tình thế tập trung vào việc bơm thêm tiền vào nền kinh tế bằng các chương trình kích thích kinh tế trọn gói, tăng đầu tư vào các công trình công cộng, giảm thuế, giảm tỷ lệ lãi suất chiết khấu chính thức để kích thích nhu cầu trong nước. Các chương trình cải cách kinh tế toàn diện hướng đến việc khắc phục những hạn chế của mô hình kinh tế Nhật Bản trước bối cảnh mới, sự lạc hậu của hệ thống ngân hàng tài chính, và sự cứng nhắc của bộ máy hành chính.

3.1. Các chương trình kích thích kinh tế và cắt giảm thuế

Các chương trình kích thích kinh tế trọn gói là một giải pháp truyền thống mà Chính phủ Nhật Bản thường sử dụng để khác phục khủng hoảng chu kỳ. Kể từ khi nền kinh tế “bong bóng” sụp đổ, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện rất nhiều biện pháp cả gói với tổng chi phí lên tới 107. Đây chính là những biện pháp can thiệp của Chính phủ mà theo lý thuyết của Kêyn thì có thể tạo ra những đòn bẩy cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện giảm thuế thu nhập. Mức thuế thu nhập cao nhất của cả cấp quốc gia và cấp địa phương đã được giảm từ 65% xuống còn 50%. Sự giảm thuế này được hy vọng là sẽ thúc đẩy tiêu dùng cá nhân và kích thích tinh thần làm việc chung. Việc giảm thuế để khuyến khích xây dựng nhà ở cũng đã được tiến hành một cách rộng rãi.

3.2. Các biện pháp giảm lãi suất chiết khấu chính thức

Trước tình trạng sản xuất đình trệ, nhu cầu đầu tư trong nước giảm sút, Chính phủ Nhật Bản đã liên tục giảm lãi suất cho vay chính thức của ngân hàng nhằm kích thích đầu tư. Trong suốt những năm 1990, lãi suất chính thức đã luôn được giảm đi trước tình trạng kinh tế suy thoái. Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã duy trì một tỷ lệ lãi suất thấp tới mức chưa từng có trong lịch sử Nhật Bản (0,5%) trong suốt nhiều năm liên tục và thậm chí hiện nay đã xuống tới mức sấp sỉ con số không nhằm phuch hồi và lấy lại sinh khí cho nền kinh tế.

IV. Cải Cách Cơ Cấu Kinh Tế Giải Pháp Toàn Diện Kinh Tế Nhật

Để thực hiện cải cách cơ cấu kinh tế, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng các giải pháp hỗ trợ đối với một số ngành công nghiệp đang bị sa sút như luyện kim, đóng tàu, hóa chất nhằm ngăn chặn nguy cơ phá sản. Đồng thời, khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghệ mới như ưu đãi về thuế, trợ cấp cho các chương trình và dự án quan trọng có qui mô lớn. Các công ty Nhật Bản cũng đã thực hiện các giải pháp như cắt giảm chi phí sản xuất, thu hẹp và giảm đầu tư vào nhiều khâu sản xuất cần nhiều lao động, tăng cường nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, bán thành phẩm, và linh kiện, tăng cường liên doanh, liên kết với nước ngoài trong việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới.

4.1. Hỗ trợ ngành công nghiệp và khuyến khích đầu tư mới

Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng các giải pháp hỗ trợ đối với một số nghành công nghiệp đang bị sa sút như luyện kim, đóng tầu, hoá chất… nhằm ngăn chặn nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp đang hoạt động trong các lĩnh vực này. Các giải pháp chủ yếu như tài trợ qua ngân sách, kích thích đổi mới trang thiết bị qua thực hiện khấu hao nhanh, áp dụng giải pháp miễn thuế và hỗ trợ thất nghiệp… Mặt khác, Chính phủ đã thực thi các giải pháp để khuyến khích đầu tư vào các nghành công nghệ mới như ưu đãi về thuế để khuyến khích các hoạt động đầu tư nghiên cứu triển khai (R&D), thực hiện trợ cấp cho các chương trình và dự án quan trọng có qui mô lớn, và các dự án trong các lĩnh vực mới có nhiều rủi ro.

4.2. Thay đổi trong quản lý và tái cơ cấu doanh nghiệp

Cùng với các biện pháp kích cầu của Chính phủ, các công ty Nhật Bản đã thực hiện hàng loạt các giải pháp như cắt giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí lao động. Tiến hành thu hẹp và giảm đầu tư vào nhiều khâu sản xuất cần nhiều lao động, không còn cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, đồng thời chuyển chúng sang các nước Đông Á. Tăng cường nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, bán thành phẩm, và linh kiện, đặc biệt là những sản phẩm được sản xuất từ những cơ sở chế tạo của Nhật Bản ở nước ngoài và nâng cao hơn nữa giá cả hàng xuất khẩu để bù lại những thiệt hại do sư tăng giá của đồng Yên gây ra.

V. Cải Cách Tài Chính Big Bang Đột Phá Trong Kinh Tế Nhật Bản

Trong lĩnh vực tài chính, "Bing Bang" được coi là một trong những cuộc cải cách có vị trí quan trọng hàng đầu. Đây là một cuộc cải cách toàn diện, sâu sắc, và triệt để với mục tiêu cơ bản là: làm cho thi trường tài chính Nhật Bản năng động hơn, linh hoạt hơn, tự do hơn, minh bạch, chuẩn mực hơn và có thể sánh vai với những trung tâm tài chính lớn như New York và Luân Đôn. Những nội dung chủ yếu của cuộc cải cách này là mở rộng sự lựa chọn cho các nhà đầu tư và những người đi vay, cải tiến chất lượng phục vụ của các trung gian tài chính và thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, phát triển một thị trường đem lại nhiều lợi ích hơn, thiết lập những khung khổ pháp lý và những quy định đáng tin cậy cho sự giao dịch bình đẳng, minh bạch.

5.1. Mở rộng lựa chọn và cải tiến chất lượng dịch vụ tài chính

Chính phủ Nhật Bản đã ban hành và thực hiện hàng loạt các chính sách và biện pháp cải cách cụ thể đối với từng lĩnh vực của hệ thống tài chính. Trong đó, đặc biệt là các chính sách cơ cấu lại Bộ Tài Chính, chính sách tăng cường vai trò của Ngân hàng trung ương Nhật Bản, chính sách cơ cấu lại các ngân hàng thương mại, chính sách nới lỏng các quy chế tạo điều kiện cho sự phát triển của các thị trường vốn độc lập và sự thâm nhập vào các công việc kinh doanh lẫn nhau của các cơ quan tài chính nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của chúng.

5.2. Nới lỏng quy chế và cải thiện khung pháp lý tài chính

Trên cơ sở những hướng cải cách cơ bản nói trên, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành và thực hiện hàng loạt các chính sách và biện pháp cải cách cụ thể đối với từng lĩnh vực của hệ thống tài chính. Trong đó, đặc biệt là các chính sách cơ cấu lại Bộ Tài Chính, chính sách tăng cường vai trò của Ngân hàng trung ương Nhật Bản, chính sách cơ cấu lại các ngân hàng thương mại, chính sách nới lỏng các quy chế tạo điều kiện cho sự phát triển của các thị trường vốn độc lập và sự thâm nhập vào các công việc kinh doanh lẫn nhau của các cơ quan tài chính nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của chúng.

VI. Bài Học và Thành Công Bước Đầu Của Cải Cách Kinh Tế Nhật

Nhìn một cách tổng thể, cải cách kinh tế Nhật Bản đã thu được những kết quả tương đối khả quan. Các cuộc cải cách này đã và đang dẫn tới những thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế Nhật Bản, làm cho khu vực tài chính Nhật Bản đã trở lên có sức cạnh tranh mạnh hơn và, sự thâm nhập của nước ngoài vào nền kinh tế Nhật Bản cũng trở nên ít khó khăn hơn. Các cuộc cải cách này cũng đã dẫn tới sự cơ cấu lại các công ty và sự phát triển mạnh của các thị trường vốn độc lập. Sự ra đời của một ban giám đốc độc lập và quyền lợi của các cổ đông là những vấn đề đáng chu ý hiện nay ở các công ty Nhật Bản.

6.1. Điều chỉnh cơ cấu và phát triển khu vực kinh tế tư nhân

Các cuộc cải cách này đã và đang dẫn tới những thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế Nhật Bản, làm cho khu vực tài chính Nhật Bản đã trở lên có sức cạnh tranh mạnh hơn và, sự thâm nhập của nước ngoài vào nền kinh tế Nhật Bản cũng trở nên ít khó khăn hơn. Khu vực tài chính Nhật Bản trở nên có sức cạnh tranh mạnh hơn và sự thâm nhập của nước ngoài vào khu vực này cũng trở nên ít khó khăn hơn. Các nhà lãnh đạo kinh doanh của khu vực tư nhân đã phần nào lấy lại được lòng tin trong việc đưa khu vực tư nhân thành khu vực đi đầu trong việc đem lại sự phục hồi kinh tế cho Nhật Bản.

6.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành và thành tựu trong cải cách tài chính

Nhiều ngành công nghiệp mới đã ra đời và phát triển như: Thông tin liên lạc, viễn thông, điện tử và điện dân dụng…, nhiều ngành công nghiệp truyền thống đã được điều chỉnh theo hướn thu hẹp sản xuất, hoặc liên doanh liên kết, hoặc tăng cường năng lực sản xuất nhằ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh như: ôtô, sắt thép, xây dựng. Cuộc cải cách hệ thống tài chính Nhật Bản đã thu được những kết quả bước đầu như vai trò và chức năng của hai cơ quan chủ yếu trong hệ thống tài chính là Bộ Tài chính (MOF) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã có sự thay đổi về cơ bản với việc tăng cường tính độc lập và quyền tự quyết của BOJ trong việc quản lý và thực hiện chính sách tiền tệ.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN I. XU HƯỚNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu hướng quan trọng trong hoạt động kinh tế quốc tế. Các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) cùng với việc tranh thủ thu hút các nguồn vốn để phát triển cũng khuyến khích, đẩy mạnh việc quan hệ hợp tác với các nước phát triển trên thế giới nhằm học hỏi kinh nghiệm cũng như mở rộng thị trường, tận dụng các nguồn tài nguyên, lao động, tăng nguồn thu lợi nhuận cũng như tăng cường ảnh hưởng với các nước khác và. Chính vì những lẽ đó mà đã có rất nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra, tổng kết những kinh nghiệm, những vấn đề lý luận, thực tiễn và dự báo về xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới trong đó có Nhật Bản và Việt Nam.

NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN TỪ CUỐI NHỮNG NĂM 1980 ĐẾN NAY Nhật Bản, một nước nghèo tài nguyên, không thể đánh mất bất kỳ một cơ hội thương mại quốc tế nào nếu đó là cơ hội để phát triển kinh tế và duy trì một mức sống cao. Các chính sách liên quan tới thương mại và đầu tư do vậy đã chiếm một vị trí nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế. Sau thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao, ở Nhật Bản đã nảy sinh hàng loạt vấn đề đòi hỏi nhà nước phải điều chỉnh chính sách và tiến hành cải cách trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa… Phạm vi của đề tài được xác định là những cải cách được tiến hành ở Nhật Bản từ cuối những năm 80 của thế kỷ 20 đến nay. Những cải cách này đã, đang và sẽ được tiến hành với nội dung và hình thức rất phong phú và đa dạng, chưa biết được thời gian kết thúc.

- Những yếu tố (bên trong và bên ngoài) thúc đẩy Nhật Bản cải cách. Đó là sự đổ vỡ của kinh tế bong bóng, đồng Yên lên giá, hệ thống ngân hàng tài chính lạc hậu, sự già hoá dân số, bộ máy nhà nước yếu kém, tình 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình chính trị mất ổn định và tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp tác động mạnh tới kinh tế, xã hội Nhật Bản. - Những nội dung cơ bản của cải cách kinh tế ở Nhật Bản, trong đó bao gồm các chính sách và giải pháp tình thế lẫn các chương trình cải cách kinh tế một cách toàn diện. Đồng thời, đánh gia một số thành công cũng như hạn chế của cải cách kinh tế ở Nhật Bản và cuối cùng vạch ra những vấn đề cần được tiếp tục cải cách.

Trong những năm 80 của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng nợ đã làm cho nhiều nước đang phát triền lâm vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Để thoát khỏi khủng hoảng, suy thoái các nước đang phát triển đã phải cải cách kinh tế theo hướng chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mở cửa nền kinh tế, thực hiện chiến lược CNH, hướng về xuất khẩu. Và Nhật Bản cũng không là ngoại lệ, từ đầu thập niên 1990 đến nay, nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa thoát hẳn ra khỏi cơn suy thoái kéo dài, cho dù cũng đã có sự tăng trưởng trở lại của nền kinh tế với chỉ số dự đoán khoảng 2,4% năm 2003 (tạp chí “Times” số tháng 10/2003). Sự phát triển không ổn định đi liền với khủng hoảng suy thoái kéo dài là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế Nhật Bản trong khoảng hơn thập niên vừa qua.

khởi đầu của sự phất triển đó được đánh dấu bởi sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bóng Nhật Bản vào đầu thập niên 1990. Tăng trưởng kinh tế (GDP) của Nhật Bản trong những năm 1990 đã suy giảm liên tục với động thái tăng trưởng rất chậm chạp và thất thường. Cụ thể như sau: - Từ 1990 đến 1996: với động thái tăng trưởng kinh tế: 0,5%; 0,6%; 2,8%; và 3,2%. - Từ 1997 đến 1999: tiến dần đến tình trạng trầm trọng của khủng hoảng.

Khủng hoảng kinh tế Nhật Bản được gắn liền với ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông á (1997 – 1998). Lần đầu tiên kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, kinh tế Nhật Bản tăng trưởng âm liên tục trong 2 năm liền(1997: - 0,7% và 1998: -1,1%).Năm 1999: kinh tế Nhật Bản phục hồi trở lại nhưng tăng trưởng còn mong manh: 0,7%. - Năm 2000: kinh tế Nhật Bản tăng trưởng khả quan: 2,4%. - Năm 2001: suy giảm kinh tế trở lại với chỉ số tăng trưởng: -0,4%.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Năm 2002 đến nay: đang phục hồi yếu 1,6%. Về đại thể, các chỉ số tăng trưởng GDP hàng năm trên đây đã phản ánh khái quát nhất về mặt định lượng của cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản kéo dài suốt thập niên 1990 đến nay. Nếu so với cuộc khuủng hoảng kinh tế 1973 – 1975 của thế giới Tư Bản Chủ Nghĩa, trong đó có Nhật Bản thì mức độ khủng hoảng lần này còn tồi tệ hơn nhiều (cuộc khủng hoảng 1973 – 1975, năm 1973: tăng trưởng GDP của Nhật Bản là 8%, đến năm 1974 tuy có bị giảm đột ngột đến mức – 1,2%, song đến năm 1975, lại khôi phục trở lại ngay với tăng trưởng 3%, tiếp đó năm 1976 là 4%, từ đó bình quân hàng năm cho đến cuối thập niên 1980 đều đạt tăng trưởng khoảng 5%). Đó là biểu hiện tổng quát nhất của khủng hoảng kinh tế Nhật Bản qua động thái suy giảm của tăng trưởng GDP hàng năm.

CẢI CÁCH TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN Các chính sách và biện pháp cải cách kinh tế ở Nhật Bản kể từ đầu thập kỷ 1990 đến nay có thể được chia thành hai cum chính sách và biện pháp chủ yếu, đó là các chính sách và biện pháp mang tính chất tình thế, và các chương trình cải cách kinh tế một cách cơ bản và toàn diện. Các chính sách và giải pháp tình thế Trước tình trạng suy thoái kinh tế nghiêm trọng và kéo dài, đồng yên bất ổn định, sự yếu kém của hệ thống ngân hàng – tài chính, và các vấn đề kinh tế – xã hội khác, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện khá nhiều chính sách và giải pháp tạm thời để khôi phục và lấy lại sức sống cho nền kinh tế. Các chính sách và biện pháp loại này thực ra đã được áp dụng nhiều lần trong các thập kỷ trước đây khi nền kinh tế Nhật Bản có biểu hiện suy thoái theo chu kỳ. Nội dung chủ yếu của nó là bơm thêm tiền vào nền kinh tế bằng các chương trình kích thích kinh tế trọn gói, tăng đầu tư vào các công trình công cộng, giảm thuế, giảm tỷ lệ lãi suất chiết khấu chính thức,… nhằm kích thích nhu cầu trong nước.

6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các chương trình kích thích kinh tế trọn gói: Đây là một giải pháp truyền thống mà Chính phủ Nhật Bản thường sử dung để khác phục khủng hoảng chu kỳ. Đó là việc dựa vào ngân sách bổ sung hoặc các chương trình kích thích kinh tế trọn gói nhằm kích cầu trong nước thông quq việc mỏ rộng các công trình công cộng. Kể từ khi nền kinh tế “bong bóng” sụp đổ, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện rất nhiều biện pháp cả gói với tổng chi phí lên tới 107. Đây chính là những biện pháp can thiệp của Chính phủ mà theo lý thuyết của Kêyn thì có thể tạo ra những đòn bẩy cho nền kinh tế.

- Cắt giảm thuế và xoá matt phần nợ cho các công ty kinh doanh bất động sản: Đây cũng là một giải pháp quan trọng nhằm trợ giúp các công ty đang đứng trước bờ vực thẳm của sự phá sản sau sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng. Ví dụ, Nội các của thủ tướng Obuchi đã thực hiện giảm thuế thu nhập 9. Mức thuế thu nhập cao nhất của cả cấp quốc gia và cấp địa phương đã được giảm từ 65% xuống còn 50%. Sự giảm thuế này được hy vọng là sẽ thúc đẩy tiêu dùng cá nhân và kích thích tinh thần làm việc chung.

Việc giảm thuế để khuyến khích xây dựng nhà ở cũng đã được tiến hành một cách rộng rãi. Hơn nữa, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định giảm tỷ lệ thuế kinh doanh kết hợp cả quốc gia và địa phương từ mức 46,36% xuống 40,87% tương đương với 2,4 tỷ tỷ Yên (0,4% GDP). Thông qua các cuộc cải cách và giảm thuế này, Chính phủ hy vọng giảm gánh nặng thuế xuống bằng mức trung bình của các nước đã công nghiệp hoá. Cùng với quá trình này, việc lập quyết định về ngân sách quốc gia và cải cách thuế đã đưa vấn đề cơ cấu vào bàn nghị sự.

Chính phủ đã tăng ngân sách về nghiên cứu cơ bản và phát triển 8,1%, các thiết bị thông tin như máy vi tính, máy photcoppy kỹ thuật số, và máy điện thoạ kỹ thuật số sẽ được thanh lý ngay nếu chúng ít hơn 1 triệu Yên. Để khuyến khích sử dụng các loại ô tô có hiệu quả và ít gây ô nhiễm môi trường, thuế xe khách và các loại xe tải tương tự sẽ được giảm đi. Nhằm khuyến khích việc quốc tế hoá đồng Yên, Chính phủ đã ban hành hệ thống bỏ thầu mở đối với các trái phiếu ngắn hạn, đây là matt hình 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức miễn thuế thu nhập đặc biệt đối với các trái phiếu Chính phủ cho những người không phải cư dân Nhật Bản. Chính phủ cũng đã quyết định huỷ bỏ thuế giao dịch chứng khoán và ban hành một hệ thống thuế đã được củng cố trong năm 2001.

- Giảm lãi suất chiết khấu chính thức: Trước tình trạng sản xuất đình trệ, nhu cầu đầu tư trong nước giảm sút, Chính phủ Nhật Bản đã liên tục giảm lãi suất cho vay chính thức của ngân hàng nhằm kích thích đầu tư. Đây cũng là một trong những hướng cơ bản của chính sách kích cầu trong nước. Trong suốt những năm 1990, lãi suất chính thức đã luôn được giảm đi trước tình trạng kinh tế suy thoái. Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã duy trì một tỷ lệ lãi suất thấp tới mức chưa từng có trong lịch sử Nhật Bản (0,5%) trong suốt nhiều năm liên tục và thậm chí hiện nay đã xuống tới mức sấp sỉ con số không nhằm phuch hồi và lấy lại sinh khí cho nền kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ