Đánh giá tình hình khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai tại huyện Xuân Lộc

Luận văn thạc sĩ phân tích, đánh giá thực trạng khai thác tài chính từ đất đai tại huyện Xuân Lộc, Đồng Nai, đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

96
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá tiềm năng khai thác tài chính đất đai Xuân Lộc

Khai thác tài chính đất đai là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là nguồn lực tài chính quan trọng, đóng góp trực tiếp vào ngân sách nhà nước huyện Xuân Lộc. Việc huy động hiệu quả nguồn lực này giúp địa phương có thêm vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị và thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Luận văn của tác giả Phạm Văn Hải (2018) đã chỉ ra rằng, giai đoạn 2014-2017, nguồn thu từ đất chiếm tỷ trọng từ 18,83% đến 26,17% tổng thu ngân sách, cho thấy vai trò không thể thiếu của công cụ tài chính đất đai. Tuy nhiên, để tối ưu hóa nguồn thu này, cần có một hệ thống chính sách tài chính đất đai đồng bộ và công tác quản lý đất đai minh bạch. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng, chỉ ra những tồn tại và đề xuất giải pháp nhằm biến tiềm năng đất đai thành nguồn lực tài chính bền vững, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của huyện. Việc hiểu rõ các hình thức huy động như thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, và các loại thuế sử dụng đất là nền tảng để xây dựng chiến lược khai thác hiệu quả, phù hợp với định hướng quy hoạch sử dụng đất Đồng Nai.

1.1. Cơ sở lý luận về nguồn lực tài chính từ đất đai

Nguồn lực tài chính từ đất đai được định nghĩa là toàn bộ giá trị tiền tệ có thể huy động được từ quỹ đất thông qua các cơ chế, chính sách của Nhà nước. Về bản chất, đây là quá trình chuyển hóa giá trị tiềm năng của đất thành nguồn vốn thực tế phục vụ phát triển. Các hình thức huy động chính bao gồm: thu tiền sử dụng đất khi giao đất hoặc chuyển mục đích sử dụng; thu tiền thuê đất đối với các tổ chức, cá nhân; thu các loại thuế liên quan như thuế sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp; và các khoản phí, lệ phí địa chính. Đây là những công cụ tài chính đất đai cơ bản mà Nhà nước, với vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân, sử dụng để điều tiết thị trường và tạo nguồn thu cho ngân sách. Lý luận Mác – Lênin cũng nhấn mạnh việc quốc hữu hóa đất đai nhằm mục đích tập trung nguồn lực phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội.

1.2. Vai trò của tài chính đất đai với kinh tế xã hội

Nguồn lực tài chính từ đất đai đóng vai trò đa chiều. Thứ nhất, nó là nguồn thu quan trọng, giúp tăng quy mô ngân sách nhà nước, giảm bớt sự phụ thuộc vào các nguồn thu khác và giảm thâm hụt ngân sách. Thứ hai, đây là công cụ để Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước về đất đai, điều tiết thị trường bất động sản Xuân Lộc, hạn chế đầu cơ và sử dụng đất lãng phí. Khi người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính, họ sẽ có ý thức nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Thứ ba, nguồn thu này được tái đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật và xã hội, làm tăng giá trị đất đai, tạo ra một vòng tuần hoàn phát triển bền vững. Chính việc đầu tư này lại tạo ra cơ sở để tiếp tục khai thác nguồn lực tài chính ở mức cao hơn trong tương lai, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội toàn diện.

II. Phân tích thách thức khai thác tài chính đất đai Xuân Lộc

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác khai thác tài chính đất đai tại Xuân Lộc vẫn đối mặt với không ít thách thức. Những bất cập này làm giảm hiệu quả huy động nguồn lực và tiềm ẩn nguy cơ gây thất thoát ngân sách. Luận văn của Phạm Văn Hải (2018) đã chỉ rõ các hạn chế cốt lõi. Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật về chính sách tài chính đất đai chưa hoàn toàn đồng bộ, đôi khi còn chồng chéo, gây khó khăn trong áp dụng thực tiễn. Thứ hai, công tác quản lý đất đai còn tồn tại yếu kém, đặc biệt trong việc định giá đất. Giá đất Xuân Lộc do nhà nước quy định thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường, dẫn đến thất thu lớn trong các giao dịch chuyển nhượng, bồi thường giải phóng mặt bằng, và tính tiền sử dụng đất. Thứ ba, quy hoạch chưa mang tính chiến lược dài hạn, việc điều chỉnh còn bị động. Thủ tục hành chính liên quan đến đất đai còn phức tạp, kéo dài, ảnh hưởng đến quyền lợi người dân và nhà đầu tư. Những vấn đề này đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ để công tác quản lý nhà nước về đất đai đi vào chiều sâu và thực sự hiệu quả.

2.1. Hạn chế trong công tác quản lý quy hoạch sử dụng đất

Công tác lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất Đồng Nai tại huyện Xuân Lộc còn một số hạn chế. Việc dự báo nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, lĩnh vực đôi khi chưa sát với thực tế, dẫn đến tình trạng quy hoạch treo hoặc phải điều chỉnh thường xuyên. Sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch ngành khác (xây dựng, giao thông) gây ra xung đột và lãng phí nguồn lực. Bên cạnh đó, việc công khai thông tin quy hoạch chưa thực sự hiệu quả, tạo kẽ hở cho các hoạt động đầu cơ, mua bán đất không theo quy hoạch, làm méo mó thị trường bất động sản Xuân Lộc và gây khó khăn cho công tác quản lý.

2.2. Bất cập trong định giá đất và bồi thường giải phóng

Đây là một trong những thách thức lớn nhất. Khung giá đất Xuân Lộc do UBND tỉnh ban hành định kỳ thường không theo kịp biến động của thị trường. Điều này tạo ra sự chênh lệch lớn giữa giá nhà nước và giá thực tế, gây thất thu ngân sách khi tính tiền sử dụng đất, thuế chuyển quyền và đặc biệt là khi thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất. Ngược lại, trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, giá đền bù thấp gây ra khiếu kiện kéo dài, làm chậm tiến độ các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Cơ chế xác định giá đất cụ thể cho từng dự án còn phức tạp và thiếu minh bạch, cần được cải cách để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.

III. Đánh giá thực trạng khai thác tài chính đất đai Xuân Lộc

Giai đoạn 2014-2017, huyện Xuân Lộc đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc khai thác nguồn thu từ đất. Theo số liệu từ luận văn, tổng thu từ đất đai liên tục tăng và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong ngân sách nhà nước huyện Xuân Lộc, từ 18,83% năm 2014 lên đến 26,17% năm 2017. Điều này khẳng định đất đai là nguồn lực nội tại quan trọng, góp phần đảm bảo tự chủ ngân sách và đầu tư phát triển. Trong cơ cấu các khoản thu, tiền sử dụng đất luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất, dao động từ 37,97% đến 68,27%. Nguồn thu này chủ yếu đến từ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Các khoản thu khác như tiền thuê đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, lệ phí trước bạ cũng có xu hướng tăng trưởng ổn định. Kết quả này phản ánh nỗ lực của địa phương trong việc tăng cường quản lý đất đai và thực thi chính sách tài chính đất đai theo Luật Đất đai 2013, từng bước đưa việc sử dụng đất vào khuôn khổ pháp luật và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

3.1. Phân tích cơ cấu các nguồn thu từ đất giai đoạn 2014 2017

Trong giai đoạn 2014-2017, cơ cấu nguồn thu từ đất tại Xuân Lộc thể hiện rõ sự phụ thuộc lớn vào khoản thu từ tiền sử dụng đất. Cụ thể, nguồn thu này tăng mạnh nhờ vào các hoạt động hợp thức hóa quyền sử dụng đất và chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất ở. Tiền thuê đất cũng tăng đều, phản ánh sự phát triển của các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn. Trong khi đó, thuế sử dụng đất nông nghiệp có xu hướng giảm do chính sách miễn, giảm của nhà nước nhằm khuyến khích sản xuất. Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ cũng là nguồn thu đáng kể, gắn liền với sự sôi động của thị trường bất động sản Xuân Lộc.

3.2. So sánh đóng góp vào ngân sách nhà nước huyện Xuân Lộc

So với các nguồn thu khác, tài chính đất đai đã chứng tỏ vai trò trụ cột. Tỷ trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước huyện Xuân Lộc luôn ở mức cao và ổn định. Nguồn lực này đã giúp huyện triển khai nhiều dự án hạ tầng quan trọng như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, góp phần hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới. Việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn này không chỉ cải thiện diện mạo địa phương mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho đất đai, là tiền đề để tiếp tục khai thác hiệu quả hơn trong các giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, sự phụ thuộc lớn vào các khoản thu không thường xuyên như tiền sử dụng đất cũng đặt ra thách thức về tính bền vững của nguồn thu ngân sách.

IV. Top giải pháp tối ưu khai thác tài chính đất đai Xuân Lộc

Để nâng cao hiệu quả và đảm bảo tính bền vững trong khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, huyện Xuân Lộc cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Dựa trên phân tích thực trạng, luận văn đã đề xuất các phương pháp then chốt. Quan trọng nhất là phải hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính đất đai theo hướng sát với cơ chế thị trường. Cần xây dựng một cơ chế định giá đất độc lập, chuyên nghiệp để giá đất Xuân Lộc phản ánh đúng giá trị thực, từ đó tăng nguồn thu từ tiền sử dụng đất và thuế, đồng thời giải quyết các vướng mắc trong bồi thường giải phóng mặt bằng. Bên cạnh đó, công tác quản lý đất đai phải được tăng cường, đặc biệt là việc công khai, minh bạch hóa quy hoạch sử dụng đất Đồng Nai. Đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến đất đai sẽ tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý dữ liệu đất đai cũng là một giải pháp đột phá, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.

4.1. Hoàn thiện chính sách và công cụ tài chính đất đai

Cần rà soát, sửa đổi các quy định về chính sách tài chính đất đai cho phù hợp với thực tiễn địa phương. Nên nghiên cứu áp dụng các sắc thuế tài sản đối với nhà và đất để tạo nguồn thu ổn định, thay vì phụ thuộc vào các khoản thu một lần. Mở rộng các hình thức khai thác như đấu giá quyền sử dụng đất một cách công khai, minh bạch cho các khu đất có giá trị thương mại cao. Nguồn thu từ đất cần được quản lý trong một quỹ phát triển đất riêng, ưu tiên tái đầu tư cho hạ tầng và công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tạo ra một chu trình phát triển bền vững.

4.2. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý

Chất lượng của quy hoạch sử dụng đất Đồng Nai cần được nâng cao, đảm bảo tầm nhìn dài hạn và tính khả thi. Quy hoạch phải gắn liền với tiềm năng, lợi thế của huyện và định hướng phát triển kinh tế xã hội. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, sử dụng đất sai mục đích. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai số hóa, công khai bản đồ quy hoạch chi tiết trên các nền tảng trực tuyến để người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, giám sát, qua đó hạn chế tiêu cực và góp phần làm lành mạnh hóa thị trường bất động sản Xuân Lộc.

4.3. Đào tạo nhân lực và cải cách thủ tục hành chính

Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai là yếu tố then chốt. Cần tổ chức các khóa đào tạo, cập nhật kiến thức pháp luật, nghiệp vụ định giá đất, quản lý quy hoạch. Đồng thời, quyết liệt đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm bớt các giấy tờ không cần thiết, ứng dụng công nghệ để người dân có thể thực hiện các thủ tục trực tuyến sẽ giúp giảm chi phí, tăng sự hài lòng và thúc đẩy các giao dịch đất đai diễn ra minh bạch, hiệu quả hơn.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm cơ bản về nguồn lực tài chính từ đất đai 1. Nguồn lực tài chính từ đất đai Đất đai là một trong những nhân tố cơ bản của sự tồn tại quốc gia, đó là vật thể tự nhiên không do con người tạo ra tuy có thể làm thay đổi trong quá trình sử dụng (được tưới tiêu, lấn biển, xây dựng nhà ở, đô thị.), chính nhờ vậy mà đất đai trở nên có giá trị [2].

Dưới góc độ tự nhiên, đất đai là một tài nguyên thiên nhiên có giá trị cao; dưới góc độ kinh tế, đặc biệt là kinh tế thị trường, đất đai là nguồn lực đầu vào để sản xuất hàng hóa nên đất đai phải có giá phù hợp với quy luật giá trị của thị trường. Do đó, việc khai thác giá trị này trong một điều kiện, quy định cụ thể sẽ đem lại lợi ích to lớn cho một quốc gia, một vùng hay một địa phương, tạo nên một nguồn lực to lớn phục vụ cho nhiệm vụ phát triển KT-XH, quốc phòng an ninh. Với phạm vi của đề tài, nguồn lực là một hệ thống những yếu tố của tự nhiên hay xã hội nhằm mục đích cho sự phát triển của xã hội loài người. Tùy thuộc vào trình độ phát triển của xã hội mà cách nhìn nhận và tiếp cận về nguồn lực cũng khác nhau.

Theo nhận thức về nguồn lực trong giai đoạn hiện nay thì nguồn lực có thể được phân chia thành: Nguồn lực con người, nguồn lực đất đai, nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học kỹ thuật. Tài chính là hệ thống quan hệ kinh tế biểu hiện trong lĩnh vực hình thành và phân phối quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm xây dựng và phát triển xã hội. Nguồn lực tài chính hiểu một cách khái quát nhất là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ được hình thành trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ KT-XH trong phân phối nhằm đáp ứng các yêu cầu chi tiêu bằng tiền để thực hiện quá trình tái sản xuất các mặt hoạt động của các chủ thể trong xã hội [16]. Nguồn lực tài chính được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, nó tùy thuộc vào nguồn gốc hình thành và các chủ thể thực hiện.

Trong lịch sử phát triển của loài người, cùng với sự hình thành và phát triển của các hình thái KT-XH khác nhau, việc thực thi và sử dụng các nguồn lực khác nhau nhằm mục đích phát triển KT-XH tùy thuộc vào từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử, nhưng tựu trung, nguồn lực tài nguyên luôn có một vai trò hết sức quan trọng, là tiền đề, cơ sở để phát triển các nguồn lực khác, các giá trị khác, nhất là đối với đặc thù của 5 nền kinh tế thị trường [16]. Trong tổng thể các nguồn lực tài nguyên thì nguồn lực từ đất đai chiếm một vai trò rất quan trọng và mức độ ảnh hưởng của nguồn lực từ đất đai phụ thuộc vào trình độ phát triển KT-XH của từng quốc gia, lãnh thổ. Từ vị thế đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai ngày càng được nhìn nhận ở những vị trí, vai trò khác nhau, nhất là vai trò của đất đai trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Đất đai xuất hiện như là một loại hàng hóa đặc biệt, được xem là vật ký quỹ tốt nhất trong nền kinh tế thị trường phát triển.

Đất đai là một nguồn lực kinh tế cơ bản và quyết định của hoạt động kinh tế, vì vậy đất đai cũng như các nguồn lực kinh tế khác phải mang các quan hệ kinh tế, đồng thời vận động theo những quy luật và cơ chế kinh tế thích ứng [17]. Tài chính và nguồn lực tài chính phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội mà đặc trưng là biểu hiện của quan hệ phân phối, tuy nhiên, bản chất của sự phân phối là phân phối giá trị, do đó, nó chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế thị trường vì nền kinh tế thị trường mới có khả năng biến đổi nguồn lực này trở thành hàng hóa. Nguồn lực tài chính từ đất đai là nguồn lực tài chính được hình thành từ nguồn lực đất đai thông qua quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong một xã hội nhất định và chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu của xã hội đó[17]. Như vậy, có thể hiểu một cách tổng quát là: Nguồn lực tài chính từ đất đai là nguồn lực tài chính được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường, hiểu một cách thuần nhất là có sự xuất hiện của thị trường đất đai (thị trường bất động sản).

Bản chất của nguồn lực tài chính từ đất đai Về bản chất, nguồn lực tài chính từ đất đai phản ánh quan hệ phân phối giá trị để hình thành quỹ tiền tệ thông qua quan hệ giữa các chủ thể về đất đai trong một điều kiện cụ thể, trong từng giai đoạn lịch sử xã hội khác nhau thì cơ chế lợi ích và quan hệ đất đai của chế độ xã hội đó quyết định. Trong nền kinh tế thị trường phát triển, nguồn lực tài chính từ đất đai phụ thuộc vào chế độ sở hữu đất đai, nếu là chế độ sở hữu đất đai tư nhân, nguồn lực đất đai chỉ được phục vụ cho một số ít bộ phận xã hội. Ngược lại, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai thì nguồn lực tài chính từ đất đai phục vụ cho lợi ích đa số, tức là lợi ích chung cho toàn xã hội [17]. Trong giai đoạn hiện nay, tùy thuộc vào chế độ xã hội của mỗi nước mà quan hệ đất đai được quy định khác nhau.

Ở các nước TBCN, đất đai thuộc sở hữu tư nhân là chủ yếu nên nguồn lực tài chính từ đất đai cũng vì thế khác biệt so với hình thức đất đai sở hữu của toàn dân như ở nước ta hiện nay. 6 Mặc dù có sự khác biệt cơ bản về chế độ phân phối giá trị, tuy nhiên, nguồn lực tài chính từ đất đai luôn luôn được tập trung khai thác và huy động ngày càng cao và triệt để, nhất là đối với nền kinh tế thị trường nhằm phục vụ lợi ích của chủ thể sở hữu về đất đai [18]. Đặc điểm của nguồn lực tài chính từ đất đai Nguồn lực tài chính từ đất đai có những đặc điểm cơ bản sau: - Nguồn lực tài chính từ đất đai chỉ xuất hiện khi xuất hiện và hình thành trong cơ chế kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, của cải mang hình thái hàng hóa và sự vận động của kinh tế chính là sự vận động của giá trị.

Trên cơ sở phân tích khái niệm và bản chất của nguồn lực tài chính từ đất đai, có thể thấy, nguồn lực tài chính từ đất đai biểu hiện dưới hình thái phân phối giá trị (thực chất là thông qua dưới dạng tiền tệ), mà phát triển cơ chế phân phối hàng hóa thông qua giá trị (tiền tệ) chỉ được đáp ứng và vận hành trong nền kinh tế thị trường. Còn ở nền kinh tế tự cung tự cấp, việc phân phối sản phẩm chủ yếu với mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng trong một chừng mực nhất định. Sự phân công lao động và chuyên môn hóa chưa cao nên quan hệ giá trị hàng hóa chưa được phát triển. Vì thế nguồn lực tài chính từ đất đai cũng không thể phát triển [16].

- Quan hệ sở hữu đất đai quyết định đến nguồn lực tài chính từ đất đai Trong nền kinh tế thị trường, để xác lập giá trị hàng hóa thì yếu tố quan trọng là phải xác định chế độ sở hữu hàng hóa. Việc thiết lập cơ chế sở hữu là điều kiện bắt buộc để hình thành và phát triển các quyền và lợi ích có liên quan, giúp cho chủ sở hữu khai thác một cách triệt để lợi ích của hàng hóa [16]. Như vậy, nguồn lực tài chính từ đất đai cũng không nằm ngoài yếu tố về chủ sở hữu. Khi xác lập chủ sở hữu về đất đai, nó quyết định đến việc nguồn lực tài chính từ đất đai được huy động và sử dụng như thế nào, phục vụ lợi ích cho ai.

Lý thuyết về hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai Tùy thuộc vào đặc điểm, chế độ xã hội khác nhau mà có các hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai khác nhau. Tuy nhiên, căn bản và phổ biến nhất là thông qua khai thác địa tô, từ mức độ xác định địa tô, giá cả ruộng đất để xác định những quỹ tiền tệ hay các nguồn lực tài chính khác phục vụ cho nhu cầu phát triển của các chủ thể quản lý. Trong mối quan hệ giá cả ruộng đất, mức địa tô và tỷ suất lợi tức nhận gửi của ngân hàng thể hiện qua công thức cơ bản sau: 7 Mức địa tô Giá cả ruộng đất = K x Tỷ suất lợi tức nhận gửi của ngân hàng Ở các nước tư bản, giá cả ruộng đất được xem là giá bán đất, còn mức địa tô tương ứng với mỗi giờ thuê đất. Về cơ bản, việc thực hiện các hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai là chủ thể sở hữu về đất đai thực hiện các biện pháp quản lý của mình nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của mình từ đất đai.

Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu cho nên việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai trên thực tế là quan hệ giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể khác của xã hội được giao QSDĐ theo quy định của pháp luật. Khoản 1, điều 54, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Đất đai, tài nguyên, tài nguyên khoán sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý, tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý…”. Từ đó, Nhà nước thống nhất quản lý về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, giao đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và nhất là các chính sách tài chính về đất đai trong phạm vi của cả nước nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh của đất nước [13]. Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ rõ, cần phải bỏ hình thức sở hữu tư nhân về đất đai, C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ