Chương 1: Những vấn đề cơ bản về xếp hạng tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài Gòn. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Nam Sài Gòn. 1 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức XHTD doanh nghiệp trên thế giới Lịch sử “credit rating” - XHTD doanh nghiệp đã được bắt đầu vào thế kỷ 20.
Từ năm 1909, công ty John Moody của Mỹ đã bắt đầu cho việc XHTD, công ty này chuyên xếp hạng trái phiếu ngành đường sắt sau đó mở rộng ra xếp hạng ngành công nghiệp. Tiếp theo đó, các công ty XHTD lần lượt ra đời như công ty Standard and Poor’s (1922) chuyên xếp hạng trái phiếu công ty, trái phiếu chính quyền địa phương, thương phiếu và các quỹ trái phiếu; công ty Fich Investor Service (1924); công ty xếp hạng trái phiếu Canada – Canadian Bond Rating service (1972) đây được coi là tổ chức xếp hạng lớn đầu tiên vào thời điểm lúc bấy giờ; tổ chức xếp hạng trái phiếu Nhật Bản – Japanese Bond Rating Instiute (1975); công ty Duff and Phelps (1982). Trước năm 1970, các tổ chức XHTD này hoạt động vẫn chỉ ở quy mô nhỏ chỉ có một số ít các nhân viên phân tích, điển hình như công ty Standard and Poor’s chỉ có khoảng 30 nhân viên phân tích trong ngành công nghiệp. Nhưng từ sau năm 1970, sự phát triển của các tổ chức XHTD đã phát triển mạnh mẽ và mang tính toàn cầu hóa, quy mô chất lượng của các công ty này được nâng lên rõ rệt.
Năm 1995, công ty Standard and Poor’s từ 30 nhân viên phân tích thì đã tăng lên thành 800 nhân viên phân tích trong tổng số 1.200 nhân viên của công ty và đã xếp hạng khoảng 30.000 loại trái phiếu, cổ phiếu được phát hành bởi hơn 4.000 công ty trên khắp thế giới. Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, các nước thuộc khu vực ASEAN cũng bắt đầu thành lập các tổ chức XHTD cho riêng mình, ra đời sớm nhất là ở Philippnes (1982); kế đó là Malaysia (1991); Việt Nam (9/1992) với tên Phòng thông tin phòng ngừa rủi ro (TPR) thuộc Vụ tín dụng – Ngân hàng nhà nước; Thái Lan (1993); Indonesia (1995). Mục tiêu của các tổ chức tín dụng thuộc khối ASEAN là xác định 2 quy tắc hoạt động trong khu vực, thúc đẩy sự hợp tác và hỗ trợ giữa các đơn vị thành viên, chia sẻ thông tin và nghiệp vụ chuyên môn thông qua các chương trình huấn luyện và xử lý các thông tin tài chính trong doanh nghiệp giữa các nước. Các tổ chức XHTD ngày càng được khẳng định vai trò và vị trí quan trọng của mình trong sự phát triển của nền kinh tế của các quốc gia và của cả toàn thế giới.
Với điều kiện kinh tế và xu hướng hội nhập kinh tế như hiện nay thì các tổ chức này càng có nhiều điều kiện để phát triển và hoàn thiện nghiệp vụ chuyên môn của mình.2 Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại các NHTM 1.1 Định nghĩa XHTD doanh nghiệp “Credit rating” được dịch với nhiều nghĩa khác nhau như xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng tín dụng, định mức tín dụng, định mức tín nhiệm, đánh giá tín nhiệm, …trong luận văn thống nhất sử dụng thuật ngữ là xếp hạng tín dụng vì khái niệm này được xem xét khi đứng dưới góc độ của ngân hàng do đó mục đích của xếp hạng tín nhiệm cũng là những mục đích của xếp hạng tín dụng. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp phát sinh từ thị trường chứng khoán, và đã có lịch sử lâu đời. Thuật ngữ “credit rating” lần đầu được dùng cách đây hơn 100 năm khi công ty Moody’s phát hành định kỳ các chỉ số thông tin tín nhiệm của các doanh nghiệp trong ngành đường sắt của Mỹ. XHTD doanh nghiệp chỉ phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 – 1933 khi hàng loạt các công ty vay nợ bị phá sản, vỡ nợ.
Thời kỳ này chính phủ Hoa Kỳ đã có nhiều quy định về việc cấm các định chế tài chính bỏ vốn đầu tư mua trái phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức an toàn trong bảng XHTD. Những quy định này làm cho uy tín của các công ty XHTD ngày một lên cao. Trong suốt hơn 50 năm, việc XHTD chỉ được phổ biến ở Mỹ, chỉ từ những năm 1970 đến nay, dịch vụ XHTD mới mở rộng và phát triển khá mạnh ở nhiều nước. Công ty Moody’s cùng với Standard &Poor (một bộ phận của tập đoàn MC Graw-Hill) và Fitch, 3 công ty này đang là những cái tên quen thuộc trong ngành XHTD doanh nghiệp.
3 Các hệ thống hạn mức tín dụng thường được xếp hạng theo thứ tự chữ cái A,B,C,D thông thường gồm 10 loại định mức tín nhiệm từ AAA đến D. Trong đó AAA là định mức tín dụng cao nhất trong hệ thống định mức tín dụng. Các doanh nghiệp được xếp hạng AAA có khả năng hoàn trả cao nhất các nghĩa vụ tài chính của mình và doanh nghiệp hạng D nghĩa là doanh nghiệp đó đã thực sự phá sản. Có nhiều khái niệm khác nhau về xếp hạng tín dụng: Theo định nghĩa được chấp nhận rộng rãi: “xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là việc đưa ra ý kiến về khả năng của doanh nghiệp trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính cả trong ngắn hạn và dài hạn” Theo công ty xếp hạng tín dụng chuyên nghiệp Standard & Poor’s (S&P): “xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là việc đánh giá uy tín tín dụng tổng quát của doanh nghiệp dựa trên các yếu tố rủi ro chủ yếu và phù hợp”.
Theo công ty Moody’s : “xếp hạng tín dụng là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khỏan nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ đó” Theo Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI): “ xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là đánh giá khả năng của doanh nghiệp thực hiện thanh toán đúng hạn một nghĩa vụ tài chính” Theo các nhà nghiên cứu về tài chính: “Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là đánh giá hiện thời về khả năng, tính sẵn sàng của doanh nghiệp về việc hoàn trả tiền gốc và lãi của một khoản nợ nhất định, là kết quả tổng hợp các đánh giá rủi ro về kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp trong thời hạn thanh toán món nợ”. Tóm lại, tuy có nhiều khái niệm khác nhau về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhưng các khái niệm này đều có điểm chung như sau “xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là đánh giá về khả năng tài chính, tình hình hoạt động hiện thời cũng như trong tương lai của doanh nghiệp trong việc thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết tài chính trong một khoảng thời gian nhất định” 4 1.2 Đặc điểm của XHTD doanh nghiệp Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp có các đặc điểm sau: Một là, XHTD doanh nghiệp được tiến hành dựa trên những thông tin thu thập từ những DN được XHTD và những nguồn thông tin được coi là đáng tin cậy. Hai là, XHTD doanh nghiệp không phải là một sự giới thiệu để mua hay bán một đối tượng nào đó mà XHTD doanh nghiệp chỉ thực hiện chức năng độc lập là đánh giá mức độ rủi ro tín dụng hay mức độ tín nhiệm của một DN được xếp hạng. Ba là, kết quả XHTD doanh nghiệp chỉ là một tiêu chí phục vụ cho quá trình đưa ra các quyết định đối với DN và có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định.
Như vậy, XHTD doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng, nhưng không thể thay thế hoàn toàn cho việc thuyết minh về tính đáng tin cậy của doanh nghiệp được xếp hạng.3 Vai trò của XHTD doanh nghiệp Trong thời đại toàn cầu hóa, các mối quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại trên thế giới ngày càng trở nên tinh vi, nhạy cảm, phức tạp và ngày càng gắn kết phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động tài chính – ngân hàng cũng bị ràng buột chặt chẽ bởi xu thế của những quan hệ này. Mỗi sự thành công hay thất bại, hoặc chỉ một sự cố nghiêm trọng nào đó xảy ra đối với các ngân hàng, tổ chức tài chính của một quốc gia, có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của các tổ chức tài chính khác của các quốc gia đó, thậm chí có thể ảnh hưởng dây chuyền tới các tổ chức tài chính của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Cuộc khủng hoảng tài chính trong những năm gần đây trong khu vực là một minh chứng rõ rệt về sự yếu kém, bất cập trong công tác quản lý rủi ro đối với diễn biến phức tạp của thị trường, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của các nước thành viên.
Hệ thống XHTD doanh nghiệp là một phương thức quản lý rủi ro tín dụng tiên tiến hiện đang được áp dụng tại nhiều ngân hàng lớn trên thế giới. Đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, hiệu quả của việc XHTD doanh nghiệp là một điều kiện tiên quyết để các NHTM Việt Nam nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh của mình 5 Giúp ngân hàng có thể lựa chọn đƣợc những khách hàng cho vay tốt, nâng cao hiệu quả của quy trình cho vay Khi có hệ thống XHTD doanh nghiệp, ngân hàng có thể căn cứ vào kết quả xếp hạng tín dụng để lựa chọn khách hàng đặt quan hệ. Chỉ những khách hàng có kết quả xếp hạng từ một mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận được mới xem xét cho vay. Với việc sử dụng hệ thống XHTD doanh nghiệp có thể giúp ngân hàng giảm thời gian và chi phí xử lý cũng như đối với việc ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng.
Giúp ngân hàng xây dựng chính sách khách hàng: Dựa vào kết quả XHTD doanh nghiệp, ngân hàng sẽ có những chính sách riêng đối với từng nhóm khách hàng, cụ thể: - Chính sách cấp tín dụng: tùy thuộc vào thứ hạng của doanh nghiệp sau khi XHTD mà ngân hàng sẽ cung cấp các sản phẩm tín dụng như cho vay ngắn hạn theo hạn mức, cho vay ngắn hạn theo món, cho vay dự án trung dài hạn,…. - Chính sách lãi suất: căn cứ vào kết quả xếp hạng ngân hàng sẽ đưa ra các mức lãi suất khác nhau cho từng nhóm khách hàng.