Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Kỹ năng sống Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành quan tâm chủ yếu tới cung cấp kiến thức cho học sinh. Chương trình như vậy được xây dựng theo hướng tiếp cận nội dung dạy học, khác với một chương trình được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực, tức là xuất phát từ các năng lực mà mỗi học sinh cần có trong cuộc sống và kết quả cuối cùng phải đạt các năng lực ấy bằng việc xây dựng chuẩn đầu ra về năng lực mà học sinh cần phải đạt được sau một quá trình dạy - học.
Hiện nay KNS có nhiều quan niệm khác nhau và mỗi quan niệm lại được diễn đạt theo những cách khác nhau. Theo UNESCO (2003) quan niệm: KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày [51]. Theo WHO (1993): KNS là năng lực tâm lý xã hội, là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về 10 thể chất, tinh thần và xã hội. KNS là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này [56]. Theo UNICEF (UNICEF Thái Lan, 1995): KNS là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống.
Các KNS nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng [51]. Trong luận văn này, khái niệm KNS được hiểu với nội hàm: Khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Giáo dục kỹ năng sống Xã hội hiện đại luôn đòi hỏi con người có những kỹ năng ứng phó trước những tình huống xảy ra trong cuộc sống nên việc rèn luyện cho học sinh các kỹ năng mềm là nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống. Điều này giúp trang bị cho các em những kiến thức giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp; từ đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong cuộc sống; tạo cơ hội cho các em có khả năng xử lý mọi vấn đề xảy ra trong sinh hoạt hàng ngày.
GDKNS là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến các mặt hoạt động người học nhằm giúp họ có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với các hoạt động lao động, của cá nhân người học với mọi người xung quanh và của cá nhân với chính mình, 11 giúp cho nhân cách mỗi người học ở một mức độ nào đó được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống [38]. Đối với học sinh, nhất là học sinh bậc THCS, GDKNS là hoạt động trang bị những tri thức giúp học sinh hình thành những KNS cần thiết, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của con người với môi trường sống. Thông qua GDKNS sẽ trang bị thêm cho học sinh những kỹ năng tự chủ, kỹ năng nói không, khả năng tự đưa ra quyết định và thích nghi, biết chấp nhận, hóa giải được những tác động tiêu cực trong cuộc sống chung quanh. GDKNS cho học sinh nhằm thực hiện mục tiêu sau: Chuyển dịch kiến thức (cái chúng ta biết), thái độ và giá trị (cái chúng ta nghĩ, cảm thấy hoặc tin tưởng) thành thao tác, hành động và thực hiện thuần thục các thao tác, hành động đó như khả năng thực tế (cái cần làm và cách thức làm nó) theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng.
Nội dung GDKNS cho học sinh tập trung vào các kỹ năng tâm lý – xã hội là những kỹ năng được vận dụng để tương tác với người khác và giải quyết có hiệu quả các vấn đề của cuộc sống. Việc hình thành các kỹ năng sống luôn gắn kết với việc hình thành các kỹ năng học tập và được vận dụng phù hợp với lứa tuổi, điều kiện sống,. GDKNS có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội. Từ những vấn đề phân tích ở trên, chúng ta có thể thống nhất với kết luận: “GDKNS là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp”.
Quản lý giáo dục kỹ năng sống Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường, trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [36, tr. Theo Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [30, tr. GDKNS là “dạy người” với mục tiêu hình thành các thói quen, hành vi, thái độ tích cực trong việc ứng xử mọi tình huống của cuộc sống và tham gia đời sống xã hội. Đây là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, đòi hỏi nhà giáo dục phải kiên trì, sáng tạo; đối tượng giáo dục chỉ có thể hình thành được KNS thông qua tham gia hoạt động thực tiễn, tự trải nghiệm, tự rèn luyện để hoàn thiện nhân cách, bổ sung kinh nghiệm sống [5].
Quản lý GDKNS là hệ thống các hoạt động chỉ đạo, điều hành có chủ đích của nhà quản lý tác động lên đối tượng quản lý có liên quan nhằm đảm bảo cho hoạt động giáo dục đào tạo đi đúng hướng, phù hợp với mục tiêu, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sự phát triển chung của xã hội. Trên cơ sở khái niệm GDKNS, quản lý, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm quản lý GDKNS cho học sinh được hiểu là những hoạt động của người hiệu trưởng trong việc huy động các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực…) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của GDKNS, qua đó góp phần hình thành một nhân cách toàn diện cho học sinh. Quản lý GDKNS trong nhà trường cần: Xây dựng kế hoạch hành động về GDKNS lồng ghép với chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp, kế hoạch 13 dạy học chính khóa, kế hoạch hoạt động Đoàn, Đội; Xây dựng các chủ đề GDKNS cho học sinh phù hợp với tình hình thực tiễn của nhà trường; Tổ chức, triển khai tiến hành GDKNS trong hoạt động ngoài giờ lên lớp; kết hợp với các bộ môn trong giờ chính khóa; các hoạt động Đoàn, Đội ; Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả những giờ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn Giáo dục công dân giảng dạy KNS ở một số lớp cụ thể; Tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm hằng năm ở trường. Giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học môn Ngữ văn cho học sinh các trường trung học sơ sở 1.
Mục tiêu, nội dung của giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học môn Ngữ văn cho học sinh các trường trung học sơ sở Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển của người học và nhu cầu hội nhập quốc tế, và nhằm tiếp cận kĩ năng: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống, giáo dục phổ thông đã và đang từng bước đổi mới theo hướng từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Nhận thức rõ tầm quan trọng, cần thiết của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông nói chung, Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống lồng ghép trong các môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học. Ở trường THCS hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy học, rèn kĩ năng cho người học là vấn đề quan trọng và cần thiết. Cũng như bao nhiêu môn học khác, Ngữ văn đóng vai trò quan trọng giúp rèn luyện đạo đức, tình cảm, lối sống.
Châm ngôn có câu “Văn học là nhân học” vì trong sự phát triển 14 của tư duy con người, Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, giữ tầm khá quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm của học sinh, nó có mối quan hệ với các môn học khác. Học tốt Ngữ văn, cũng sẽ là động lực học tốt các môn khác và ngược lại, nền tảng cho việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh, yêu cầu của việc dạy hiện nay cũng cần “ Học đi đôi với hành” cần tăng cường gắn kết với giáo dục thực tiễn them phong phú, thêm sinh động cho tiết học .