Chương 1 sẽ tổng hợp các lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và trình bày khung phân tích của luận văn. Chương 2 sẽ nối tiếp trình bày phương pháp nghiên cứu và phân tích dữ liệu để kiểm định mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Chương tiếp theo trình bày kết quả nghiên cứu của luận văn và các thảo luận về kết quả này. Cuối cùng sẽ là phần tổng kết nghiên cứu và trình bày các gợi ý chính sách, dựa vào kết quả của nghiên cứu trong chương trước.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về mặt sản lượng của một nền kinh tế (Soubbotina, 2004). Tăng trưởng kinh tế thông thường được đo lường bằng phần trăm thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Cũng theo Soubbotina (2004), tăng trưởng kinh tế có thể đến từ hai nguồn gốc, bao gồm tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu. Tăng trưởng theo chiều rộng (extensive growth) đạt được khi một nền kinh tế sử dụng nhiều hơn các nguồn lực sản xuất (vốn vật chất, vốn con người, lao động), trong khi đó, tăng trưởng theo chiều sâu đạt được khi một nền kinh tế sử dụng cùng một số lượng các nguồn lực này một cách hiệu quả hơn (tiến bộ công nghệ).
Đã có rất nhiều nghiên cứu, cả lý thuyết lẫn thực nghiệm bàn về các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế. Đầu tiên, mô hình tăng trưởng Harrod – Domar khẳng định rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tiết kiệm và năng suất của vốn. Trong mô hình Solow, bên cạnh các yếu tố như tích lũy vốn và tăng trưởng dân số, tiến bộ công nghệ là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế. Mankiw và cộng sự (1992) cho rằng quá trình tích lũy vốn con người, cũng như quá trình tích lũy vốn vật chất, có đóng góp tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
Gần đây, Acemoglu và cộng sự (2003) khám phá ra rằng thể chế kinh tế cũng có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Barro (1996) bằng nghiên cứu thực nghiệm đã tìm ra bằng chứng cho ảnh hưởng của các yếu tố như tuổi thọ và học vấn cao của người dân, tỷ lệ sinh sản thấp, chi tiêu chính phủ, khả năng khuyến khích của luật pháp và sự cải thiện 5 trong tỷ giá thương mại. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn này tập trung phân tích tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế với các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm được trình bày trong phần tiếp theo.2 Trung gian tài chính – tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế Trung gian tài chính (Financial intermediaries) hay còn gọi là các thể chế tài chính (Financial instituition) cùng với thị trường tài chính, công cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính tạo nên một hệ thống tài chính hoàn chỉnh. Trung gian tài chính bao gồm ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển và các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
Trung gian tài chính là tổ chức có chức năng chính là huy động vốn từ người tiết kiệm và chuyển lượng vốn này đến các nhà đầu tư. Chức năng của trung gian tài chính bao gồm: huy động tiết kiệm, đánh giá dự án, quản lý rủi ro, giám sát và đánh giá các giao dịch tài chính (Schumpeter, 1911). Thông qua cơ chế hoạt động của mình, các trung gian tài chính góp phần đánh giá và phân bổ nguồn vốn xã hội cho các dự án mang lại hiệu quả kinh tế từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.1 Vai trò của trung gian tài chính (Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, chương trình Fullbright) 6 Quan điểm “phát triền về hệ thống tài chính (development hypothesis) mà còn được gọi là quan điểm “tự do mới” coi hệ thống tài chính có một tầm quan trọng đáng kể đối với phát triển kinh tế. Những người theo quan điểm này cho rằng việc không có một hệ thống tài chính phát triển làm hạn chế tăng trưởng kinh tế và do vậy, chính sách nhà nước phải hướng tới khuyến khích sự tăng trưởng của hệ thống tài chính.
Quan điểm ngược lại (và có lẽ là quan điểm tương đối cực đoan) thì lại cho rằng hệ thống tài chính chỉ có một vai trò rất nhỏ trong quá trình phát triển của các khu vực sản xuất và rằng hệ thống tài chính chẳng qua là chỉ tạo ra các cơ hội cho khu vực tư nhân kiếm được lợi nhuận hay chịu thua lỗ. quan điểm “sòng bạc” (casino hypothesis) này về hệ thống tài chính cho rằng nhà nước hoàn toàn không cần chú ý tới hệ thống tài chính hay thậm chí còn có thể coi đó là có hại cho tăng trưởng và phân phối thu nhập vì vậy cần kiềm chế hay quốc hữu hóa. Thông qua các dịch vụ của mình, trung gian tài chính đóng vai trò thiết yếu cho sự đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế (Schumpeter, 1911). Phát triển trung gian tài chính có liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng GDP bình quân đầu người, tỷ lệ tích lũy vốn vật chất, và tăng hiệu quả thu hút vốn vật chất của nền kinh tế (King & Levine 1993).
Trung gian tài chính có tác động tích cực đến nhân tố năng suất tổng hợp (TFP), tăng trưởng vốn vật chất và tăng tỷ lệ tiết kiệm tư nhân (Beck, Levine & Loayza 2000).2 Vai trò của hệ thống tài chính (Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, chương trình Fullbright) 7 2.3 Các chỉ số đo lường phát triển tài chính Một hệ thống tài chính phát triển được đo lường thông qua sự phát triển của trung gian tài chính hay độ sâu của trung gian tài chính (financial deepening). Theo King và Levine (1993), độ sâu tài chính được đo lường bằng các chỉ số như: tỷ số tiền thanh khoản của hệ thống tài chính cho nền kinh tế (M3/GDP-LLY - Liquid Liabilities of the financial system to GDP), chỉ số tiền gửi ngân hàng nội địa trên tổng tiền gửi ngân hàng nội địa và ngân hàng trung ương, chỉ số tín dụng phi tài chính khu vực tư nhân trên tổng tín dụng nội địa, và Tỷ lệ tín dụng được cấp cho khu vực tư nhân trên GDP. Vai trò của các ngân hàng thương mại với các ngân hàng trung ương Trong một nghiên cứu khác, Levine (1997) đã đo lường mức độ phát triển tài chính bằng các chỉ số bao gồm: tính thanh khoản của hệ thống tài chính (tiền và thanh khoản của các trung gian tài chính ngân hàng và phi ngân hàng) trên GDP, DEPTH. mức độ phân bổ tín dụng của ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại (BANK): được đo bằng tỷ lệ của tín dụng ngân hàng trên tín dụng ngân hàng và tài sản nội địa của ngân hàng trung ương, tỷ lệ tín dụng được phân bổ cho các công ty tư nhân trên tổng tín dụng nội địa (loại trừ tín dụng được cấp cho ngân hàng), PRIVATE.
tỷ lệ tín dụng cho các công ty tư nhân trên GDP, PRIVY. 8 Bên cạnh đó, X là ma trận của các biến kiểm soát bao gồm thu nhập bình quân, học vấn, ổn định chính trị, tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại, tài chính và chính sách tiền tệ. Khác với hai nghiên cứu đề cập ở trên, các tác giả Beck, Levine và Loayza (2000) định nghĩa biến tín dụng tư nhân (Private Credit) bằng tín dụng được các trung gian tài chính cấp cho khu vực tư nhân trên GDP, không bao gồm tín dụng được cấp bởi ngân hàng trung ương và ngân hàng phát triển. Khan và Senhadji (2003) đề xuất đo lường phát triển tài chính bằng bốn chỉ số fd1 là tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP; fd2 bằng fd1 cộng với tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán trên GDP; fd3 bằng fd2 cộng với tỷ lệ vốn hóa thị trường trái phiếu trên GDP; và fd4 hay stockc chỉ số vốn hóa thị trường chứng khoán.
Levine (1998) chỉ ra rằng thông qua tác động gián tiếp của hệ thống luật pháp, các quốc gia có hệ thống luật pháp nhấn mạnh quyền lợi của người cho vay sẽ có hệ thống ngân hàng phát triển hơn các quốc gia khác, từ đó dẫn đến tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP cao hơn so với các quốc gia có hệ thống luật pháp kém phát triển hơn. Trong mối quan hệ tương quan giữa phát triển tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế, ông sử dụng biến BANK để đo lường tỷ lệ tín dụng của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác cho khu vực tư nhân trên GDP.4 Các thước đo phát triển kinh tế, nguồn lực phát triển kinh tế Để kiểm định mối quan hệ thực nghiệm của phát triển trung gian tài chính theo chiều sâu và tăng trưởng kinh tế, Levine (1997) đã đo lường các chỉ số tăng trưởng kinh tế như sau: Tỷ lệ tăng trưởng trung bình GDP bình quân đầu người. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình vốn cổ phần bình quân đầu người. 9 Tăng trưởng tổng năng suất, là phần dư trong mô hình Solow được tính bằng tăng trưởng GDP bình quân đầu người trừ 0.3 lần tỷ lệ tăng trưởng trung bình vốn cổ phần bình quân đầu người.
Bên cạnh tăng trưởng GDP bình quân đầu người (GYP), King và Levine (1993) phân tích tăng trưởng kinh tế thành tăng trưởng vốn vật chất và các yếu tố khác bằng phương trình: Y = kα x Trong đó: Y là tăng trưởng GDP bình quân đầu người, k là tăng trưởng vốn vật chất bình quân đầu người, x là biến chỉ các nguồn lực khác. Lấy logarit từ mô hình trên ta được: GYP = α.GK + EFF Trong đó: GYP là tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong dài hạn, GK là tỷ lệ tăng trưởng của vốn vật chất bình quân đầu người, EFF được xem như phần dư – biến hiệu quả, là tỷ lệ tăng trưởng của các yếu tố còn lại bao gồm có tốc độ tăng trưởng công nghệ, tích lũy vốn vật chất, sự gia tăng giờ làm việc của mỗi công nhân, sự gia tăng các yếu tố đầu vào. Bên cạnh đó, Levine (1997) và Levine & Zervos (1998) đã sử dụng các chỉ số tăng trưởng như sau: tỷ lệ tăng trưởng trung bình của GDP bình quân đầu người, tỷ lệ trung bình của tăng trưởng vốn chứng khoán bình quân đầu người, nhân tố năng suất tổng hợp và tổng kiết kiệm tư nhân để do lường tăng trưởng.