PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Viện trợ phát triển và vay ưu đãi (sau đây gọi tắt là vốn vay nước ngoài) là nguồn vốn mà Việt Nam luôn chú trọng huy động và sử dụng để phục vụ nhu cầu phát triển. Vốn vay nước ngoài là nguồn vốn cho đầu tư phát triển (ĐTPT) quan trọng để bổ sung cho nguồn vốn huy động trong nước – vốn còn rất hạn chế và không đủ đáp ứng nhu cầu về vốn ngày càng cao để phát triển kinh tế. Tỷ trọng vốn vay nước ngoài chiếm khoảng 15-17% tổng số vốn đầu tư từ ngân sách giai đoạn 2000-2010.
Trong đó, Nhật Bản hiện đang là nhà cung cấp vốn vay nước ngoài lớn nhất của Việt Nam. Trong giai đoạn 2011-2015, theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), vốn vay Nhật Bản chiếm khoảng 40% tổng số vốn vay nước ngoài của Việt Nam, tiếp sau đó là Ngân hàng thế giới (World Bank - WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (Asia Development Bank - ADB). Vốn vay Nhật Bản được thu hút và sử dụng tương đối hiệu quả trong các dự án ở Việt Nam trong giai đoạn trước. Nhờ đó, nguồn vốn này đã có đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Có thể thấy rõ nhất ở các công trình hạ tầng giao thông có vốn Nhật Bản đã được xây dựng và đi vào hoạt động thuận lợi như Nhà ga T2 – cảng hàng không quốc tế Nội Bài và cầu Nhật Tân đường nối đến sân bay Nội Bài (năm 2015), đường cao tốc Long Thành – Dầu Giây (thuộc dự án đường bộ cao tốc Bắc – Nam năm 2015) v. Tuy nhiên, tính chất của vốn vay nước ngoài nói chung có xu hướng thay đổi mạnh khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, bởi điều kiện vay vốn này sẽ có điều chỉnh đáng kể. Cụ thể, kỳ hạn cho vay trước đây thường khoảng 30 năm, nhưng khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, kỳ hạn cho vay của các dự án có thể chỉ còn 10-15 năm, như vậy chi phí huy động đã tăng từ 2 đến 3 lần. Ở các giai đoạn trước, lãi suất vay ưu đãi thường dưới 2%, khoảng hơn 1% với các dự án dài hạn.
Song khi trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, Việt Nam có khả năng phải vay với lãi suất cao hơn, được dự đoán khoảng 3,5% trở lên cho đến bằng mức lãi suất thị trường. 2 Trong khi đó, kể từ năm 2010, nợ công của Việt Nam cũng đang tăng nhanh. Giai đoạn 2011-2015, nợ công của Việt Nam so với GDP đã tăng từ 54,9% lên đến 61% (mức tăng 111%) theo số liệu của Bộ Tài chính. Nhiều quan điểm nghiên cứu cho rằng vay nước ngoài làm gia tăng nợ công, đặc biệt là nợ nước ngoài do hỗ trợ không hoàn lại chỉ chiếm 4% trong tổng số vốn vay, phần còn lại là vay ưu đãi.
Bên cạnh việc chi phí vay trong các dự án sử dụng vốn vay nước ngoài đang tăng lên, còn phải kể đến những điều kiện ràng buộc khác đi kèm với một số khoản vay như chỉ định thầu, ưu tiên máy móc, thiết bị từ quốc gia tài trợ vốn, sử dụng tư vấn, giám sát, thiết kế cũng từ quốc gia tài trợ… Ngoài ra, trong một số dự án, chi phí thực tế bị đội lên khiến cho chi phí toàn dự án lại đắt hơn khi không vay nước ngoài. Vốn vay nước ngoài từ trước đến nay là nguồn vốn dễ tiếp cận, nhưng việc huy động nguồn vốn này cũng còn nhiều hạn chế như trách nhiệm vay của các bên chưa được xác định hoàn toàn đầy đủ, cơ chế quản lý chưa toàn diện nên các nghiên cứu cho rằng tình hình xung quanh vay nợ nước ngoài sẽ càng phức tạp. Ngược lại khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, nguồn vốn trong nước tăng lên, Chính phủ có thể huy động nguồn vốn trong nước thông qua phát hành trái phiếu. Do đó, việc vay vốn nước ngoài trong giai đoạn này sẽ có xu hướng ít cần thiết hơn trước.
Riêng vốn vay Nhật Bản ở Việt Nam tăng lên về số lượng trong giai đoạn 2011-2015 có gây ảnh hưởng đến nợ công. Mặc dù vậy, Nhật Bản vẫn đang duy trì mức lãi suất thấp đối với các dự án tại Việt Nam, thường khoảng 1,4% và chưa công bố sự thay đổi chính sách nào từ khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. So với việc huy động trái phiếu trong nước, thường là 5 năm, lãi suất 5% và khả năng huy động vốn của thị trường trái phiếu vẫn còn thấp thì việc vay vốn từ Nhật Bản trong các dự án hạ tầng giao thông, xây dựng cơ bản… vẫn có thể đem lại lợi ích. Tuy nhiên trong hoàn cảnh mới của một quốc gia đã “tốt nghiệp” ODA, cần có định hướng mới trong thu hút vốn vay từ Nhật Bản để vẫn tranh thủ được lợi thế của nguồn vốn này, không đe dọa tính bền vững về nợ công, đồng thời cũng cố gắng không lấn át hoặc cạnh tranh với nguồn vốn vay trong nước.
Đề tài 3 “Định hướng thu hút vốn vay ưu đãi Nhật Bản trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia có thu nhập trung bình” mong muốn đưa ra một số ý kiến để thực hiện thu hút vốn vay Nhật Bản trong bối cảnh mới. Tổng quan nghiên cứu Các nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài hầu hết đều sử dụng cụm từ nghiên cứu về ODA mà luận văn gọi là vốn vay nước ngoài, trong đó có bao gồm cả khái niệm về vay ưu đãi. Các nghiên cứu này có thể phân chia thành các nhóm chính như sau: nghiên cứu về tổng thể vốn vay nước ngoài của Việt Nam, nghiên cứu về vốn vay nước ngoài theo nhà tài trợ và nghiên cứu về vốn vay nước ngoài theo ngành tiếp nhận vốn. Các nghiên cứu tổng thể về vốn vay nước ngoài của Việt Nam Trần Thị Hồng Thủy (2015), Viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong bối cảnh Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình (MIC), Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân, Bùi Đình Viên (2015), Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn ưu đãi khi Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình thấp), Luận án Tiến sỹ, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội… Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả huy động và sử dụng vốn vay này như Hội thảo quốc tế “Đánh giá 20 năm huy động và sử dụng vốn ODA của Việt Nam” do Ban Kinh tế Trung ương tổ chức năm 2015 trong đó có nhiều bài viết của các chuyên gia kinh tế như Nguyễn Ngọc Sơn (2015), Thu hút và sử dụng ODA trong bối cảnh Việt Nam là nước thu nhập trung bình, Vũ Nhữ Thăng (2015), Vai trò của nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài trong cân đối tài chính quốc gia giai đoạn 2006-2014… Các nghiên cứu đưa ra cơ sở lý luận về khái niệm hỗ trợ phát triển chính thức (trong đó bao gồm hỗ trợ không hoàn lại, vốn vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật), khái niệm quốc gia có thu nhập trung bình là những vấn đề có thể kế thừa trong khung lý thuyết về vốn vay nước ngoài trong bối cảnh Việt Nam là nước có thu nhập trung bình.
Các nghiên cứu cũng đánh giá được tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA của Việt Nam kể từ khi tiếp nhận vốn nước ngoài từ năm 1993 đến 2014. Đây là 4 những nội dung mang tính lý luận mà luận văn có thể kế thừa. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng đã xác định được tính chất mới của nhân tố ảnh hưởng đến vay nước ngoài khi Việt Nam là nước có thu nhập trung bình, bao gồm tình hình chính trị, bối cảnh quốc tế… Khá nhiều trong số các tính chất đó vẫn còn nguyên giá trị và có thể áp dụng trong trường hợp nghiên cứu về vốn vay Nhật Bản, đặc biệt là yếu tố kinh tế-chính trị khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình. Các nghiên cứu hầu như đồng quan điểm đánh giá Việt Nam nên giảm bớt phụ thuộc vào nguồn vốn vay nước ngoài, tăng cường thu hút vốn tư nhân quốc tế, nguồn vốn trong nước nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn và giảm gánh nặng nợ công.
Do đó, một số nghiên cứu còn đi xa hơn bằng việc xây dựng lộ trình “tốt nghiệp ODA” cho Việt Nam đến năm 2020, thời điểm các dự án sẽ chuyển sang vốn vay ưu đãi với lãi suất cao hơn dù chưa bằng mức lãi suất vay trên thị trường quốc tế, trừ các dự án chuyển tiếp và đến năm 2030 sẽ “tốt nghiệp” hoàn toàn. Thực tế, các nhà tài trợ (ví dụ như WB) đã dừng các khoản cho vay ưu đãi đối với Việt Nam năm 2017, trước năm 2020 như lộ trình nêu trên. Tuy nhiên trong trường hợp vốn vay Nhật Bản, tổ chức JICA (cơ quan quản lý của Nhật Bản về việc cho nước ngoài vay vốn) chưa có thay đổi nào về chính sách cho vay đối với Việt Nam và sẽ duy trì chính sách vay hiện tại cho đến 2030. Như vậy, đối với trường hợp ODA Nhật Bản, có thể cần cân nhắc một lộ trình khác mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến.
Các nghiên cứu về vốn vay nước ngoài theo nhà tài trợ Trong thời gian qua, Việt Nam đã có tăng trưởng kinh tế ấn tượng và nỗ lực điều chỉnh chính sách để thu hút các nhà tài trợ. Kết quả tương đối thành công khi đến nay đã có hơn 50 nhà tài trợ vốn vay nước ngoài cho Việt Nam, gồm cả các nhà tài trợ song phương và đa phương. Trong đó, báo cáo về các dự án ODA tại Việt Nam của nhóm 6 ngân hàng phát triển (bao gồm ADB, Cơ quan phát triển Pháp - AfD, Ngân hàng tái thiết Đức - KfW, JICA, Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc - KEXIM và WB) được thực hiện hàng năm, gồm các nội dung về đánh giá kết quả thực hiện, chia sẻ kinh nghiệm, phân tích danh mục đầu tư… Các báo cáo được đưa 5 ra trao đổi tại các diễn đàn chung nhằm trao đổi và đánh giá kết quả thực hiện dự án giữa Việt Nam và các nhà tài trợ. Các báo cáo có nội dung hướng đến chiến lược, chính sách và hiệu quả viện trợ, gắn với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay đối với phát triển kinh tế của Việt Nam.