Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện có 328 khu công nghiệp được thành lập, trong đó 283 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy đạt trên 73%, nhưng mới chỉ có 80,6% số khu công nghiệp hoàn thiện trạm xử lý nước thải tập trung. Tại tỉnh Bắc Giang, theo quy hoạch phát triển có 6 khu công nghiệp với tổng diện tích 1.322 ha, giữ vai trò đầu tàu thu hút vốn đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp đang đặt ra thách thức lớn về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, không khí và chất thải rắn công nghiệp.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý môi trường tại hai khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh Bắc Giang là Khu công nghiệp Vân Trung và Khu công nghiệp Đình Trám. Mục tiêu cụ thể là phân tích mô hình tổ chức, mức độ tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường, đánh giá chất lượng các thành phần môi trường và làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa hiệu lực quản lý của chủ đầu tư hạ tầng với hiện trạng môi trường thực tế.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang trong khoảng thời gian từ tháng 8/2018 đến tháng 8/2019, sử dụng chuỗi số liệu quan trắc chi tiết năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc: Khu công nghiệp Vân Trung với quy mô 254,09 ha (giai đoạn 1 là 150 ha, 59 doanh nghiệp, tỷ lệ lấp đầy 80%, lưu lượng nước thải phát sinh trên 4.000 m³/ngày đêm) đại diện cho mô hình quản lý đồng bộ đạt chuẩn; trong khi Khu công nghiệp Đình Trám với quy mô 127,351 ha (103 doanh nghiệp, tỷ lệ lấp đầy 100%, lượng nước thải phát sinh 1.685,6 m³/ngày đêm) đại diện cho mô hình hạ tầng cũ còn tồn tại nhiều bất cập xả thải.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết kinh tế môi trường và quản lý nhà nước về môi trường, trọng tâm là lý thuyết công cụ quản lý môi trường kết hợp mô hình "mệnh lệnh và kiểm soát" (Command and Control - CAC) với các công cụ kinh tế như thuế xả thải Pigouvian, phí bảo vệ môi trường và ký quỹ phục hồi môi trường. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp mô hình khu công nghiệp sinh thái và mạng lưới cộng sinh công nghiệp theo tinh thần Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.

Khung lý thuyết làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  1. Hệ thống quản lý môi trường khu công nghiệp theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT;
  2. Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và giám sát môi trường định kỳ theo Nghị định số 18/2015/NĐ-CP và Nghị định số 40/2019/NĐ-CP;
  3. Quản lý chất thải nguy hại và phế liệu theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT và Nghị định số 38/2015/NĐ-CP;
  4. Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kiểm soát phát thải gồm QCVN 40:2011/BTNMT (nước thải công nghiệp), QCVN 08-MT:2015/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 05:2013/BTNMT (chất lượng không khí xung quanh) và QCVN 19:2009/BTNMT (khí thải công nghiệp).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm tài liệu thứ cấp thu thập từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang, Công ty TNHH FuGiang và Công ty Cổ phần Phát triển hạ tầng Khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn diện 100% chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật (2 đơn vị), điều tra phỏng vấn chuyên sâu 8 cán bộ phụ trách môi trường (5 cán bộ tại Vân Trung, 3 cán bộ tại Đình Trám) cùng dữ liệu hồ sơ môi trường của 162 doanh nghiệp thứ cấp đang hoạt động sản xuất (59 doanh nghiệp tại Vân Trung và 103 doanh nghiệp tại Đình Trám). Mạng lưới quan trắc thực địa khảo sát 4 vị trí nước mặt tiếp nhận (NM01 đến NM04 trên hệ thống kênh T3, T5, T6) và 3 điểm quan trắc chất lượng không khí xung quanh (KK01 đến KK03) qua 2 đợt đo đạc trong năm 2018.

Phương pháp phân tích chọn mẫu có chủ đích kết hợp với phương pháp so sánh tiêu chuẩn được lựa chọn vì tính chính xác cao, cho phép đối chiếu trực tiếp các thông số lý hóa thực nghiệm với ngưỡng giới hạn quy chuẩn quốc gia nhằm xác định hệ số vượt tải ô nhiễm. Ngoài ra, phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường giúp làm rõ các nguyên nhân quản lý gốc rễ trong quá trình thực hiện đề tài từ tháng 8/2018 đến tháng 8/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Cơ cấu ngành nghề tại hai khu công nghiệp có sự tương đồng lớn khi tập trung chủ yếu vào sản xuất, gia công linh kiện điện tử (Vân Trung chiếm 38,90% với 23 doanh nghiệp; Đình Trám chiếm 38,83% với 40 doanh nghiệp). Tuy nhiên, mật độ doanh nghiệp và lao động tại Đình Trám cao hơn đáng kể với 103 doanh nghiệp và trên 31.000 lao động trên diện tích 127,351 ha, so với 59 doanh nghiệp và trên 25.000 lao động trên 150 ha giai đoạn 1 của Vân Trung.

Về công tác xử lý nước thải, Khu công nghiệp Vân Trung đã đầu tư hoàn chỉnh trạm xử lý nước thải tập trung với công nghệ tiên tiến, nước thải đầu ra đạt QCVN 40:2011/BTNMT Cột A, duy trì phòng thí nghiệm nội bộ và kết nối dữ liệu quan trắc tự động liên tục về Sở Tài nguyên và Môi trường. Ngược lại, Khu công nghiệp Đình Trám sở hữu trạm xử lý 2.000 m³/ngày đêm công nghệ lạc hậu chỉ đạt Cột B, đặc biệt chưa xây dựng hệ thống thu gom đấu nối nước thải từ phân khu Đồng Vàng sang trạm tập trung, khiến lượng nước thải chưa xử lý triệt để xả thẳng ra nguồn tiếp nhận.

Chất lượng nước mặt kênh T6 (nguồn tiếp nhận nước thải của Khu công nghiệp Đình Trám) bị ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng nghiêm trọng theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT Cột B1. Tại điểm NM02 (tiếp nhận nước thải Đình Trám), nồng độ NH4+ đạt 13,65 mg/l (vượt 15,16 lần), PO4³⁻ đạt 11,20 mg/l (vượt 37,33 lần), COD đạt 70 mg/l (vượt 2,33 lần), BOD5 vượt 1,86 lần. Tại điểm NM01 trước khi đổ ra sông Thương, COD lên tới 96 mg/l (vượt 3,20 lần) và NO2⁻ đạt 3,02 mg/l (vượt 60,40 lần).

Về kiểm soát chất thải rắn và khí thải, 100% nguồn phát sinh khí thải ống khói được kiểm soát theo QCVN 19:2009/BTNMT; chất lượng không khí xung quanh tại cả 2 khu công nghiệp đều nằm trong ngưỡng an toàn theo QCVN 05:2013/BTNMT (hàm lượng bụi TSP từ 150 đến 222 µg/m³ so với giới hạn 300 µg/m³). Tuy nhiên, năm 2018 cơ quan chức năng đã xử phạt vi phạm hành chính 37 cơ sở với tổng tiền phạt 4,5 tỷ đồng (gồm 6 doanh nghiệp tại Vân Trung và 5 doanh nghiệp tại Đình Trám) chủ yếu do lỗi để lẫn chất thải nguy hại và chậm phê duyệt hồ sơ môi trường.

Thảo luận kết quả

Diễn biến mức độ ô nhiễm tại các điểm quan trắc NM01 đến NM04 được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột so sánh hệ số vượt quy chuẩn và bảng cân bằng vật chất nguồn thải, làm nổi bật rõ sự tương phản giữa hai khu công nghiệp. Nguyên nhân chính dẫn đến sự phân hóa chất lượng môi trường xuất phát từ năng lực và trách nhiệm quản lý của chủ đầu tư hạ tầng.

Công ty TNHH FuGiang tại Vân Trung thành lập bộ phận môi trường gồm 5 nhân sự có trình độ chuyên môn, chủ động kiểm soát chất lượng đấu nối đầu vào và điều chỉnh hóa chất vận hành chính xác. Ngược lại, Công ty Cổ phần Phát triển hạ tầng Khu công nghiệp Bắc Giang tại Đình Trám chỉ có 3 cán bộ, thiếu vốn nâng cấp trạm xử lý và bất cập trong quản lý phân khu Đồng Vàng dẫn đến việc các doanh nghiệp tự xử lý không đạt chuẩn và phát sinh nợ đọng phí bảo vệ môi trường. Kết quả nghiên cứu tương đồng với các báo cáo môi trường toàn quốc khi khẳng định tính đồng bộ của hạ tầng kỹ thuật ban đầu quyết định 80% hiệu quả bảo vệ môi trường khu công nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Khẩn trương thi công hoàn thành tuyến ống thu gom nước thải phân khu Đồng Vàng đấu nối về trạm xử lý tập trung công suất 2.000 m³/ngày đêm của Khu công nghiệp Đình Trám trong thời hạn 12 tháng, chấm dứt việc xả thải phân tán.

Chủ đầu tư Khu công nghiệp Đình Trám đầu tư cải tạo dây chuyền công nghệ xử lý nước thải từ đạt QCVN 40:2011/BTNMT Cột B lên chuẩn Cột A trước quý IV, đồng thời lắp đặt trạm quan trắc nước thải tự động truyền dữ liệu liên tục 24/7 về Sở Tài nguyên và Môi trường.

Công ty TNHH FuGiang đẩy nhanh tiến độ vận hành thử nghiệm và hoàn tất thủ tục xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường đối với trạm xử lý nước thải tập trung giai đoạn 2 (module 2) công suất 5.000 m³/ngày đêm trong vòng 6 tháng tới để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô toàn khu 254,09 ha.

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang tăng cường tần suất thanh tra, kiểm tra đột xuất tối thiểu 2 đợt/năm đối với các doanh nghiệp có nguy cơ ô nhiễm cao, xử phạt nghiêm khắc hành vi để lẫn chất thải nguy hại theo Nghị định số 155/2016/NĐ-CP.

Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành giữa Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường và lực lượng Cảnh sát môi trường nhằm loại bỏ tình trạng thanh tra chồng chéo, nâng cao tỷ lệ tập huấn pháp luật môi trường đạt trên 95% số doanh nghiệp mới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Tài nguyên và Môi trường và Ban Quản lý các Khu công nghiệp: Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát quy trình thẩm định báo cáo ĐTM, xây dựng quy chế thanh tra liên ngành và khắc phục các kẽ hở pháp lý trong quản lý phân cấp môi trường khu công nghiệp.

Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp: Cung cấp bài học kinh nghiệm về thiết kế hệ sinh thái hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường đồng bộ, cách thức bố trí phòng phân tích giám sát nội bộ và giải pháp nâng cấp trạm xử lý nước thải đạt QCVN Cột A.

Lãnh đạo và cán bộ phụ trách môi trường của doanh nghiệp thứ cấp: Nắm bắt chi tiết các tiêu chuẩn kỹ thuật về thu gom, lưu giữ chất thải nguy hại theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, hoàn thiện thủ tục vận hành thử nghiệm công trình xả thải để phòng ngừa rủi ro pháp lý.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Đô thị và Kinh tế Môi trường: Tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu định lượng, bộ số liệu phân tích hiện trạng không khí, nước mặt thực nghiệm tại 2 mô hình khu công nghiệp điển hình ở miền Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Sự khác biệt căn bản trong quản lý nước thải giữa KCN Vân Trung và KCN Đình Trám là gì?

KCN Vân Trung vận hành hệ thống thu gom khép kín, trạm xử lý tiên tiến đạt chuẩn Cột A với 5 nhân sự chuyên trách và quan trắc tự động. Ngược lại, KCN Đình Trám có trạm xử lý 2.000 m³/ngày đêm công nghệ cũ đạt Cột B và phân khu Đồng Vàng chưa đấu nối, khiến nước thải ô nhiễm chưa xử lý triệt để xả ra môi trường.

Hiện trạng chất lượng nước mặt tại kênh tiếp nhận của KCN Đình Trám ô nhiễm ở mức độ nào?

Nước mặt kênh T6 ô nhiễm nghiêm trọng so với QCVN 08-MT:2015/BTNMT Cột B1. Tại điểm tiếp nhận nước thải KCN Đình Trám, PO4³⁻ vượt 37,33 lần (11,20 mg/l), NH4+ vượt 15,16 lần (13,65 mg/l), COD vượt 2,33 lần (70 mg/l); vị trí trước khi ra sông Thương có NO2⁻ vượt tới 60,40 lần (3,02 mg/l).

Các hành vi vi phạm môi trường phổ biến nhất của doanh nghiệp trong khu công nghiệp là gì?

Năm 2018 có 37 cơ sở bị xử phạt 4,5 tỷ đồng, chủ yếu do các vi phạm: không phân loại triệt để chất thải nguy hại (để lẫn giẻ lau dính dầu, phoi kim loại với rác thông thường), thiếu thiết bị lưu chứa chuẩn hóa, không lập kế hoạch vận hành thử nghiệm và chậm báo cáo quản lý môi trường định kỳ.

Chất lượng môi trường không khí xung quanh 2 khu công nghiệp hiện có an toàn không?

Chất lượng không khí xung quanh cả 2 khu công nghiệp vẫn nằm trong ngưỡng an toàn theo QCVN 05:2013/BTNMT và QCVN 06:2009/BTNMT qua 2 đợt quan trắc năm 2018. Bụi lơ lửng TSP dao động 150-222 µg/m³ (dưới hạn mức 300 µg/m³), các chỉ tiêu SO2, NO2, CO đều đạt chuẩn, chỉ ghi nhận tiếng ồn cục bộ ven đường.

Giải pháp kỹ thuật cấp bách nhất cần triển khai ngay tại KCN Đình Trám là gì?

Chủ đầu tư cần xây dựng khẩn cấp tuyến ống đấu nối nước thải từ khu Đồng Vàng sang trạm xử lý tập trung 2.000 m³/ngày đêm, đồng thời tiến hành nâng cấp công nghệ xử lý từ Cột B lên Cột A và lắp đặt trạm quan trắc tự động kết nối dữ liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ bức tranh thực trạng quản lý môi trường tương phản giữa Khu công nghiệp Vân Trung (mô hình hạ tầng mới đồng bộ 254,09 ha) và Khu công nghiệp Đình Trám (mô hình hạ tầng thế hệ đầu 127,351 ha).
  • Chứng minh mối quan hệ hữu cơ: chất lượng quản lý hạ tầng và năng lực nhân sự nội bộ của chủ đầu tư quyết định trực tiếp đến mức độ tác động môi trường nước mặt của lưu vực tiếp nhận kênh T6.
  • Định lượng chính xác mức độ ô nhiễm dinh dưỡng nghiêm trọng (NH4+ vượt 15,16 lần, PO4³⁻ vượt 37,33 lần) tại nguồn tiếp nhận nước thải của Khu công nghiệp Đình Trám.
  • Đưa ra lộ trình kỹ thuật cụ thể gồm đấu nối phân khu Đồng Vàng, nâng cấp chuẩn Cột A và mở rộng module 2 công suất 5.000 m³/ngày đêm tại Vân Trung.
  • Đóng góp bộ giải pháp chính sách hoàn thiện thanh tra liên ngành và số hóa quan trắc tự động phục vụ công tác quản lý tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Giang.

Trong giai đoạn tới, các cơ quan ban ngành và doanh nghiệp hạ tầng cần đẩy mạnh tiến độ đầu tư công nghệ xử lý chất thải theo đúng lộ trình khuyến nghị. Quý độc giả, nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn thạc sĩ để ứng dụng các mô hình giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường công nghiệp một cách hiệu quả và bền vững.