CHƯƠNG 1 - Giới thiệu: Giới thiệu lý dó thực hiện đề tài, ý nghĩa thực tiễn, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. CHƯƠNG 2 - Tổng quan lý thuyết: Trình bày lược thảo lý thuyết, thực trạng và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan. CHƯƠNG 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trình bày khung phân tích, mô hình phân tích, mô tả biến số và phương pháp nghiên cứu. CHƯƠNG 4- Kết quả: Thống kê mô tả bộ dữ liệu, kết quả phân tích hồi quy và thảo luận kết quả.
CHƯƠNG 5 - Kết luận và kiến nghị: Trình bày tóm tắt toàn bộ kết quả nghiên cứu, đưa ra một số gợi ý chính sách, những mặt hạn chế của nghiên cứu, hướng nghiên cứu tiếp theo và kiến nghị. PHỤ LỤC 1: Bản câu hỏi điều tra PHỤ LỤC 2: Xử lý số liệu bằng stata 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Lược thảo lý thuyết 2.1 Lý thuyết hành vi Thuyết Hành vi dự định (TPB) (Aizen, 1991), được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA) (Ajzen & Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó. Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố.
Thứ nhất, các thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện. Nhân tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó. Cuối cùng thuyết Hành vi dự định TPB được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận. Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi.
Đặc điểm người mua (văn hoá, xã hội, cá tính, tâm lý) Quá trình quyết định: 1. Tìm kiếm thông tin, Quyết định Các tác nhân marketing 3. Đánh giá Chọn/Không (Sản phẩm, giá. Xu hướng hành vi 5.
Nguồn lực Các tác nhân khác (Kinh tế, công nghệ, chính trị, văn hoá, vv.1: Mô hình hành vi của người tiêu dùng (nguồn: tác giả tổng hợp) 2.2 Lý thuyết về truyền thông 2.1 Khái niệm: Theo thông tin trên Trang Web của Đại học Đông Á, Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác 6 trong đó có ít nhất hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận.
Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói, ra hiệu, hay viết; nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, học được cú pháp của ngôn ngữ.2 Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông: Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông. Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận thông tin. Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Người nhận: là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông.
Phản hồi: là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát. Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch thông tin trong quá trình truyền thông. Phương tiện truyền thông Phương tiện truyền thông là việc vận dụng các khả năng của cơ thể, sử dụng những phương tiện có sẵn trong tự nhiên, những công cụ nhân tạo để diễn tả và chuyển tải những thông tin, thông điệp từ bản thân đến người khác hay từ nơi này sang nơi khác. Các phương tiện truyền thông đại chúng sử dụng hiệu quả (1) TV truyền hình, Radio, Báo, tạp chí, sách, băng đĩa, phim ảnh, tờ bướm, tờ rơi, bảng quảng cáo vv.
(2) Internet đứng đầu trong các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt truyền thông mạng xã hội như Facebook, Twitter, Yahoo.Đây là phương tiện truyền thông rất phổ biến hiện nay, ai cũng có thể sử dụng để thu nhận và truyền đạt tin tức. Người sử dụng có thể dùng bất cứ lúc nào, gửi đi bất cứ tin tức gì. Tuy nhiên, các tin tức nhiều khi không được kiểm chứng tính cách xác thực, gây hoang mang, ngộ nhận cũng như làm phiền lòng người nhận. Theo thống kê có khoảng 45,6% số người lứa tuổi từ 18-54 cho biết họ chọn Internet là phương tiện truyền thông hay nhất.
Đối với vấn đề tiêm chủng mở rộng thì có một loại kênh truyền thông không thể thiếu đó là truyền thông từ các cơ sở y tế (nhân viên y tế) và chương trình TCMR (sổ tiêm chủng tờ hướng dẫn. Truyền thông giữ một vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của nhân dân: 2. Chức năng của truyền thông Charles Robert Wright (1959) đã ghi nhận ba chức năng chính của truyền thông gồm: (1) Giám sát, thông tin về môi trường xã hội, (2) sự tương quan của các bộ phận của xã hội, và (3) truyền tải văn hoá giữa các thế hệ, đồng thời thêm giải trí là chức năng thứ tư của truyền thông. - Giám sát, thông tin về môi trường xã hội: Một chức năng quan trọng của truyền thông là theo dõi tất cả những diễn biến trên thế giới và cung cấp thông tin cho xã hội loài người.
Các phương tiện truyền thông có trách nhiệm cung cấp tin tức và các vấn đề đến xã hội. Trong thời điểm khủng hoảng, truyền thông giúp duy trì sự ổn định xã hội bằng cách cung cấp thông tin thực tế và hướng dẫn về cách thức ứng phó. Như trong thiên tai, chiến tranh, sức khoẻ,. truyền thông tạo ra sự nhận thức cho đại chúng 8 bằng cách cung cấp thông tin về những gì đang xảy ra và cách phòng ngừa, tự bảo vệ cho các cá nhân.
- Sự tương quan của các bộ phận của xã hội: Chức năng này liên quan đến cách mà các phương tiện truyền thông lựa chọn tin tức và diễn giải thông tin, qua đó đã gây ảnh hưởng đến nhận thức xã hội và sự đáp ứng. Thái độ của người dân đối với các vấn đề chính trị, các sự kiện, chính sách công, vấn đề y tế. bị tác động bởi truyền thông qua việc diễn giải vấn đề trong các cuộc thảo luận và thuyết trình. Ví dụ: báo cáo của các phương tiện truyền thông về chiến tranh ở Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thay đổi nhận thức của người Mỹ về cuộc chiến; sự bài trừ vaccine tại Hoa Kỳ do nghi ngờ có ảnh hưởng đến trí não của trẻ.
- Truyền tải văn hoá: Truyền thông như là công cụ để giảng dạy các chuẩn mực, quy tắc và giá trị khác nhau đang tồn tại trong một xã hội và đảm bảo sự chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như các chương trình truyền hình đại chúng phản ánh thực tế xã hội và thúc đẩy sự hiểu biết về di sản văn hóa của một xã hội. Các chương trình truyền hình dành cho trẻ em được thiết kế để thể hiện tốt nhất về hành vi và chuẩn mực đạo đức tốt. - Giải trí: Chức năng giải trí của truyền thông giúp thư giãn và thoát khỏi căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày.
Chức năng giải trí của các phương tiện thông tin đại chúng có cả tác động tích cực lẫn tiêu cực. Chất lượng nội dung thấp thường bị chỉ trích nhưng những lợi ích khác như giúp mọi người trải nghiệm những sự kiện mới, kích thích cảm xúc và giúp mọi người vượt qua thời gian rảnh rỗi cho thấy tầm quan trọng của chức năng này. Lợi ích và bất lợi của truyền thông Lợi ích của công tác truyền thông: (1) Truyền thông dễ dàng lôi cuốn sự lưu ý của quần chúng đối với các vấn đề sức khỏe một cách mau chóng. (2) Truyền thông có thể đưa ra các ý kiến về sức khỏe hết sức hữu hiệu.
(3) Truyền thông có thể kích thích quần chúng, tạo ra những đáp ứng tình cảm để người nghe-coi thay đổi nếp sống để có một sức khỏe tốt. 9 (4) Truyền thông có thể tác động lên dư luận, tạo ra các cơ hội để tranh luận cách thức duy trì sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật qua phượng tiện liên lạc. (5) Truyền thông có thể hợp tác với các nhà chuyên môn để tổ chức các buổi gặp gỡ giữa quần chúng với nhau hoặc giữa các nhà chuyên môn với quần chúng để trao đổi nhận thức bảo vệ sức khỏe. (6) Tính cách giáo dục, chia sẻ nhận thức, cổ võ những hành vi có lợi cho công ích (7) Giúp cải thiện sự gắn bó các quan hệ công cộng, giúp các tổ chức liên quan tới bảo vệ sức khỏe cùng sát cánh làm việc.
(8) Góp phần tranh đấu, cổ võ, truyền thông tiếp tay với các nhà lãnh đạo đưa ra các chính sách y tế, dung hòa các tranh luận và tìm ra các hỗ trợ ý kiến có tính cách quyết định đặc biệt. Tuy vậy, truyền thông cũng có một số bất lợi (1) Truyền thông gửi ra thông tin nhưng ít khi tiếp nhận được phản ứng của quần chúng. (2) Khó mà ước lượng coi xem tin tức đưa ra có đáp ứng nhu cầu dân chúng, có đúng thời điểm và không biết phản ứng của dân chúng ra sao. (3) Dân chúng có thề không coi, không đọc hoặc tắt tivi, radio giữa chừng vì bất đồng ý kiến.
(4) Do ảnh hưởng của kinh tế tự do cạnh tranh “khuyến thị”, truyền thông cũng lệ thuộc vào các thông tin quảng cáo, gây xao nhãng nội dung. (5) Đôi khi vì tính cách thời sự nóng hổi, “giật gân”, truyền thông cũng loan tải các tin tức chưa được chứng minh tính cách xác thực hoặc chưa có sự đồng thuận của các nhà chuyên môn, gây hoang mang cho người nhận. Russell, Cambridge (2009) Chính phủ và các cơ sở khoa học đã khuyến khích phát triển truyền thông khoa học. Trong cuốn sách này, Nicholas Russell nêu ra quan điểm chính để cải thiện thông tin liên lạc.
Cuốn sách này cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào truyền thông khoa học trong ba bối cảnh: các mô hình chuyên nghiệp của truyền thông giữa các nhà khoa học, truyền thông phổ biến cho công chúng, và khoa học trong văn học và phim truyền hình.