CHƯƠNG 1: CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại: 1. Khái quát về hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại Các nhà kinh tế học đã luôn cố gắng tìm lời giải cho câu trả lời cơ bản nhất của kinh tế học là làm thế nào để đo lường tính hiệu quả của hệ thống kinh tế. từ năm 1951 các nhà kinh tế đã giới thiệu một phương pháp đơn giản để đo lường tính hiệu quả thông qua hệ số thỏa dụng nguồn lực.
Từ đó về sau, việc sử dụng hệ số thỏa dụng nguồn lực được dử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu có liên quan đến đo lường hiệu quả của hệ thống kinh tế, ngân hàng hay một công ty, tổ chức cụ thể (Chambers and Miller, 2011). − Hiệu quả kỹ thuật (technological efficiency): với mục tiêu tránh lãng phí, bằng cách đạt được các đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu hóa đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho. Trong trường hợp này, đây là hiệu quả kỹ thuật (khả năng sử dụng cực tiểu hóa đầu vào để sản xuất một vectơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng thu được đầu ra cực đại từ một vectơ đầu vào cho trước), và mục tiêu tránh lãng phí của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao. − Hiệu quả kinh tế (economical efficiency): mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hóa doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào đầu ra sao cho cực đại hóa lợi nhuận.
Trong các trường hợp này, đây là hiệu quả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một sản lượng nhất định), và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu như chi phí, doanh thu hoặc lợi nhuận). 2 Như vậy, hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý… Nó phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt đựợc kết quả đó. Trong hoạt động của Ngân hàng thương mại (NHTM), thì hiệu quả kinh doanh được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM thông thường nhất là phương pháp tính toán và phân tích các chỉ số tài chính.
Có nhiều chỉ tiêu dùng đo lường hiệu quả kinh doanh của NHTM. Tùy theo mục tiêu cần phân tích, đánh giá của người sử dụng mà sẽ lựa chọn bộ chỉ tiêu thích hợp. Các chỉ tiêu tài chính cơ bản thường được sử dụng trong phân tích hiệu quả hoạt động của Ngân hàng bao gồm: − Nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời + Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) Cho biết cứ một đồng vốn chủ sở thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh.
Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của bản thân mỗi NHTM. Để so sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một NHTM với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương trong cùng ngành. Chỉ tiêu này rất quan trọng đối với cổ đông, nó đảm bảo mức thu nhập cho cổ đông đã góp vốn cổ phần ROE = (Lợi nhuận sau thuế ÷ Tổng vốn chủ sở hữu) × 100 3 + Tỷ lệ thu nhập trên Tổng tài sản (ROA) Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của NHTM mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính. Chỉ số này cho biết công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng tài sản, ROA đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản của NHTM.
Giá trị ROA càng cao chứng tỏ NHTM hoạt động càng hiệu quả và ngược lại giá trị này càng thấp càng kém hiệu quả. ROA = (Thu nhập ròng ÷ Tổng tài sản) × 100 Ngoài ra, cần lưu ý một vài điểm sau khi phân tích ROA: ROA tăng là dấu hiệu tích cực nếu: NHTM tăng vốn chủ sở hữu, giảm nợ vay làm giảm chi phí lãi vay nên lợi nhuận đạt được cao hơn. ROA tăng là dấu hiệu tiêu cực nếu: doanh thu lợi nhuận giảm nhưng giảm thấp hơn tốc độ giảm tổng tài sản. ROA giảm không phải là dấu hiệu tồi nếu: việc giảm xuất phát từ việc tăng vốn chủ sở hữu nên tổng nguồn vốn tăng tương ứng tổng tài sản tăng, nhưng mức lợi nhuận tăng chậm hơn tăng tổng tài sản.
ROA giảm là dấu hiệu tồi nếu: vốn chủ sở hữu giảm do kinh doanh lỗ vốn, hoặc hoạt động kinh doanh mở rộng những đầu tư vào những lĩnh vực không hiệu quả nên lợi nhuận không tăng, thậm chí còn giảm so với trước. + Hệ số sinh lời (Profit Margin, PM) Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu lợi nhuận. Biên lợi nhuận sẽ đóng vai trò là một vùng đệm giữa doanh thu và chi phí. Về lý thuyết, những doanh nghiệp có biên lợi nhuận cao có thể tồn tại vững vàng trong bối cảnh chi phí leo thang.
Ngược lại, những doanh nghiệp có biên lợi nhuận thấp chỉ có thể tăng lợi nhuận bằng cách đẩy mạnh doanh thu. Khi gặp đợt gia tăng chi phí, những doanh nghiệp này sẽ rất khó khăn. Như vậy, 4 việc theo dõi biên lợi nhuận theo thời gian không chỉ giúp nhà quản lý chủ động ứng phó với cơ hội và nguy cơ từ thị trường, mà còn giúp nhà đầu tư tránh những nhận định cảm tính để nhận diện được những doanh nghiệp có tiềm lực trong cơn bão giá. Lợi nhuận biên = (Lợi nhuận ròng ÷ Tổng doanh thu) × 100 Nếu NHTM có nhiều sản phẩm hoặc kinh doanh nhiều hoạt động và mỗi lĩnh vực có sổ sách kế toán riêng đầy đủ thì việc phân tích tỷ số của mỗi sản phẩm, lĩnh vực sẽ cho một cái nhìn tổng thể về các lĩnh vực nào cho kết quả kinh doanh tốt cần phát triển mạnh, các lĩnh vực nào kết quả kinh doanh chưa tốt cần hạn chế hoặc chuyển hướng đầu tư.
Không phải việc tăng tỷ suất lợi nhuận/doanh thu lúc nào cũng phản ánh NHTM đang kinh doanh tốt và việc giảm tỷ suất lợi nhuận/doanh thu lúc nào cũng phản ánh NHTM đang kinh doanh kèm hiệu quả mà việc xem xét tăng/giảm tỷ suất sinh lời doanh thu là tốt hay xấu cũng cần phân tích rõ lý do của việc tăng/giảm tỷ số. Việc tăng tỷ suất lợi nhuận doanh thu là tốt nếu: Lợi nhuận và doanh thu cùng tăng; doanh thu giảm do không tiếp tục vào lĩnh vực đầu tư không hiệu quả. Lợi nhuận trong trường hợp này có thể giảm nhưng giảm ít hơn doanh thu. Hoặc lợi nhuận lại tăng lên do giảm lĩnh vực đầu tư không hiệu quả lên quản lý chi phí tốt hơn.
Việc tăng tỷ suất lợi nhuận/doanh thu là xấu nếu: việc tăng là do lợi nhuận và doanh thu cùng giảm nhưng lợi nhuận giảm chậm hơn doanh thu với các lý do giảm như sau: NHTM bị giảm năng lực cạnh tranh, năng lực sản xuất, NHTM giảm lãi vay, tăng lãi suất huy động, giảm phí để chiếm lĩnh lại thị phần,…Tuy nhiên do các NHTM này vẫn đang quản lý tốt chi phí quản lý, 5 chi phí tài chính …. nên tạm thời lợi nhuận có giảm nhưng tốc độ giảm chậm hơn doanh thu. Việc giảm tỷ suất lợi nhuận/doanh thu không phải là một dấu hiệu chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của một NHTM bị giảm sút nếu: lợi nhuận và doanh thu đều tăng nhưng lợi nhuận tăng chậm hơn doanh thu. Trong trường hợp doanh thu tăng nhưng lợi nhuận không tăng thì cũng chưa hẳn là dấu hiệu NHTM kinh doanh không hiệu quả.
Để kết luận phải xem xét cơ cấu chi phí và bản chất việc giảm lợi nhuận là do giá vốn tăng hay do NHTM quản lý tài chính, quản lý hoạt động không tốt dẫn đến các chi phí hoạt động quá cao so với quy mô tăng trưởng doanh thu. Ngay cả khi doanh thu và lợi nhuận đều giảm cũng không phải là dấu hiệu kinh doanh của NHTM đang xấu nếu do NHTM đang thu hẹp hoạt động, chuyển hướng đầu tư vào các lĩnh vực hiệu quả, dừng hoạt động những lĩnh vực, mặt hàng kém hiệu quả. + Lãi suất biên tế (Net Interest Margin, NIM) Lãi suất biên tế = (Tổng thu nhập lãi suất - Tổng chi phí lãi suất) ÷ Tài sản sinh lợi bình quân + Thu nhập mỗi cổ phần (Earn per share, EPS) EPS đóng vai trò như một chỉ số về hiệu quả hoạt động của NHTM. Khi tính EPS, người ta thường dùng khối lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong suốt kỳ báo cáo để có kết quả chính xác hơn, bởi vì số lượng cổ phiếu lưu hành có thể thay đổi theo thời gian.
Tuy nhiên, các nguồn dữ liệu đôi khi sẽ đơn giản hóa quá trình tính toán bằng cách dùng số lượng cổ phiếu đang lưu hành vào cuối kỳ. EPS pha loãng khác EPS cơ bản ở chỗ EPS pha loãng thường cộng thêm số lượng trái phiếu có thể chuyển đổi hay trái quyền vào số lượng cổ phiếu đang lưu hành. EPS thường được xem là chỉ số quan trọng nhất trong việc xác định giá của cổ phiếu. Đây cũng là thành 6 phần chính dùng để tính toán chỉ số P/E.
Một điểm quan trọng nữa thường bị bỏ qua là việc tính toán lượng vốn dùng để tạo ra lợi nhuận. Hai công ty có thể có cùng EPS, nhưng một công ty có thể sử dụng vốn ít hơn- tức là công ty đó có hiệu quả cao hơn trong việc sử dụng vốn của mình để tạo ra lợi nhuận và, nếu những yếu tố khác là tương thì đây là công ty tốt hơn. EPS = (Thu nhập ròng - Cổ tức ưu đãi) ÷ Số cổ phần thường bình quân trong kỳ. − Nhóm chỉ tiêu đo lường hiệu suất sử dụng tài sản, vốn chủ sở hữu + Hệ số sử dụng tài sản (Asset Utilization) Hệ số sử sụng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản của NHTM.