Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan về cơ chế truyền dẫn chính sách tệ qua lãi suất Chương 3: Thực trạng cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua lãi suất tại Việt Nam Chương 4: Nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua lãi suất tại Việt Nam Chương 5: Kết luận và khuyến nghị về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua lãi suất tại Việt Nam 1. Ý nghĩa của nghiên cứu: Về mặt lý luận, đề tài đã hệ thống được một số nghiên cứu về chính sách tiền tệ và các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ, trong đó có cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất. Từ đó rút ra kết luận về một khuôn khổ chính sách tiền tệ cho nền kinh tế Việt Nam. Về mặt thực tiễn, đề tài xây dựng mô hình tác động chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất tại Việt Nam.
Từ đó cung cấp những cơ sở để đưa ra các chính sách phù hợp điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát và tăng trưởng tại Việt Nam. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA LÃI SUẤT 2. Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ và các kênh truyền dẫn: 2. Chính sách tiền tệ CSTT được xem như các hành động được thực hiện bởi Ngân hàng trung ương nhằm tác động đến lượng cung tiền hoặc lãi suất của nền kinh tế (Leco Reiss, Roberto de Paula, 2008).
Với mục tiêu ổn định mức giá, thúc đẩy kinh tế phát triển, NHTW sử dụng các công cụ của CSTT như: Lãi suất điều hành, hoạt động thị trường mở, dự trữ bắt buộc để tác động đến các biến số trong nền kinh tế. Quá trình tác động đó chính là quá trình truyền dẫn của CSTT. Các công cụ của chính sách tiền tệ: Để thực thi CSTT, thực hiện chức năng và vai trò của mình, NHTW đã sử dụng hàng loạt các công cụ như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, lãi suất, tỷ giá hối đoái, và nghiệp vụ thi trường mở. Dự trữ bắt buộc: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB) là tỷ lệ phần trăm trên lượng tiền gửi mà ngân hàng thương mại (NHTM) huy động được, phải để dưới dạng dự trữ do NHTW quy định.
Với việc tăng hoặc giảm tỷ lệ DTBB, NHTW có thể hạn chế hoặc tăng cường khối tiền tệ mà hệ thống ngân hàng có khả năng cung ứng cho nền kinh tế. Một cách khái quát, khi NHTW tăng hoặc giảm tỷ lệ DTBB thì NHTW có thể làm giảm hoặc tăng hệ số tạo tiền của hệ thống NHTM, và kết quả là khối lượng tín dụng mà các NHTM có thể cung ứng cho nền kinh tế giảm hoặc tăng. Nhìn chung, DTBB là công cụ mang tính chất hành chính của NHTW, nhằm điều tiết mức cung tiền tệ của NHTM cho nền kinh tế, thông qua hệ số tạo tiền. Tái chiết khấu: NHTW sử dụng công cụ tái chiết khấu để điều chỉnh linh hoạt CSTT mà không tác động mạnh tới khối lượng tiền trong lưu thông.
Với công cụ này, NHTW đóng vai trò là người cho vay cuối cùng đối với NHTM và các TCTD khác. NHTW 5 sẽ cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các NHTM trên cơ sở nhận tái chiết khấu, tái cầm cố giấy tờ có giá của các NHTM. Nếu chính sách của NHTW là mở rộng khối tiền tệ, NHTW sẽ giảm LSTCK và làm dễ dàng các điều kiện cho vay của mình. Từ đó, NHTW sẽ khuyến khích các NHTM đi vay.
Với chi phí vay vốn rẻ hơn, điều kiện vay dễ dàng hơn, các NHTM sẽ có xu hướng giảm lãi suất vay và mở rộng tín dụng. Ngược lại, nếu NHTW muốn theo đuổi một CSTT thắt chặt, NHTW sẽ tăng LSTCK, thay đổi điều kiện tái chiết khấu theo hướng khó khăn, từ đó gián tiếp buộc các NHTM tăng LSCV và thu hẹp hoạt động tín dụng. Lãi suất Lãi suất là một công cụ chủ yếu của CSTT. Tùy theo điều kiện thực tế và trình độ phát triển của thị trường tài chính, NHTW có thể sử dụng công cụ lãi suất để điều hành CSTT theo các chính sách như: NHTW kiểm soát trực tiếp lãi suất thị trường bằng cách quy định các loại lãi suất tiền gửi và LSCV theo từng kỳ hạn; áp đặt sàn lãi suất tiền gửi và trần LSCV để tạo khung lãi suất giới hạn; công bố LSCB cộng với biên độ giao dịch… Dựa vào các loại lãi suất đã được ấn định, NHTM áp dụng để giao dịch kinh doanh với khách hàng; tự do hóa để lãi suất tự hình thành theo cơ chế thị trường.
để can thiệp vào lãi suất thị trường NHTW có thể gián tiếp can thiệp thông qua các chính sách: công bố LSCB để hướng dẫn lãi suất thị trường hoặc sử dụng công cụ lãi suất tái cấp vốn và kết hợp với suất TTM để can thiệp và điều chỉnh lãi suất thị trường. Thị trường mở: Công cụ thị trường mở (TTM) phản ánh việc NHTW mua hoặc bán chứng từ có giá theo thị trường tài chính công cộng, nhằm đạt đến mục tiêu điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông. Các chứng từ có giá mà các NHTW thường sử dụng để tiến hành nghiệp vụ TTM là các chứng khoán kho bạc bởi vì thị trường của những chứng khoán này có tính thanh khoản cao và dung lượng kinh doanh lớn. Khi NHTW đem chứng khoán ra TTM bán sẽ thu được tiền mặt và séc.
Điều này có 6 nghĩa là cung ứng tiền trong nền kinh tế bị thắt chặt hơn. Ngược lại, khi NHTW đem tiền mặt hoặc séc mua chứng khoán trên TTM, thì lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên. Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa hai đồng tiền. Nói cách khác, TGHĐ là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác.
Khi vận hành công cụ TGHĐ, NHTW có thể ấn định tỷ giá cố định, hoặc thả nổi tỷ giá theo quan hệ cung – cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Giữa hai thái cực: tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn, còn có nhiều tỷ giá khác như: tỷ giá cố định như di động khi cần thiết, tỷ giá thả nổi có quản lý. Các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ 2. Khái niệm Cơ chế truyền dẫn CSTT (Monetary Policy Tranmission Mechanism-MTM) không được Mishkin (1996) định nghĩa trực tiếp nhưng có thể hiểu là quá trình từ thay đổi trong lãi suất (hoặc cung tiền) của cơ quan điều hành CSTT ảnh hưởng đến mức giá và sản lượng nền kinh tế 2.
Các kênh truyền dẫn: Hệ thống truyền dẫn tiền tệ bao gồm các kênh chính1: (a) Kênh lãi suất, (b) Kênh tín dụng (c) Kênh tỷ giá, (d) Một số kênh khác. a, Kênh lãi suất Quan điểm truyền thống của những người theo Keynes về cơ chế truyền dẫn của CSTT có thể được mô tả bằng sơ đồ sau đây về ảnh hưởng của sự mở rộng tiền tệ: M↑ => r↓ => I↑ => Y↑ Trong đó, ký hiệu M↑ chỉ ra rằng CSTT mở rộng dẫn tới sự giảm sút của lãi suất thực tế (r↓) và đến lượt nó, sự suy giảm lãi suất thực tế lại làm giảm chi phí đầu tư, gây ra sự gia tăng trong chi tiêu cho đầu tư (I↑), qua đó dẫn tới sự gia tăng của 1 Theo Fereric S. Nhiều bằng chứng gần đây đã tìm thấy kênh lãi suất cũng đúng với chi tiêu cho nhà ở và hàng tiêu dùng lâu bền. Một đặc trưng quan trọng của cơ chế truyền dẫn qua lãi suất là nó nhấn mạnh rằng chính lãi suất thực tế, chứ không phải lãi suất danh nghĩa, tác động tới các quyết định của người tiêu dùng và doanh nghiệp.
Ngoài ra, thông thường chính sách lãi suất thực tế dài hạn, chứ không phải lãi suất ngắn hạn mới gây ra tác động lớn tới chi tiêu (Mishkin,1996) Thực tế là lãi suất thực tế chứ không phải là lãi suất danh nghĩa ảnh hưởng tới chi tiêu đem lại một cơ chế quan trọng để CSTT kích thích nền kinh tế ngay cả khi lãi suất danh nghĩa giảm xuống 0 trong thời kỳ giảm phát. Với lãi suất danh nghĩa ở mức sàn bằng 0, sự mở rộng của cung tiền (M↑) vẫn có thể làm tăng mức giá dự kiến (Pe↑) và lạm phát dự kiến (πe↑), qua đó hạ thấp lãi suất thực tế [r=( i- πe)↓] ngay cả khi lãi suất danh nghĩa bị cố định ở mức 0 và kích thích chi tiêu thông qua lãi suất. Chúng ta có thể mô tả những nhận định này bằng sơ đồ sau: M↑ => Pe↑ => πe↑ => r ↓ => I↑ => Y↑ ( Minskin, 1996) b, Kênh tín dụng Kênh này hoạt động thông qua 3 cơ chế như sau: Đầu tiên, CSTT mở rộng – yếu tố làm tăng dự trữ và tiền gửi của các ngân hàng – làm tăng khả năng cho vay của ngân hàng. Do nhiều người đi vay phụ thuộc vào tiền vay của ngân hàng cho hoạt động tài chính của họ, nên sự gia tăng cho vay này làm cho chi tiêu cho đầu tư (và có thể cả cho tiêu dùng) tăng lên.
Dưới dạng sơ đồ, chúng ta có thể mô tả tác động của CSTT như sau: M↑ => Tiền gửi ngân hàng ↑ => Cho vay ngân hàng ↑ => I↑ => Y↑ (Mishkin,1996) Thứ hai, xuất phát từ vấn đề thông tin bất cân xứng của thị trường tín dụng, nếu giá trị ròng của doanh nghiệp giảm có nghĩa chủ sơ hữu đang có ít vốn chủ sở hữu trong doanh nghiệp. Điều này có thể khuyến khích họ đưa ra các quyết định đầu tư rủi ro và làm cho người cho vay có thể gánh chịu nhiều rủi ro hơn, vấn đề lựa chọn tiêu cực và suy giảm đạo đức khi cho các doanh nghiệp này vay cũng tăng theo và làm các NHTM hạn chế hoạt động cho vay của mình. 8 CSTT có thể ảnh hưởng tới bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp theo nhiều cách. CSTT mở rộng (M↑) làm tăng giá cổ phiếu (Ps↑), qua đó làm tăng giá trị ròng của các doanh nghiệp (vật thế chấp cho các khoản cho vay) và dẫn tới mức chi tiêu cho đầu tư (I↑) và tổng cầu cao hơn (Y↑) vì vấn đề lựa chọn tiêu cực và suy giảm đạo đức giảm bớt.