Tổng quan nghiên cứu
Thương mại dịch vụ ngày càng đóng vai trò động lực cốt lõi chi phối toàn bộ đời sống kinh tế toàn cầu, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp tỷ trọng lớn vào tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội và giải quyết việc làm. Trong giai đoạn 2001 - 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam đã đạt 21,824 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng bình quân ấn tượng 15,7%/năm, chiếm tỷ trọng khoảng 10,8% GDP của cả giai đoạn. Đến năm 2008, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ tiếp tục đạt mốc 7,096 tỷ USD, ghi nhận mức tăng 22,38% so với năm 2007. Mặc dù đạt được những kết quả khả quan, khu vực dịch vụ của Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế nội tại: cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, chất lượng dịch vụ chưa đồng đều, năng lực cạnh tranh quốc tế thấp và chính sách thương mại dịch vụ còn tản mát, chưa được quan tâm đồng bộ như thương mại hàng hóa.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích toàn diện thực trạng chính sách xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách xuất khẩu dịch vụ theo các chuẩn mực quốc tế; nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia điển hình; đánh giá tác động của hệ thống pháp luật và các cam kết gia nhập WTO; từ đó xây dựng hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu các ngành dịch vụ chủ lực. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế Việt Nam trong mối tương quan với các đối tác khu vực và toàn cầu, giới hạn thời gian phân tích trọng tâm từ năm 1996 đến năm 2009 với tầm nhìn chiến lược đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý, gia tăng quy mô kim ngạch và nâng cao giá trị gia tăng của dịch vụ xuất khẩu Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại và khung khổ pháp lý của Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) thuộc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). GATS định nghĩa thương mại dịch vụ thông qua 4 phương thức cung cấp chủ yếu:
- Phương thức 1 (Cung cấp qua biên giới): Dịch vụ được chuyển từ lãnh thổ của một quốc gia sang lãnh thổ của quốc gia khác mà người cung cấp và người tiêu dùng không cần di chuyển trực tiếp.
- Phương thức 2 (Tiêu dùng ngoài lãnh thổ): Người tiêu dùng di chuyển sang lãnh thổ của quốc gia khác để sử dụng dịch vụ, điển hình là du lịch quốc tế hoặc khám chữa bệnh.
- Phương thức 3 (Hiện diện thương mại): Doanh nghiệp thiết lập chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc công ty liên doanh tại nước ngoài để trực tiếp kinh doanh dịch vụ.
- Phương thức 4 (Hiện diện thể nhân): Cá nhân cung cấp dịch vụ di chuyển sang lãnh thổ nước khác để thực hiện công việc chuyên môn.
Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng các nguyên tắc thương mại then chốt như Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và Đãi ngộ quốc gia (NT) để phân tích mức độ mở cửa thị trường. Khung phân loại dịch vụ của luận văn dựa trên 12 ngành lớn của WTO (bao gồm kinh doanh, truyền thông, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, tài chính, y tế, du lịch, giải trí, vận tải và các dịch vụ khác) đối chiếu với Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) tại Nghị định số 75/CP ngày 27/10/1993 của Chính phủ Việt Nam gồm 14 ngành dịch vụ cấp I. Bản chất của chính sách xuất khẩu dịch vụ được xác định là tập hợp các công cụ pháp luật, quy tắc và biện pháp hành chính do Nhà nước ban hành nhằm điều tiết, bảo hộ hợp lý và khuyến khích mở rộng hoạt động cung ứng dịch vụ ra thị trường quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa từ Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, Ngân hàng Thế giới (WB) và Ban Thư ký WTO xuyên suốt chuỗi thời gian 14 năm (1996 - 2009). Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ dữ liệu vĩ mô của 12 phân ngành dịch vụ theo chuẩn WTO, trong đó tập trung phân tầng sâu vào 4 ngành dịch vụ xuất khẩu trụ cột: vận tải biển, vận tải hàng không, du lịch và tài chính - ngân hàng. Cơ sở dữ liệu ngành vận tải biển được khảo sát chi tiết với mẫu quan sát toàn diện gồm 1.274 tàu thuộc đội tàu biển quốc gia và hệ thống hơn 1.200 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics, lữ hành và bưu chính viễn thông.
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng được lựa chọn nhằm đảm bảo bao quát các nhóm ngành đóng góp trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ cả nước. Tác giả kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích hoạt động dịch vụ trong tiến trình đổi mới; sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp để lượng hóa các chỉ tiêu tăng trưởng; đồng thời áp dụng phương pháp so sánh đối chiếu và nghiên cứu trường hợp điển hình (case study) kinh nghiệm của Trung Quốc và Thái Lan. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm làm rõ bản chất tác động của hệ thống thể chế vĩ mô, đánh giá chính xác tính tương thích giữa chính sách nội địa với các cam kết quốc tế, từ đó rút ra các bài học xác đáng cho Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam có sự bứt phá vượt bậc về kim ngạch nhưng vẫn duy trì vị thế khiêm tốn so với thương mại hàng hóa. Giai đoạn 2001 - 2005, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ bình quân tăng 15,7%/năm, đạt tổng 21,824 tỷ USD. Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,096 tỷ USD, tăng 22,38% so với năm 2007 (đạt 6,460 tỷ USD). Tuy nhiên, nhập khẩu dịch vụ năm 2008 lên tới 7,915 tỷ USD, dẫn đến mức thâm hụt cán cân thương mại dịch vụ là 819 triệu USD. Trong 6 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu dịch vụ đạt 2,737 tỷ USD trong khi nhập khẩu là 3,256 tỷ USD.
Thứ hai, cơ cấu xuất khẩu dịch vụ có sự phân hóa mạnh mẽ giữa các lĩnh vực, phụ thuộc lớn vào du lịch và vận tải:
- Dịch vụ du lịch giữ vai trò đầu tàu, đạt kim ngạch 4,020 tỷ USD vào năm 2008, chiếm 56,65% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ toàn quốc.
- Dịch vụ vận tải hàng không đạt 1,322 tỷ USD năm 2008, tăng 23,67% so với mức 1,069 tỷ USD năm 2007.
- Dịch vụ hàng hải đạt 1,034 tỷ USD năm 2008, tăng 27,65% so với mức 810 triệu USD năm 2007.
- Ngược lại, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao chiếm tỷ trọng rất nhỏ: dịch vụ tài chính chỉ đạt 230 triệu USD năm 2008 (giảm 30,72% so với 332 triệu USD năm 2007), bưu chính viễn thông đạt 80 triệu USD và bảo hiểm đạt 60 triệu USD.
Thứ ba, năng lực kết cấu hạ tầng vận tải biển có bước tiến rõ rệt về chất lượng phương tiện. Tính đến tháng 12/2008, đội tàu biển treo cờ Việt Nam đạt 1.274 tàu với tổng trọng tải 4,25 triệu DWT, tăng 17,74% về số lượng so với 1.082 tàu năm 2007. Cơ cấu độ tuổi tàu chuyển biến tích cực khi số tàu dưới 10 tuổi tăng 44% (đạt 680 tàu), trong khi số tàu già trên 20 tuổi giảm 47% (từ 310 tàu xuống còn 165 tàu). Đội tàu hoạt động tuyến quốc tế đạt 402 tàu với tổng trọng tải 2,546 triệu DWT.
Thảo luận kết quả
Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh đa chiều khi được trình bày qua các bảng thống kê tăng trưởng và biểu đồ so sánh cán cân xuất nhập khẩu dịch vụ giai đoạn 2005 - 2009. Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ kinh doanh có tính thị trường đạt 7,57% trong giai đoạn 2006 - 2008, cao hơn mức bình quân 7,2% của toàn khu vực dịch vụ. Tuy nhiên, một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong GDP lại có tốc độ tăng trưởng rất thấp, như dịch vụ kinh doanh và bất động sản (chiếm 3,8% GDP nhưng chỉ tăng trưởng 2,49% trong năm 2008).
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xuất khẩu dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng bắt nguồn từ sự thiếu vắng một chiến lược tổng thể và khung pháp lý hoàn chỉnh. Hệ thống chính sách hỗ trợ xuất khẩu dịch vụ gần như bị lãng quên so với chính sách xuất khẩu hàng hóa, các biện pháp xúc tiến thương mại còn dàn trải, chưa tận dụng tối đa 4 phương thức GATS.
So sánh với các nước trong khu vực cho thấy nhiều bài học giá trị: Thái Lan áp dụng chính sách kiểm soát sở hữu nước ngoài chặt chẽ (tối đa 25% - 49% vốn trong bảo hiểm, viễn thông và hàng không) nhưng lại mở cửa linh hoạt cho Phương thức 1, đưa tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt xấp xỉ 51 tỷ Baht. Trong khi đó, kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy tầm quan trọng của việc thống nhất chính sách từ trung ương đến chính quyền địa phương, xóa bỏ rào cản hành chính và minh bạch hóa cơ chế quản lý để thực thi hiệu quả các cam kết WTO. Đối với Việt Nam, việc mở rộng thị trường đòi hỏi phải gắn liền với tái cơ cấu doanh nghiệp nội địa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý và ban hành Chiến lược tổng thể xuất khẩu dịch vụ quốc gia. Chính phủ và Bộ Công Thương cần chủ trì rà soát, đồng bộ hóa các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với nguyên tắc GATS/WTO, xóa bỏ các rào cản hành chính đối với doanh nghiệp dịch vụ. Mục tiêu cụ thể là đưa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ đạt 16% - 18%/năm trong giai đoạn 2011 - 2020, từng bước thu hẹp và tiến tới cân bằng cán cân thương mại dịch vụ vào năm 2015.
Thứ hai, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và hiện đại hóa đội tàu vận tải biển quốc gia. Bộ Giao thông Vận tải cùng Tổng công ty Hàng hải Việt Nam cần đẩy nhanh tiến độ đầu tư, phấn đấu phát triển đội tàu biển Việt Nam đạt tổng trọng tải 7,0 triệu DWT vào năm 2020 theo đúng định hướng tại Quyết định 1195/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Giảm tỷ lệ tàu trên 20 tuổi xuống dưới mức 10%, tập trung đóng mới các dòng tàu chuyên dụng như tàu chở container sức chở trên 1.800 TEU, tàu chở hàng lỏng và khí hóa lỏng để nâng cao thị phần vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu lên mức 30% - 35%.
Thứ ba, cơ cấu lại sản phẩm du lịch và đẩy mạnh xúc tiến thương mại quốc tế. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Tổng cục Du lịch triển khai chiến dịch quảng bá "Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới", đa dạng hóa các sản phẩm lữ hành cao cấp, dịch vụ nghỉ dưỡng biển và du lịch sinh thái. Đặt mục tiêu thu hút trên 5,0 - 6,0 triệu lượt khách quốc tế mỗi năm trong giai đoạn 2011 - 2015, nâng mức chi tiêu bình quân của du khách quốc tế lên 120 - 150 USD/ngày để thúc đẩy doanh thu xuất khẩu du lịch vượt mốc 5,0 tỷ USD.
Thứ tư, tái cơ cấu và thúc đẩy tự do hóa có kiểm soát ngành tài chính, ngân hàng và viễn thông. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Thông tin và Truyền thông cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, khuyến khích các hình thức liên doanh liên kết nhưng duy trì tỷ lệ kiểm soát an toàn hệ thống. Tập trung phát triển dịch vụ gia công phần mềm xuất khẩu sang các thị trường trọng điểm như Nhật Bản và Bắc Mỹ, đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu công nghệ thông tin tăng trưởng trên 25%/năm trong giai đoạn 2011 - 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính: Vận dụng hệ thống cơ sở lý luận về 4 phương thức cung cấp dịch vụ theo GATS và chuỗi dữ liệu 14 năm (1996 - 2009) để xây dựng các chính sách ưu đãi thuế, tín dụng xuất khẩu và đàm phán các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
- Ban lãnh đạo doanh nghiệp xuất khẩu dịch vụ (logistics, hàng hải, hàng không, du lịch, phần mềm): Khai thác các bài học thực tiễn về mô hình tăng trưởng 15,7%/năm, số liệu phân tích thị trường vận tải biển với hơn 1.200 doanh nghiệp để hoạch định chiến lược đầu tư trang thiết bị, đổi mới công nghệ và mở rộng mạng lưới kinh doanh quốc tế.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh tế quốc tế: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp định tính và định lượng, hệ thống chỉ số đo lường dịch vụ theo chuẩn WTO và SNA phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu.
- Các chuyên gia tư vấn chiến lược và tổ chức xúc tiến thương mại: Ứng dụng các phân tích kinh nghiệm cải cách thể chế từ Trung Quốc và Thái Lan (đặc biệt là cơ cấu vốn góp nước ngoài 25% - 49%) để tư vấn cho các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp liên doanh trong quá trình thâm nhập thị trường Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Bốn phương thức cung cấp dịch vụ theo Hiệp định GATS bao gồm những gì? Hiệp định GATS phân loại thương mại dịch vụ thành 4 phương thức: Cung cấp qua biên giới (Phương thức 1), Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (Phương thức 2), Hiện diện thương mại (Phương thức 3), và Hiện diện thể nhân (Phương thức 4). Ví dụ thực tế, khi một hãng lữ hành trong nước phục vụ du khách nước ngoài tại Việt Nam, hoạt động này được tính là xuất khẩu dịch vụ theo Phương thức 2.
Tại sao việc lượng hóa và thống kê xuất khẩu dịch vụ phức tạp hơn xuất khẩu hàng hóa? Dịch vụ mang 4 đặc tính cơ bản: tính vô hình, tính không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng, tính không thể lưu kho và tính không ổn định về chất lượng. Khác với 100% hàng hóa vật chất hữu hình phải đi qua cửa khẩu hải quan, dịch vụ có thể được cung cấp vô hình qua mạng viễn thông hoặc tiêu dùng tại chỗ, gây khó khăn cho công tác thu thập số liệu thống kê.
Tình hình cán cân xuất nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2008 diễn biến như thế nào? Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ tăng từ 4,265 tỷ USD năm 2005 lên 7,096 tỷ USD năm 2008, đạt mức tăng trưởng bình quân trên 18%/năm. Tuy nhiên, nhập khẩu dịch vụ tăng từ 4,749 tỷ USD năm 2005 lên 7,915 tỷ USD năm 2008, khiến cán cân thương mại dịch vụ liên tục thâm hụt ở mức trên 800 triệu USD mỗi năm.
Năng lực đội tàu biển xuất khẩu dịch vụ vận tải của Việt Nam thay đổi ra sao trong năm 2008? Năm 2008, tổng số tàu biển treo cờ Việt Nam đạt 1.274 tàu với tổng trọng tải 4,25 triệu DWT, tăng 17,74% so với năm 2007. Trong đó, số tàu hiện đại dưới 10 tuổi đạt 680 tàu (tăng 44%), số tàu già trên 20 tuổi giảm 47% còn 165 tàu, và có 402 tàu tham gia vận tải tuyến quốc tế đạt trọng tải 2,546 triệu DWT.
Kinh nghiệm hoạch định chính sách xuất khẩu dịch vụ của Thái Lan mang lại bài học gì cho Việt Nam? Thái Lan kiểm soát chặt chẽ hiện diện thương mại của nước ngoài trong các ngành nhạy cảm ở mức 25% - 49% vốn, nhưng mở cửa linh hoạt cho cung ứng qua biên giới, giúp phí bảo hiểm đạt gần 51 tỷ Baht năm 1999. Việt Nam có thể học tập mô hình tái cơ cấu viễn thông và lộ trình tự do hóa từng bước để bảo vệ thị trường nội địa.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thương mại và chính sách xuất khẩu dịch vụ theo chuẩn mực GATS/WTO, xác lập khung phân tích phù hợp cho nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam.
- Công trình cung cấp bức tranh số liệu xác thực giai đoạn 1996 - 2009, chỉ rõ thành tựu xuất khẩu đạt 7,096 tỷ USD năm 2008 cùng thực trạng thâm hụt cán cân dịch vụ 819 triệu USD.
- Phân tích sâu sắc sự phát triển của các ngành chủ lực, đặc biệt là sự chuyển dịch chất lượng của 1.274 tàu biển quốc gia và tiềm năng to lớn của ngành du lịch chiếm trên 56% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế sâu sắc từ Trung Quốc và Thái Lan trong việc xử lý mối quan hệ giữa bảo hộ nội địa, mở cửa thị trường và cải cách thủ tục hành chính.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chính sách mang tính chiến lược và lộ trình thực thi đến năm 2020 nhằm đạt mục tiêu 7,0 triệu DWT cho ngành hàng hải và tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ 16% - 18%/năm.
Các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động tham khảo công trình nghiên cứu này để hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ quốc gia. Hãy liên hệ ngay với tác giả hoặc thư viện chuyên ngành để tiếp cận toàn văn luận văn và hợp tác triển khai các giải pháp chính sách vào thực tiễn kinh doanh.