chương I, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 thì “Cấp tín dụng là việc ngân hàng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [9, trang 4]. Sau khi huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của nền kinh tế, các NHTM thực hiện cho vay lại đối với các tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu được bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này, NHTM đã thực hiện chức năng phân phối lại vốn, tiền tệ để đáp ứng nhu cầu sản xuất xã hội. Có thể nói, tín dụng doanh nghiệp là việc ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng tới các KHDN của mình, cung cấp cho họ một số vốn nhất định trong một kỳ hạn nhất định nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như đầu tư mua sắm máy móc thiết bị mới, đầu tư khác hay bổ sung vốn lưu động.2 Đặc điểm cơ bản của tín dụng doanh nghiệp Tín dụng đối với KHDN có đặc điểm cơ bản sau: - Số lượng khách hàng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng tại các NHTM thường không nhiều so với khách hàng cá nhân, nhưng dư nợ tín dụng của nhóm đối tượng khách hàng này luôn chiếm tỷ trọng cao trên tổng dư nợ.
Nếu như tín dụng bán lẻ với đặc điểm là cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của mọi cá nhân trong nền kinh tế nên quy mô các khoản vay nhỏ, số lượng khách hàng vay tương đối lớn thì tín dụng doanh nghiệp lại hoàn toàn ngược lại. 9 Doanh nghiệp vay để mua sắm tài sản cố định, đầu tư cơ sở vật chất hoặc mua nguyên vật liệu đầu vào để hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục… Vì vậy, giá trị món vay của doanh nghiệp thường lớn hơn rất nhiều so với khách hàng cá nhân. Với cùng một quy mô nguồn vốn của ngân hàng, khi giá trị các khoản vay lớn thì số lượng khách hàng và món vay sẽ ít đi và ngược lại. Trên thực tế tùy vào quy mô vốn, chính sách tín dụng (tập trung phát triển tín dụng bán buôn hay bán lẻ), quy trình thẩm định, quy chế cho vay (thắt chặt hay nới lỏng), khả năng tài chính, nhu cầu vay vốn của từng doanh nghiệp mà ngân hàng sẽ có các phương án cho vay phù hợp và tương đương với đó là một số lượng khách hàng nhất định.
- Thông tin KHDN có độ tin cậy cao hơn so với khách hàng cá nhân, hộ gia đình. Thật vậy, bằng các nghiệp vụ của mình, ngân hàng sẽ thực hiện phân tích các chỉ tiêu như doanh thu, lợi nhuận, các hợp đồng mà doanh nghiệp đã thực hiện, hóa đơn mua bán hàng hóa dịch vụ, phương án trả nợ, tài sản đảm bảo, thông tin tín dụng của doanh nghiệp trên CIC… để từ đó có thể đánh giá được năng lực tài chính và đưa ra quyết định có cho khách hàng vay hay không. - Tín dụng đối với KHDN mang tính rủi ro cao: Mặc dù thông tin khách hàng có độ tin cậy cao hơn so với khách hàng cá nhân, tuy nhiên mức độ rủi ro khi cho khách hàng doanh nghiệp vay là tương đối cao. Rủi ro phụ thuộc nhiều vào chất lượng nhân sự của ban lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp, trình độ quản trị doanh nghiệp.
Khả năng trả nợ của khách hàng phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh, sự biến động của nền kinh tế trong nước và ngoài nước, biến động về giá cả, lãi suất, chính sách pháp luật, điều kiện tự nhiên và rủi ro đạo đức của doanh nghiệp. Đặc biệt là các món vay trung dài hạn có giá trị lớn, khi có rủi ro xảy ra thì hậu quả của nó để lại cho TCTD là rất nghiêm trọng. 10 - Đối tượng của tín dụng doanh nghiệp tại NHTM thường rất đa dạng: Có rất nhiều loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế và mỗi doanh nghiệp lại hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau. - Nhu cầu về vốn tín dụng của doanh nghiệp thường rất lớn, tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng: Nguồn vốn là tiền đề đầu tiên và quan trọng nhất để doanh nghiệp khởi nghiệp, duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên rất nhiều doanh nghiệp không đáp ứng đủ các điều kiện cho vay của ngân hàng như tài sản thế chấp, tình hình tài chính, phương án kinh doanh. Đặc biệt là trong bối cảnh tình hình nợ xấu hiện nay có dấu hiệu tăng lên, các NHTM lại càng cần trọng hơn khi cho vay, càng làm tăng thêm độ khó cho các doanh nghiệp khi muốn gõ cửa các nhà băng mặc dù nhu cầu vốn tăng. - Chi phí tổ chức cho vay KHDN thường cao hơn cho vay khách hàng cá nhân: Ngoài các chi phí chung như chi lương cho nhân viên, chi phí mua sắm trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, vận hành, trả lãi vốn huy động. Đối với tín dụng doanh nghiệp, NHTM còn phải chi trả thêm chi phí thẩm định bao gồm thẩm định tài sản đảm bảo (thường là các tài sản có giá trị cao), thẩm định phương án trả nợ, thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp., chi phí quản lý khoản vay.
Mỗi loại nghiệp vụ trong hoạt động kinh doanh tài chính tiền tệ của ngân hàng đều có những đặc điểm riêng khác, muốn thành công thì ngân hàng phải tự mình hiểu rõ, trang bị đầy đủ kiến thức để nắm bắt được những luận điểm chung nhất, nhạy bén để nhận ra những điểm riêng khi áp dụng vào tình hình kinh doanh cụ thể trên thực tiễn. Tín dụng đối với KHDN cũng vậy, để có thể tăng trưởng về quy mô nhưng đồng thời kiểm soát được rủi ro, nâng cao chất lượng cả về chất và lượng thì ngân hàng buộc phải tìm ra được hướng đi riêng, vượt qua khó khăn và tận dụng thời cơ, sức mạnh để thành công. Phân loại tín dụng doanh nghiệp Việc phân chia tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng, giúp ngân hàng có thể phân tích được mức độ an toàn, khả năng sinh lợi, khả năng thu hồi nợ của từng loại nhóm nợ theo thời hạn vay, ngành nghề kinh doanh, loại hình cho vay… từ đó đưa ra được các chính sách tín dụng phù hợp với từng thời kỳ kinh doanh. Tùy theo tiêu thức phân loại mà có thể chia tín dụng đối với KHDN thành nhiều hình thức khác nhau.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Thời hạn cấp tín dụng được tính từ khi giải ngân đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc, lãi và thường được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa NHTM và khách hàng. - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 01 năm. Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động ngân hàng là kinh doanh tiền gửi, các khoản tiền gửi ngắn hạn thì các NHTM sẽ thường thực hiện tài trợ các khoản tín dụng ngắn hạn để đảm bảo khả năng thanh khoản. Tín dụng ngắn hạn chủ yếu dùng để bổ sung nguồn vốn kinh doanh ngắn hạn cho các doanh nghiệp.
- Tín dụng trung hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn từ trên 01 năm đến 05 năm. Tín dụng trung hạn nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng với quy mô vừa, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ hay để đầu tư cho các dự án trung hạn có thời gian tương ứng. - Tín dụng dài hạn: Theo quy định của NHNN Việt Nam hiện nay, tín dụng dài hạn là khoản tín dụng có thời gian trên 05 năm. Loại tín dụng này được sử dụng nhằm cấp vốn cho các dự án lớn, đầu tư xây dựng cơ bản, cải tiến khoa học công nghệ, xây dựng nhà máy sản xuất… những dự án có thời gian thu hồi vốn dài.
Căn cứ hình thức cấp tín dụng: Có 4 loại - Cho vay: Là hình thức tín dụng phổ biến tại thị hệ thống các NHTM. Theo đó, ngân hàng cho các doanh nghiệp vay một khoản tiền để thanh toán 12 các chi phí trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn vay có thể được giải ngân trực tiếp bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho các đối tác của khách hàng. Tùy theo phương thức rút vốn, hình thức trả nợ hoặc tài sản đảm bảo của doanh nghiệp mà ngân hàng lại chia ra thành cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay theo dự án, cho vay thấu chi hay cho vay trả góp. Theo thông tư số 39/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [7, trang 1].
- Bảo lãnh: Là hình thức tín dụng mà trong đó ngân hàng (người bảo lãnh) cam kết sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với bên thứ ba (người được hưởng bảo lãnh) trong trường hợp doanh nghiệp (người được bảo lãnh) không thực hiện hoặc không muốn thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình. Có nhiều loại bảo lãnh như bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh vay vốn. - Chiết khấu thương phiếu: Thương phiếu được hình thành từ quá trình mua bán chịu hàng hóa giữa khách hàng với nhau. Sau khi người bán chuyển hàng hóa, dịch vụ cho người mua thì thương phiếu được lập, người mua ký, cam kết trả tiền cho người thụ hưởng khi thương phiếu đến hạn.
Trong thời hạn có hiệu lực của thương phiếu, người bán có thể đem thương phiếu đến và đề nghị ngân hàng chiết khấu trước. - Cho thuê tài chính: Thường là hình thức tín dụng trung dài hạn thông qua việc ngân hàng hoặc các công ty tài chính của ngân hàng mua tài sản (máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển.) và cho các doanh nghiệp thuê lại với thời gian sao cho ngân hàng phải thu đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài 13 sản cho thuê công với lãi. Hết thời hạn thuê, doanh nghiệp có thể mua lại tài sản đó. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả sẽ tập trung nghiên nghiên cứu chính vào hình thức cho vay đối với KHDN tại các NHTM.