phần mở đầu, kết luận và ba chương nội dung: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Đặc điểm cảnh quan sinh tháikhu vực Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng Chƣơng 3: Đánh giá cảnh quansinh thái phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học khu vực Phia Oắc - Phia Đén 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan một số vấn đề trong nghiên cứu cảnh quan sinh thái liên quan đến đa dạng sinh học 1. Trên thế giới Vào đầu thế kỷ XIX các nhà khoa học đã xác nhận ra rằng, các yếu tố trong tự nhiên tồn tại không độc lập với nhau mà sự phân hóa của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác.
Humboldt (nhà thực vật học người Đức) thời đó đã phát hiện ra hiện tượng phân hóa các thảm thực vật theo độ cao ở dãy núi Andet. Người ta bắt đầu dùng từ "cảnh quan" để chỉ các mối tương quan qua lại giữa các thành phần tự nhiên. Sau này vào giữa thế kỷ XIX các nhà bác học Nga và Đức đã đặt nền móng cho bộ môn khoa học về cảnh quan học ra đời. Đó là việc quan niệm các thực thể trong tự nhiên là các hệ thống toàn vẹn, trong đó các thành phần cấu thành lên nó có quan hệ với nhau.
Nếu tác động vào một thành phần sẽ kéo theo sự thay đổi dây chuyền của toàn hệ thống và có thể thay đổi cấu trúc. Quan niệm này nhanh chóng thống trị trong các khoa học về trái đất và giới sinh vật, từ đó ràng buộc các quy hoạch phát triển kinh tế đơn ngành phải được thảo luận rộng rãi trong các ngành khoa học có liên quan. Hệ thống quy hoạch các khu bảo tồn tự nhiên cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó. Vào những thập niên cuối của thế kỷ XIX các nhà khoa học cảm thấy khoảng cách biệt lập giữa các khoa học về trái đất và sinh vật học còn khá rõ và ý tưởng lôi kéo xích lại gần nhau các khoa học này đã phát sinh ra một bộ môn mới trên cơ sở của cảnh quan học và sinh thái học ra đời.
Về bản chất nó dựa trên cơ sở phân tích đặc điểm sinh thái của các cảnh quan. Nhà động vật học người Đức Haeckel 1866 đã dùng danh từ "sinh thái học" là khoa học chỉ mối liên quan giữa các cơ thể sống và các yếu tố môi trường. Những công bố về mối quan hệ này đã được Mobius cho ra mắt vào năm 1877. Sau đó là những nghiên cứu của các khoa học địa lý và sinh vật học (chủ yếu là thực vật) 5 được xuất bản vào năm 1905, 1916 do Clemeut và Covoles chủ trì, thí dụ công trình về diễn thế thực vật ở các đụn cát ven hồ Michigan (Mỹ).
Sau này vào đầu thế kỷ XX các nhà khoa học Tây Âu, Mỹ và Nga đã quan niệm môn khoa học mới là "cảnh quan sinh thái" hay "địa hệ sinh thái" đều lấy từ tiếng Đức), là một nhánh của khoa học địa lý tự nhiên. Tổ hợp liên quan qua lại giữa các cơ thể sống và các điều kiện môi trường xung quanh đã mở ra một khái niệm mới, đó là các "hệ sinh thái". Ngày nay, môn khoa học này rất phát triển ở các nước Bắc Mỹ, Canada, Mỹ và các nước Châu Âu: Hà Lan, Séc, Đức, Nga. Người ta đã thành lập các bản đồ về "hệ sinh thái" thực chất là các hệ thống tự nhiên - kinh tế - xã hội hoạt động theo các quy luật tự nhiên và nhân sinh.
Trên thế giới, người ta đã ứng dụng các bản đồ cảnh quan sinh thái và bản đồ các hệ sinh thái để quản lý và quy hoạch môi trường. Mỹ - Canada - Mexico thành lập bản đồ các hệ sinh thái chung cho cả 3 nước. Bộ môi trường Canada, Viện y tế và môi trường Hà Lan đã đánh giá cao báo cáo trạng môi trường trên cơ sở các hệ sinh thái. Ở Canada giai đoạn 1970 - 1985 đã tiến hành kiểm kê tài nguyên cho diện tích 600.000 km2 trên cơ sở các hệ sinh thái.
Khối SEP (cộng đồng tương trợ kinh tế các nước Xã hội Chủ nghĩa vào những năm 70 thế kỷ trước đã tổ chức tập huấn cho các nhà nghiên cứu hướng quy hoạch lãnh thổ trên cơ sở phân tích các cảnh quan sinh thái. Ở Ukraina việc quy hoạch các vùng phát triển kinh tế đều dựa trên các cảnh quan sinh thái. Ở Đức, quy hoạch cảnh quansinh thái phục vụ cho các mục đích phát triển bền vững và bảo tồn đều dựa vào phân tích chức năng các cảnh quan sinh thái. Ở Tiệp Khắc cũ đã soạn thảo phương pháp quy hoạch cảnh quan sinh thái phục vụ công tác quy hoạch và thiết kế.
Phương pháp này tập trung vào việc sử dụng tối ưu các đặc điểm cảnh quan sinh thái trên quan điểm sinh thái học nhằm thiết lập các điều kiện hòa hợp giữa hoạt động kinh tế của con người và môi trường. Phương pháp quy hoạch cảnh quan sinh thái được thể hiện qua 2 bước: - Soạn thảo số liệu: 1. Phân tích số liệu chuyên ngành 6 2. Tổng hợp thành lập bản đồ cảnh quan sinh thái 3.
Diễn giải các số liệu cảnh quan sinh thái - Tối ưu hóa việc sử dụng lãnh thổ dưới góc độ cảnh quan sinh thái: 4. Đề xuất Đây là phương pháp sử dụng chính trong khối SEV cũ để đánh giá lãnh thổ và quy hoạch. Trong thiết kế quy hoạch vùng phải bắt đầu từ việc nghiên cứu địa lý tổng hợp vùng quy hoạch, với mục đích cơ bản là đánh giá tổng hợp lãnh thổ trên cơ sở phân hóa theo chức năng của nó. Do đó việc xây dựng bản đồ cảnh quan là việc đầu tiên làm cơ sở để đánh giá.
Bản đồ cảnh quan cho phép nhìn nhận nhanh nhất các đặc điểm tự nhiên của từng đơn vị lãnh thổ, nhất là vai trò phụ thuộc, chi phối lẫn nhau, tác động qua lại của các đơn vị vùng kế cận để có thể sử dụng chúng một cách hài hòa, hợp lý nhất. Chính sự khác biệt của bản đồ cảnh quan với một số bản đồ mô tả chuyên ngành khác ở chỗ nó có thứ bậc rõ ràng, chi phối lẫn nhau và phân hóa theo từng cấp phụ thuộc vào tỉ lệ bản đồ nghiên cứu là công cụ đắc lực cho định hướng sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, cảnh quan học được du nhập vào từ những năm 60 thế kỷ trước nhưng ít được phát triển. Cảnh quan thực sự được ứng dụng trong thực tế từ những năm 80 trên cơ sở phân tích hình thái các cảnh quan.
Kể từ năm 1993 khi hệ thống phân vị do Viện Địa lý xây dựng thì việc xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ, các địa phương mới được ấn hành phổ biến. Hiện nay ở hầu hết các công trình nghiên cứu lãnh thổ các cấp đều có đề mục xây dựng bản đồ cảnh quan phục vụ các mục đích khác nhau. Chúng dần dần được phổ biến như các bản đồ chuyên ngành khác do tính tổng hợp và nội dung đầy đủ của nó. Tính ứng dụng của nó càng được phổ cập khi các yêu cầu về thông tin tăng lên, các tư liệu về cảnh quan được phân tích phục vụ xây dựng giải pháp cho phát triển bền vững.
7 Có thể khẳng định rằng, tất cả các công trình nghiên cứu cảnh quan ở nước ta chủ yếu đều dựa trên nền tảng, lý luận khoa học cảnh quan của trường phái nước Nga. Tuỳ vào từng giai đoạn phát triển và để đáp ứng nhu cầu thực tiễn mà nội dung các công trình nghiên cứu cảnh quan được thể hiện dưới các tiêu đề: “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam – Vũ Tự Lập, 1979”, “Cơ sở cảnh quan của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam – Phạm Hoàng Hải, 1997”, “Sinh thái cảnh quan – Nguyễn Thế Thôn, 2006”, “Đánh giá cảnh quan theo hướng tiếp cận kinh tế – Nguyễn Cao Huần”.Có thể chia thành hai giai đoạn phát triển cảnh quan ở Việt Nam như sau: - Giai đoạn từ năm 1954 – 1980: đặc điểm giai đoạn này là phát hiện sự phân hoá lãnh thổ theo hệ thống phân vị của hướng phân vùng địa lý tự nhiên. Có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả, trong đó có một công trình rất đáng chú ý về mặt lý luận, đó là giáo trình cơ bản cho sinh viên chuyên ngành cảnh quan “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” của Vũ Tự Lập 1976. Trong công trình này, tác giả đã đưa ra một hệ thống phân vị riêng khá đầy đủ từ cấp lớn nhất đến cấp nhỏ nhất.
Ưu điểm của phân vị này là sự kết hợp nhuần nhuyễn tính địa đới và phi địa đới trong sự phân chia các cấp phân vị. Lần đầu tiên ở Việt Nam, mỗi một cấp lại được xây dựng trên một chỉ tiêu xác định. Đối với cấp cảnh quan địa lý – cấp quan trọng nhất, có sự đồng nhất về mặt địa đới và phi địa đới. Theo ông: “cảnh quan địa lý là một tổng thể được phân hoá trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đới cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thực vật và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo cấu trúc ngang đồng nhất”.
Với cách xây dựng phân vị như đã nói ở trên, tác giả nhấn mạnh việc nghiên cứu cảnh quan có thể tiến hành theo cách từ trên xuống bằng con đường phân vùng hoặc theo cách từ dưới lên, nghĩa là nghiên cứu cảnh quan không chỉ là sự kế thừa, phân tích có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các chuyên ngành mà còn là công việc độc lập của các nhà nghiên cứu cảnh quan từ quá trình khảo sát ngoài thực địa 8 đến phân tích tư liệu, tài liệu đã thu thập được trong các thí nghiệm. Với hệ thống phân vị nêu trên đã cho phép chúng ta có một tư duy lôgic về sự phân hoá thiên nhiên vốn hết sức đa dạng và phong phú của nước ta. - Giai đoạn 1980 - đến nay: nội dung chủ yếu nghiên cứu cảnh quan của giai đoạn này được tiến hành theo hướng phân loại không dựa vào các cá thể địa tổng thể.