Tổng quan luận án

Công trình "Từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt trong Nam Việt Dương hiệp tự vị của Taberd 1838" do nghiên cứu sinh Trần Hương Thục thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Vũ Đức Nghiệu, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số: 62.02) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2024).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghiên cứu lịch sử tiếng Việt đòi hỏi phải tìm hiểu quá trình và diễn biến cụ thể ở từng phương diện cấu trúc qua các giai đoạn phát triển. Trong khi lịch sử ngữ âm đã đạt được những thành tựu nhất định và lịch sử từ vựng đã có các khảo cứu bước đầu, các công trình nghiên cứu về lịch sử ngữ pháp tiếng Việt vẫn còn rất khiêm tốn. Đối với tiếng Việt giai đoạn trung đại, các cuốn từ điển đối dịch Việt - Latinh là nguồn tư liệu có tính điển hình, ghi lại diện mạo ngôn ngữ ở từng lát cắt lịch sử. Trong số ba cuốn từ điển quan trọng gồm Dictionarivm Annamiticvm Lvsitanvm, et Latinvm (Alexandre de Rhodes, 1651), Dictionarium Anamitico Latinum (Pigneaux de Béhaine, 1772-1773) và Dictionarium Anamitico Latinum - Nam Việt Dương hiệp tự vị (Jean-Baptiste Louis Taberd, 1838), hai cuốn đầu đã được khảo cứu nhiều ở các bình diện khác nhau. Ngược lại, cuốn từ điển của Taberd (1838) – vốn kế thừa và bổ sung từ bản thảo của Béhaine – vẫn chưa có công trình nào khảo cứu toàn diện và có hệ thống trên cả hai bình diện từ vựng học và ngữ pháp học.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết

Luận án xác định hai câu hỏi nghiên cứu trung tâm:

  1. Từ vựng tiếng Việt thể hiện trong Nam Việt Dương hiệp tự vị như thế nào? Từ vựng trong Nam Việt Dương hiệp tự vị có được bổ sung gì so với từ vựng trong Tự vị An Nam - Latinh?
  2. Ngữ pháp tiếng Việt thể hiện trong Nam Việt Dương hiệp tự vị như thế nào; và trong cuốn từ điển này, Taberd vừa nhận thức, miêu tả, vừa trình bày ngữ pháp ấy ra sao?

Các câu hỏi nghiên cứu dựa trên ba giả thiết khoa học:

  • Thứ nhất: Diện mạo từ vựng tiếng Việt nửa đầu thế kỷ XIX phản ánh trong từ điển gồm các lớp từ vựng có thể nhận diện, khu biệt và so sánh lịch đại để làm rõ tính đồng nhất và dị biệt.
  • Thứ hai: Ngữ liệu mục từ trong từ điển cho phép khảo chứng các hiện tượng ngữ pháp, quy tắc cú pháp, từ loại và tổ chức các ngữ đoạn phụ thuộc (danh ngữ, động ngữ).
  • Thứ ba: Khoảng cách thời gian biên soạn giữa hai cuốn từ điển của Béhaine và Taberd tạo ra những thay đổi, bổ sung cụ thể trong bảng từ, có thể kiểm kê và đánh giá một cách định lượng và định tính.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án hướng đến ba mục đích chính:

  1. Làm rõ các thành phần từ vựng tiếng Việt (theo nguồn gốc, phạm vi, mức độ sử dụng) trong Nam Việt Dương hiệp tự vị, xác lập diện mạo từ vựng tiếng Việt nửa đầu thế kỷ XIX trong bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ.
  2. Làm rõ những nội dung bổ sung trong bảng từ của Nam Việt Dương hiệp tự vị so với Tự vị An Nam - Latinh, xác định những đóng góp cụ thể của Taberd.
  3. Phác thảo diện mạo ngữ pháp tiếng Việt qua miêu tả của Taberd, đồng thời xác lập cấu trúc tổ chức của danh ngữ và động ngữ tiếng Việt tại thời điểm năm 1838 trong mối tương quan lịch đại.

Để hoàn thành các mục tiêu trên, tác giả triển khai năm nhiệm vụ cụ thể: xác định khung lý thuyết nghiên cứu; kiểm kê và so sánh bảng từ của hai cuốn từ điển; khảo sát và miêu tả diện mạo các lớp từ vựng; miêu tả diện mạo ngữ pháp qua phần dẫn giải của Taberd; phân tích cấu trúc danh ngữ và động ngữ trong nguồn ngữ liệu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vốn từ vựng tiếng Việt trong bảng từ Nam Việt Dương hiệp tự vị (tập trung vào các lớp từ phân loại theo tiêu chí khu biệt và các mục từ bổ sung so với Béhaine); Cấu trúc của hai ngữ đoạn phụ kết là danh ngữ và động ngữ; Nhận thức và diễn giải ngữ pháp của Taberd.
  • Phạm vi nghiên cứu: Ngữ liệu thành văn trong bản in năm 1838 của Nam Việt Dương hiệp tự vị (khảo sát qua bản chụp in lại của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, NXB Văn học, 2004) và bản sao chép tay cuốn Tự vị An Nam - Latinh của Pigneaux de Béhaine (ký hiệu V16 tại Văn khố Hội Thừa sai Hải ngoại Paris); Bản dịch Ngữ pháp tiếng Việt của Taberd 1838 của Nguyễn Khắc Xuyên (1994); Các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỷ XVIII-XIX dùng để đối chiếu khi cần thiết.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các hướng nghiên cứu đi trước liên quan trực tiếp đến các nội dung đề tài:

Nghiên cứu thành phần từ vựng tiếng Việt

  • Giai đoạn cận - hiện đại: Công trình Lịch sử từ vựng tiếng Việt thời kỳ 1858-1945 của Lê Quang Thiêm (2003) khảo sát diễn biến từ vựng - ngữ nghĩa qua báo chí, văn học; Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỉ XX của Hà Quang Năng (2009) miêu tả các lớp thuật ngữ, từ địa phương, từ vay mượn; Các bài viết của Vũ Đức Nghiệu (2009), Vương Toàn (2011), Trần Nhật Chính (2002), Nguyễn Thúy Nhung (2007).
  • Giai đoạn lịch đại và nguồn gốc: Các nghiên cứu về từ vay mượn và từ nguyên của M. Alves (2009, 2019, 2020); Nghiên cứu từ cổ qua văn bản Nôm của Hoàng Thị Ngọ (1999, 2002), Nguyễn Thị Hải Vân (2018), Nguyễn Tá Nhí (1985); Chuyên luận Lược khảo lịch sử từ vựng tiếng Việt của Vũ Đức Nghiệu (2011) miêu tả diện mạo từ vựng qua các thời kỳ, tuy nhiên ở giai đoạn trung đại chỉ mới tập trung vào từ điển của Rhodes (1651) và Béhaine (1772-1773).

Nghiên cứu danh ngữ tiếng Việt

  • Giai đoạn khởi đầu và nghiên cứu đồng đại: Khảo cứu sơ lược của Alexandre de Rhodes (1651), J.L. Taberd (1838), Trương Vĩnh Ký (1883), Trần Trọng Kim (1941), Lê Văn Lý (1972); Sơ đồ cấu trúc lượng từ của M.B. Emeneau (1951); Miêu tả danh ngữ của L. Thompson (1965); Hệ thống hóa của Nguyễn Tài Cẩn (1960, 1975a, 1975b), Đinh Văn Đức (1986, 1998), Cao Xuân Hạo (1999, 2000, 2008), Hoàng Dũng và Nguyễn Thị Ly Kha (2004).
  • Nghiên cứu trên nguồn ngữ liệu lịch đại: Các bài viết khảo cứu hư từ chỉ lượng và cấu trúc danh ngữ cổ của Trần Thị Mỹ và Nguyễn Thiện Nam (1981), Đinh Văn Đức và Nguyễn Việt Hà (2002), Vũ Đức Nghiệu (2010, 2014, 2019a); Chuyên khảo do Đinh Văn Đức chủ biên (2015); Luận án tiến sĩ của Võ Thị Minh Hà (2017) khảo sát danh ngữ thế kỷ XVII; Chuyên luận Ngữ pháp lịch sử tiếng Việt: từ và ngữ đoạn của Vũ Đức Nghiệu (2020).

Nghiên cứu động ngữ tiếng Việt

  • Nghiên cứu đồng đại: Nguyễn Kim Thản (1964), Nguyễn Tài Cẩn (1975b), Đinh Văn Đức (1985), Diệp Quang Ban (1991, 2005), Cao Xuân Hạo (1998, 2001), V. Panfilov (2008), Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (2009), Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến (2017).
  • Nghiên cứu lịch đại: Khảo cứu các nhóm phụ từ và hư từ của Nguyễn Tài Cẩn (1981), Trần Thị Mĩ và Nguyễn Thiện Nam (1981), Đinh Văn Đức, Nguyễn Văn Chính và Phạm Tú (1981), Trần Hoàng (1996, 2000), Nguyễn Văn Chính và Lê Đông (2016), Vũ Đức Nghiệu (2010, 2017a, 2020), Võ Thị Minh Hà (2016, 2017), Lã Minh Hằng (2018).

Nghiên cứu về cuốn từ điển của Taberd (1838)

Các công trình trước đây về Nam Việt Dương hiệp tự vị chủ yếu tiếp cận ở góc độ văn tự và phương ngữ ngữ âm: Huỳnh Công Tín (2011) giới thiệu cấu trúc và ngữ âm phương ngữ; Nguyễn Thị Bạch Nhạn (1993), Nguyễn Khắc Kham (1993), Phạm Thị Kiều Ly (2018, 2019), Nguyễn Văn Hiệp (2020, 2021) nghiên cứu về lịch sử chữ Quốc ngữ; Nguyễn Khắc Xuyên (1994) dịch phần ngữ pháp Latinh sang tiếng Việt.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn

Chưa có công trình nào tiến hành khảo cứu độc lập, toàn diện về cả hệ thống từ vựng (phân lớp từ ngữ, kiểm kê biến đổi bảng từ so với Béhaine) và cấu trúc ngữ pháp (danh ngữ, động ngữ, khảo sát 217 từ công cụ ngữ pháp) trên nguồn ngữ liệu Nam Việt Dương hiệp tự vị.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

                              KHUNG LÝ THUYẾT LUẬN ÁN
   LÝ THUYẾT TỪ VỰNG HỌC                                       LÝ THUYẾT NGỮ PHÁP HỌC
Phân lớp từ vựng                Tiêu chí nhận diện              Cấu trúc Danh ngữ               Cấu trúc Động ngữ
- Nguồn gốc: Hán Việt,          - Từ cổ (từ đồng nghĩa thế)     - Trung tâm: Danh từ đơn vị     - Mô hình ngữ pháp phụ thuộc
  Khmer, Ấn - Âu                - Từ lịch sử (mất đối tượng)    - Phụ trước: Lượng từ, số từ    - Trung tâm: Động từ
- Phạm vi: 3 vùng phương ngữ    - Từ địa phương (hạn chế vùng)  - Phụ sau: Định ngữ, chỉ định   - Phụ trước/sau: Hư từ/Phó từ
- Mức độ: Tích cực / Tiêu cực
  1. Phân lớp từ vựng:

    • Từ Hán Việt: Luận án tiếp thu quan niệm của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến và Lê Đình Khẩn, xác định từ Hán Việt là từ ngữ gốc Hán nhập hệ vào tiếng Việt từ đời Đường trở đi và các từ ngữ Hán Việt được cấu tạo tại Việt Nam theo mô hình Hán hoặc mô hình Việt; tính đến các biến thể ngữ âm phương ngữ kị húy (như chánh/chính, tánh/tính, bịnh/bệnh).
    • Từ gốc Khmer: Các từ mượn trong quá trình cộng cư ở Nam Bộ đã Việt hóa (Lê Trung Hoa 2002, Nguyễn Thị Huệ 2010), gồm địa danh, tên sản vật, dụng cụ sinh hoạt và tổ hợp gốc Khmer + Việt.
    • Từ gốc Ấn - Âu: Các từ ngữ tiếp nhận từ các ngôn ngữ phương Tây.
    • Từ địa phương: Vận dụng quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp (2010) và khung phân chia 3 vùng phương ngữ (Bắc, Trung, Nam) của Hoàng Thị Châu.
    • Từ cổ và từ lịch sử: Từ cổ được xác định là từ có từ đồng nghĩa tương ứng thay thế trong tiếng Việt hiện đại (Nguyễn Thiện Giáp 2010, Đào Duy Anh 1975, Trần Trọng Dương 2012); Từ lịch sử là từ bị đẩy ra khỏi vốn từ tích cực do đối tượng biểu đạt không còn tồn tại trong đời sống xã hội (Mai Ngọc Chừ 1997, Nguyễn Thiện Giáp 2010).
  2. Cơ sở lý luận về danh từ và danh ngữ:

    • Phân loại danh từ dựa trên tiêu chí [± đơn vị] (Nguyễn Thị Ly Kha 2001) thành danh từ đơn vị và danh từ khối; phân chia danh từ khối dựa trên tiêu chí [± đếm được] (Cao Xuân Hạo 1999).
    • Xác định trung tâm danh ngữ: Luận án lựa chọn giải pháp coi danh từ đơn vị là trung tâm ngữ pháp của danh ngữ (theo Nguyễn Tài Cẩn 1975a, Phan Ngọc, Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha, Vũ Đức Nghiệu).
    • Khái niệm danh ngữ: Ngữ đoạn phụ kết có danh từ làm trung tâm và các thành tố phụ trước/sau được tổ chức theo quy tắc xác định (Vũ Đức Nghiệu 2020).
  3. Cơ sở lý luận về động từ và động ngữ:

    • Luận án tiếp cận cấu trúc động ngữ theo đường hướng ngữ pháp phụ thuộc (Vũ Đức Nghiệu 2017a, 2020): Động từ đảm nhiệm vị trí trung tâm, các thành tố phụ trước và phụ sau là các hư từ (phó từ/phụ từ) đóng vai trò điều biến quan hệ ngữ pháp, ý nghĩa thời-thể, mức độ, mệnh lệnh và tình thái liên nhân (loại trừ các bổ tố, trạng tố thuộc cấp quản lý của câu).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp từ vựng học:
    • So sánh đối lập để phân lập các lớp từ theo nguồn gốc, phạm vi và mức độ sử dụng.
    • Phân loại và hệ thống hóa.
    • Phương pháp miêu tả.
    • Thống kê và so sánh đối chiếu: So sánh số lượng mục từ giữa Nam Việt Dương hiệp tự vị (1838) và Tự vị An Nam - Latinh (1772-1773).
    • Nguyên tắc thống kê mục từ: Chỉ thống kê các mục từ có giải thích nghĩa hoặc có thông tin chuyển chú (vel, id); không thống kê từ đầu mục chỉ dùng để gom nhóm; đơn vị thống kê bao gồm cả cụm từ cố định (thành ngữ, quán ngữ), tục ngữ, ca dao và kết cấu tự do nếu được từ điển xử lý như một mục từ độc lập.
  • Phương pháp ngữ pháp học:
    • Phân tích thành tố trong ngữ đoạn và phân tích phân bố thành tố.
    • Phương pháp lịch sử - so sánh với thủ pháp tiền quan (so với ngữ liệu thế kỷ XVII, XVIII) và hồi quan (so với tiếng Việt hiện đại).
    • Sử dụng các khái niệm ngữ pháp hiện đại để khảo sát, phân tích nhận thức ngữ pháp của Taberd và 217 từ công cụ ngữ pháp được ghi nhận trong từ điển.
  • Nguồn ngữ liệu: Ngữ liệu danh ngữ và động ngữ được trích xuất trực tiếp từ bảng từ của từ điển và phần văn bản diễn giải ngữ pháp của chính tác giả Taberd.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, Cơ sở lí thuyết và giới thiệu về cuốn Nam Việt Dương hiệp tự vị

Chương này tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu về ba mảng: thành phần từ vựng tiếng Việt, cấu trúc danh ngữ và cấu trúc động ngữ trong các nguồn tư liệu lịch đại. Đồng thời, chương 1 thiết lập hệ thống khái niệm công cụ làm việc: các tiêu chí phân lớp từ vựng (Hán Việt, Khmer, Ấn - Âu, địa phương, từ cổ, từ lịch sử); các tiêu chí phân loại danh từ ([± đơn vị], [± đếm được]), giải pháp xác lập danh từ đơn vị làm trung tâm danh ngữ; nguyên tắc mô hình hóa động ngữ theo ngữ pháp phụ thuộc. Cuối chương giới thiệu tổng quan về văn bản Nam Việt Dương hiệp tự vị.

Chương 2: Một số vấn đề từ vựng tiếng Việt trong Nam Việt Dương hiệp tự vị

Chương 2 trình bày tiểu sử của Jean-Baptiste Louis Taberd, bối cảnh biên soạn và xuất bản từ điển tại Serampore (Ấn Độ) năm 1838. Trọng tâm của chương gồm hai nội dung lớn:

  1. Khảo sát biến đổi bảng từ:

    • Tiến hành kiểm kê, so sánh bảng từ giữa Nam Việt Dương hiệp tự vị và Tự vị An Nam - Latinh (Béhaine).
    • Phân định rõ ba nhóm mục từ: các mục từ bổ sung mới của Taberd; các mục từ bị loại bỏ; các mục từ có sự chỉnh sửa, bổ sung về ngữ nghĩa, chuyển chú hoặc dạng thức chữ viết.
  2. Khảo sát các lớp từ "có đánh dấu":

    • Lớp từ ngữ gốc Khmer: Nhận diện và thống kê các từ mượn tiếng Khmer chỉ địa hình (bưng, vàm, lung), sản vật (sa kê, măng cụt, thốt nốt), công cụ (cà ràng, cần xé, xà rông).
    • Lớp từ ngữ gốc Ấn - Âu: Các từ ngữ tiếp xúc sớm được ghi nhận.
    • Lớp từ ngữ địa phương: Phân tích các từ ngữ và biến thể ngữ âm thuộc phương ngữ Nam, Trung và Bắc; làm rõ dấu ấn phương ngữ Nam Bộ trong từ điển.
    • Lớp từ ngữ cổ và từ ngữ lịch sử: Nhận diện các từ cổ không còn dùng độc lập hoặc thay đổi nghĩa, cùng hệ thống từ ngữ hành chính, quan chế phong kiến.

Bảng tổng hợp tương quan các lớp từ ngữ khảo sát trong luận án:

Lớp từ ngữ phân tích Tiêu chí nhận diện / Phân loại Biểu hiện tiêu biểu trong từ điển
Từ Hán Việt Vay mượn từ đời Đường và cấu tạo tại Việt Nam; tính cả biến thể kị húy chánh/chính, tánh/tính, bịnh/bệnh, nhơn/nhân, bổn/bản
Từ gốc Khmer Vay mượn tiếp xúc Nam Bộ, địa danh, sản vật, sinh hoạt bưng, vàm, lung, phum, sóc, cà ràng, thốt nốt, măng cụt
Từ gốc Ấn - Âu Vay mượn từ các ngôn ngữ châu Âu qua giao thương, truyền giáo Các từ ngữ chỉ khái niệm, sản vật, đơn vị phương Tây
Từ địa phương Phân bố theo 3 vùng phương ngữ (Bắc, Trung, Nam) và biến thể ngữ âm gẩm (gẫm), chưởi (chửi), chủi (chổi), sặm (sậm)
Từ cổ Bị thay thế bởi từ đồng nghĩa hiện đại hoặc lu mờ ý nghĩa bợ (vay), khứng (chịu), mắng (nghe), đam (đem), chiềng (trình)
Từ lịch sử Mất đi cùng sự thay đổi của chế độ xã hội, quan chế phong kiến Hệ thống chức danh, phẩm hàm, thi cử, luật lệ thời phong kiến

Chương 3: Một số vấn đề ngữ pháp tiếng Việt trong Nam Việt Dương hiệp tự vị

Chương 3 tập trung phân tích hai cấu trúc ngữ đoạn và đánh giá nhận thức ngữ pháp của Taberd:

  1. Cấu trúc danh ngữ tiếng Việt:

    • Thành tố trung tâm: Khảo sát các danh từ đơn vị đảm nhiệm vai trò trung tâm ngữ pháp.
    • Thành tố phụ trước: Hệ thống từ chỉ xuất, số từ, lượng từ toàn thể (cả và, phô, thay thảy, hết cả).
    • Thành tố phụ sau: Các định ngữ miêu tả, sở thuộc, chỉ định (này, nọ, kia, ấy).
    • Đánh giá mô hình danh ngữ: Cấu trúc danh ngữ năm 1838 đã hoàn thiện đầy đủ các vị trí, phản ánh lối diễn đạt logic chịu ảnh hưởng của văn xuôi Quốc ngữ.
  2. Cấu trúc động ngữ tiếng Việt:

    • Thành tố trung tâm: Động từ trung tâm.
    • Thành tố phụ trước: Các nhóm phụ từ chỉ thời-thể (đã, đang, sẽ), mệnh lệnh/sai khiến, mức độ, thể bị động (phải, bị), thói quen (hay).
    • Thành tố phụ sau: Các phụ từ chỉ phương hướng, kết quả, tình thái kết thúc (lại, đi, ra, vào, lấy, xong).
    • Xây dựng lược đồ cấu trúc thành tố phụ trước và phụ sau động ngữ.
  3. Nhận xét diễn giải ngữ pháp của Taberd:

    • Phân tích phần diễn giải ngữ pháp tiếng Latinh của Taberd: việc vận dụng khung ngữ pháp truyền thống Hy - La (mô hình ngữ pháp Charles-François Lhomond) để miêu tả ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt.
    • Khảo sát hệ thống đại từ và phụ từ; phân tích chi tiết 217 từ công cụ ngữ pháp được Taberd ghi chép và giải nghĩa trong từ điển.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án xác lập một cách có hệ thống diện mạo từ vựng và cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt ở nửa đầu thế kỷ XIX (năm 1838), lấp đầy khoảng trống tư liệu giữa giai đoạn tiếng Việt trung đại thế kỷ XVII-XVIII và cận - hiện đại cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
  • Vận dụng nhất quán khung lý thuyết ngữ pháp phụ thuộc và tiêu chí phân loại danh từ [± đơn vị] vào việc giải mã cấu trúc danh ngữ và động ngữ trên nguồn ngữ liệu từ điển lịch sử.
  • Đánh giá khách quan, khoa học về phương pháp ngữ pháp hóa tiếng Việt của các giáo sĩ phương Tây đầu thế kỷ XIX, chỉ ra những điểm phù hợp và những hạn chế mang tính lịch sử khi áp dụng mô hình ngữ pháp Latinh vào tiếng Việt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Kiểm kê, định lượng và phân loại cụ thể những đóng góp bổ sung mới của Taberd trong bảng từ Nam Việt Dương hiệp tự vị so với công trình của Pigneaux de Béhaine.
  • Cung cấp nguồn ngữ liệu ngữ pháp lịch sử được xác thực, đặc biệt là danh sách và phân tích chức năng của 217 từ công cụ ngữ pháp tiếng Việt nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, phương ngữ học, từ điển học lịch sử và hỗ trợ công tác giảng dạy ngôn ngữ học, chú giải văn bản Hán - Nôm và chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn của đề tài, luận án tập trung khảo sát trên nguồn ngữ liệu thành văn của hai cuốn từ điển đối dịch Việt - Latinh (Nam Việt Dương hiệp tự vị và Tự vị An Nam - Latinh), chưa mở rộng khảo sát so sánh với toàn bộ các thể loại văn bản văn xuôi, hành chính, văn học Nôm và chữ Quốc ngữ cùng thời kỳ. Về ngữ pháp, luận án chỉ tập trung vào hai ngữ đoạn chính là danh ngữ và động ngữ, chưa đi sâu vào cấu trúc cú pháp cấp câu và các loại ngữ đoạn khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đối sánh diện mạo từ vựng và ngữ pháp của Nam Việt Dương hiệp tự vị với các văn bản chữ Nôm, văn bản dịch thuật Công giáo và thư từ Quốc ngữ thế kỷ XIX; mở rộng khảo sát cấu trúc cú pháp câu và các hiện tượng liên kết văn bản tiếng Việt lịch sử.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và nhà nghiên cứu Lịch sử tiếng Việt: Cung cấp bức tranh tổng thể và các chỉ số cụ thể về từ vựng, ngữ pháp năm 1838; khung lý thuyết và phương pháp xử lý ngữ liệu từ điển đối dịch lịch sử.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo chuyên ngành Ngôn ngữ học: Là tài liệu giảng dạy trực tiếp cho các học phần Lịch sử tiếng Việt, Từ vựng học tiếng Việt, Ngữ pháp học tiếng Việt và Phương ngữ học.
  • Đối với chuyên gia biên soạn từ điển và nghiên cứu văn bản học: Cung cấp cứ liệu đối chiếu cho việc lập từ điển lịch sử tiếng Việt, giải nghĩa từ cổ, từ lịch sử và các biến thể phương ngữ trong văn bản chữ Quốc ngữ thế kỷ XVIII-XIX.

Câu hỏi thường gặp

1. Nam Việt Dương hiệp tự vị (1838) có mối quan hệ như thế nào với cuốn Tự vị An Nam - Latinh (1772-1773) của Pigneaux de Béhaine?

Nam Việt Dương hiệp tự vị được Taberd khởi thảo và biên soạn lại dựa trên việc tiếp thu trực tiếp bản thảo cuốn Tự vị An Nam - Latinh của Pigneaux de Béhaine (khởi thảo 1772-1773). Taberd đã chỉnh lý, loại bỏ một số mục từ cũ, bổ sung một khối lượng lớn các mục từ mới, hoàn thiện hệ thống chữ Quốc ngữ, bổ sung phần diễn giải ngữ pháp và in ấn xuất bản tại Serampore (Ấn Độ) năm 1838.

2. Luận án áp dụng nguyên tắc nào khi thống kê và kiểm kê bảng từ của hai cuốn từ điển?

Luận án chỉ thống kê các mục từ có giải thích nghĩa hoặc có thông tin chuyển chú (như vel, id). Các từ đầu mục không giải thích nghĩa mà chỉ dùng để tập hợp các từ ngữ khác không được tính là đơn vị thống kê. Đơn vị thống kê bao gồm cả các mục từ là cụm từ cố định (thành ngữ, quán ngữ), tục ngữ, ca dao và kết cấu tự do nếu chúng được từ điển ghi nhận độc lập như một mục từ.

3. Thành tố trung tâm của danh ngữ tiếng Việt được luận án xác định theo giải pháp nào?

Luận án lựa chọn giải pháp xác định danh từ đơn vị (thường gọi là loại từ) là trung tâm ngữ pháp của danh ngữ (theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn 1975a, Cao Xuân Hạo, Vũ Đức Nghiệu). Danh từ đơn vị giữ vai trò chi phối và điều biến các thành tố phụ trước và sau trong mô hình danh ngữ.

4. Việc phân loại phương ngữ trong luận án dựa trên căn cứ lý thuyết nào?

Luận án vận dụng quan niệm phân chia 3 vùng phương ngữ lớn của Hoàng Thị Châu gồm: Phương ngữ Bắc (các tỉnh phía Bắc và đồng bằng sông Hồng), Phương ngữ Trung (từ Thanh Hóa đến Bắc đèo Hải Vân) và Phương ngữ Nam (từ Nam đèo Hải Vân đến cực Nam). Khung phân loại này kết hợp với quan niệm từ địa phương của Nguyễn Thiện Giáp (2010) để nhận diện các từ ngữ và biến thể ngữ âm trong nguồn ngữ liệu.

5. Cấu trúc động ngữ tiếng Việt trong luận án được phân tích theo đường hướng nào?

Cấu trúc động ngữ được phân tích theo đường hướng ngữ pháp phụ thuộc (Vũ Đức Nghiệu 2017a, 2020). Cấu trúc chỉ gồm động từ trung tâm và các thành tố phụ trước/sau là các hư từ (phó từ/phụ từ) có chức năng ngữ pháp, thời-thể, mức độ và tình thái; không bao gồm các bổ tố, trạng tố thuộc cấp quản lý của câu.


Kết luận

Luận án "Từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt trong Nam Việt Dương hiệp tự vị của Taberd 1838" của Trần Hương Thục là công trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử tiếng Việt dựa trên nguồn tư liệu từ điển đối dịch đầu thế kỷ XIX. Bằng phương pháp nghiên cứu từ vựng học và ngữ pháp học lịch sử, luận án đã làm rõ diện mạo các lớp từ vựng, xác định những đóng góp bổ sung của Taberd so với Pigneaux de Béhaine, đồng thời mô hình hóa cấu trúc danh ngữ, động ngữ và phân tích 217 từ công cụ ngữ pháp. Công trình đóng góp nguồn tư liệu và luận cứ khoa học tin cậy cho việc nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, từ điển học và lịch sử văn hóa Việt Nam.