Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN 1. Hoạt động xuất bản – đối tượng quản lý của Nhà nước 1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động xuất bản 1. Khái niệm hoạt động xuất bản Khái niệm xuất bản theo tiếng Anh là Publish, tiếng Pháp là Publier, đều có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Publicare, nghĩa là công bố cho mọi người biết.
Hoạt động xuất bản đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ và là công cụ thiết yếu để thúc đẩy sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Hoạt động xuất bản vừa là hoạt động sáng tạo tri thức, vừa là hoạt động sản xuất vật chất. Theo Từ điển xuất bản: Xuất bản là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa tư tưởng thông qua việc sản xuất, phổ biến xuất bản phẩm đến nhiều người. Theo Khoản 1, Điều 4 Luật Xuất bản 2012: Xuất bản là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu để in và phát hành hoặc để phát hành trực tiếp qua các phương tiện điện tử.
Hoạt động xuất bản là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa tư tưởng, thông qua việc sản xuất, phổ biến những xuất bản phẩm đến nhiều người, không phải là hoạt động đơn thuần kinh doanh. Hoạt động xuất bản nhằm mục đích phổ biến những tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật; giới thiệu di sản văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa thế giới; nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bằng xuất bản phẩm của mình, đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam. Theo nghĩa rộng, xuất bản được hiểu theo 3 nội dung sau: Thứ nhất, xuất bản là hoạt động tổ chức bản thảo, biên tập bản thảo cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của độc giả và tiêu chí của NXB.
Hoạt động này không phải là hoạt động sáng tác ra tác phẩm, sáng tác tác phẩm là hoạt động sáng tạo của các tác giả. Tuy nhiên, hoạt động tổ chức, khai thác bản thảo là hoạt động quan trọng, giúp 17 hình thành nên những ý tưởng đầu tiên về tác phẩm, từ đó, thậm chí định hướng tác giả vào những nội dung mà độc giả quan tâm. Sau khi có bản thảo, công tác biên tập của các biên tập viên NXB sẽ giúp cho tác phẩm được hoàn thiện về cả nội dung và hình thức thể hiện. Như vậy, theo nội dung này, xuất bản là hoạt động lựa chọn văn hóa, góp phần tạo ra văn hóa thông qua tổ chức bản thảo, hoàn thiện bản thảo thông qua biên tập để đưa đến độc giả các thông tin hoàn thiện nhất, phù hợp với nhu cầu tiếp nhận của độc giả.
Thứ hai, xuất bản là hoạt động nhân bản hàng loạt các bản thảo đã được gia công sửa chữa, biên tập nội dung, thiết kế hình thức phù hợp dưới một dạng vật chất nhất định. Xuất bản chính là hoạt động tuyên truyền văn hóa thông qua việc sử dụng các vật phẩm trung gian chứa thông tin. Để tuyên truyền được cho nhiều người cùng lúc, xuất bản phẩm phải được nhân bản thành nhiều bản để phục vụ nhiều người đọc. Hoạt động nhân bản thông dụng nhất hiện nay chính là hoạt động in ấn.
Sản phẩm của hoạt động in ấn là hàng hóa, chịu sự tác động của các quy luật sản xuất và lưu thông hàng hóa. Ngoài ra, dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, hoạt động nhân bản tác phẩm có thể được thực hiện trong môi trường kỹ thuật số và truyền đi bằng mạng Internet. Đó chính là xuất bản trực tuyến. Xuất bản trực tuyến vẫn phải trải qua quá trình lựa chọn, biên tập hoàn chỉnh bản thảo và nhân bản.
Cái khác ở đây chỉ là cách thức nhân bản và phương tiện vật chất chứa thông tin là khác nhau. Thứ ba, xuất bản là hoạt động truyền bá, phổ biến rộng rãi các sản phẩm chứa thông tin sau khi đã được biên tập và nhân bản. Nhân bản xong mà không đưa đến được bạn đọc thì cũng chưa phải là xuất bản. Sản phẩm xuất bản phải đến được tay bạn đọc có nhu cầu.
Nội dung này của xuất bản chính là hoạt động phát hành xuất bản phẩm. Hoạt động phát hành là khâu cuối cùng của hoạt động xuất bản, là hoạt động truyền thông đại chúng, mục đích của hoạt động xuất bản. Xuất bản là hoạt động truyền bá văn hóa, phát hành xuất bản phẩm vừa là khâu cuối của xuất bản vừa là khâu đầu tiên, mở ra các hướng mới cho hoạt động xuất bản. Hoạt động phát hành vừa là hoạt động tuyên truyền văn hóa, vừa là hoạt động thương mại tiêu thụ hàng hóa.
Phát hành chịu sự điều chỉnh của các quy luật thị trường. Thông qua hoạt động phát hành, các NXB mới nắm được nhu cầu, thị hiếu của bạn đọc, từ đó có những định hướng sản xuất tiếp theo. 18 Theo nghĩa hẹp, hoạt động xuất bản là quá trình tổ chức việc sáng tạo, tác động vào quá trình sáng tác của tác giả để có bản thảo tác phẩm, xử lý và hoàn chỉnh bản thảo, bản mẫu, in thành các xuất bản phẩm nhằm phục vụ nhiều người. Hoạt động xuất bản được nghiên cứu trong luận án là hoạt động xuất bản được hiểu theo nghĩa hẹp.
Đặc điểm hoạt động xuất bản Đặc điểm thứ nhất: hoạt động xuất bản vừa là hoạt động văn hóa tư tưởng và là hoạt động kinh tế: Là một bộ phận của văn hóa, hoạt động xuất bản chịu sự chi phối của các quy luật phát triển văn hóa. Hoạt động xuất bản trong đó trọng tâm là công tác biên tập là một loại lao động khoa học. Biên tập viên, kể cả khi là nhà văn, thì lao động của họ ở NXB không phải là lao động viết văn mà là lao động biên tập. Họ làm việc với các nhà văn, nhà khoa học.
Công cụ lao động của họ là tư duy, đối tượng lao động của họ cũng là tư duy, sản phẩm lao động của họ mang lại là kết quả của quá trình tư duy. Đó là bản thảo của những tác phẩm đạt yêu cầu về giá trị tư tưởng, khoa học và nghệ thuật. Xét về phương diện mục đích và hiệu quả thì xuất bản hướng tới việc cảm hóa con người, cải tạo con người, để cải tạo thiên nhiên và xã hội vì mục đích của con người. Nó là một hoạt động tinh thần, hoạt động trí tuệ và vì trí tuệ.
Song khi các sản phẩm của trí tuệ là sách đã “nhiễm” vào con người thì nó không thể chỉ là dạng tinh thần, mà đến “cái ngưỡng” nhất định nó sẽ chuyển hóa thành lực lượng vật chất. Nhưng hoạt động văn hóa – tư tưởng không thể xã hội hóa, không thể chuyển tải các ý tưởng của mình tới công chúng khi không có các điều kiện vật chất nhất định, không thông qua hoạt động sản xuất. Vì vậy, hoạt động xuất bản còn là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động kinh tế. Từ sự phân tích trên, chính lao động của biên tập viên đã là lao động vật chất.
Họ đã vật chất hóa các ý tưởng của NXB, của nhà văn, nhà khoa học thành các bản thảo, với công cụ, đối tượng lao động đặc thù. Nhưng như vậy, lao động đó mới chỉ là lao động sáng tạo ra bản gốc, bản mẫu. Nó phải qua quá trình vật chất hóa các giá trị tinh thần thành các xuất bản phẩm cụ thể. Quá trình này được thực hiện với sự hỗ trợ của các phương tiện và kỹ thuật của công nghiệp in.
Tác phẩm 19 văn hóa, nghệ thuật, công trình nghiên cứu khoa học, sau khi được NXB hoàn chỉnh, được đưa in thành hàng loạt. Các tiêu hao về lao động sống, lao động quá khứ thể hiện khá rõ ở công đonạ này. Khi đó nó trở thành xuất bản phẩm. Như mọi sản phẩm khác, xuất bản phẩm là một thực thể vật chất.
Khi qua lưu thông, tiêu dùng, để thực hiện mục đích cuối cùng của xuất bản phẩm và của sản xuất vật chất thì xuất bản phẩm trở thành hàng hóa. Nó mang đầy đủ các thuộc tính của hàng hóa. Chịu sự tác động của các quy luật giá trị, giá cả, cung cầu v.v… NXB bán sách của mình là bán cái giá trị tinh thần chứa đựng bên trong cái vỏ vật chất chuyển tải nó nhưng không thể không tính đến các hao phí vật chất đã đầu tư trong quá trình sản xuất. Người mua sách chấp nhận cái “vỏ vật chất” do NXB đã thực hiện, để tiêu dùng cái giá trị đích thực chứa đựng bên trong nó.
Như vậy, người sản xuất – xuất bản – là “kẻ bán” và “người mua” – bạn đọc – là người tiêu dùng đã gặp nhau. Quá trình sản xuất lưu thông đã được thực hiện. NXB đã thu được những cái cấn thu đó là hiệu quả chính trị, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. Bạn đọc đã tìm thấy cái mình cần qua tiêu dùng sách.
Nghiên cứu đặc điểm này để thấy rõ sự tác động qua lại giữa hai hệ thống quy luật phát triển văn hóa và quy luật kinh tế trong xuất bản. Từ đó giải quyết mối quan hệ tác động giữa chúng, tiến tới xử lý thỏa đáng mối quan hệ về hiệu quả kinh tế - hiệu quả xã hội – hiệu quả chính trị của hoạt động xuất bản và của từng xuất bản phẩm cụ thể. Đặc điểm thứ hai: Hoạt động xuất bản là quá trình lao động trí óc với quá trình sản xuất đặc thù. Xuất bản là một loại ngành nghề, và nó trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật đạt lợi nhuận cao ở các nước phát triển.
Hoạt động của nó là dạng hoạt động sản xuất vật chất đặc biệt. Tính đặc biệt do đòi hỏi của sản phẩm sách quy định. Toàn bộ quy trình sản xuất hàng hóa sách là một quá trình của lao động tư duy, lao động trí óc. Đây là nhu cầu khách quan của việc sản xuất sản phẩm văn hóa tinh thần.
Bởi vì chỉ có tư duy và tư duy sáng tạo mới “đẻ” ra những “đứa con tinh thần”. Từ đó thông qua một quy trình sản xuất đặc thù, giá trị tinh thần do tư duy mang lại được vật chất hóa thành xuất bản phẩm. 20 Tác giả của xuất bản phẩm nói chung, sách nói riêng, bằng lao động của mình, họ đã sáng tạo ra tác phẩm và công bố dưới hình thức xuất bản.