chương 1 cũng trình bày được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu. Cuối cùng là đề ra cấu trúc chính thức của luận án tiến sĩ này. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về nguồn lực logistics của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm về nguồn lực logistics của doanh nghiệp Theo Barney (1991), nguồn lực của DN là tất cả tài sản, năng lực, quy trình tổ chức, thuộc tính, thông tin kiến thức,… mà DN đang sở hữu và có thể khai thác, xây dựng, thực thi chiến lược của mình nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất của DN. Amit và Schoemaker (1993) định nghĩa nguồn lực DN bao gồm cổ phiếu sở hữu, bằng phát minh, sáng chế, tài sản tài chính hoặc tài sản vật chất (tài sản, máy móc thiết bị), và vốn con người.
Nguồn lực DN có thể ở dạng hữu hình (máy móc thiết bị, kĩ thuật) hoặc vô hình (công nghệ, danh tiếng, nguồn nhân lực). Nguồn lực vô hình thường khó phát hiện và đánh giá nhưng chúng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho DN. Quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV) bắt nguồn từ Barney (1991), là một khuôn khổ quản lý được sử dụng để xác định các nguồn lực chiến lược mà một DN có thể khai thác để đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững. RBV đề xuất rằng các công ty không đồng nhất vì họ có nguồn lực không đồng nhất, có nghĩa là các DN có thể có các chiến lược khác nhau vì họ có các nguồn lực khác nhau.
RBV tập trung sự chú ý của người quản lý vào các nguồn lực nội bộ của công ty trong nỗ lực xác định các tài sản, khả năng và năng lực đó với tiềm năng mang lại lợi thế cạnh tranh vượt trội. Quan điểm dựa trên nguồn lực gợi ý rằng các tổ chức phải phát triển các năng lực cốt lõi độc đáo, cụ thể của DN để cho phép họ vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh bằng cách làm những điều khác biệt. Nguồn lực và năng lực là một trong những lựa chọn chiến lược mà DN sử dụng để đạt được lợi thế cạnh tranh. Lai và cộng sự (2008) và Karia và Wong (2013) đề xuất sử dụng lý thuyết RBV để kiểm tra tác động của nguồn lực và năng lực đến hiệu quả hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ logistics.
Dựa trên lý thuyết RBV, Karia và Wong (2013) đã phát triển mô hình lý thuyết về nguồn lực và năng lực logistics, gọi là logistics dựa trên nguồn lực (RBL). Theo RBL, các nguồn lực và năng lực logistics 11 này quyết định hiệu suất của các nhà cung cấp dịch vụ logistics. Vì vậy, nguồn lực và năng lực logistics là yếu tố có cơ sở để đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics tốt nhất. Lý thuyết RBL hoạt động trong bối cảnh cạnh tranh cao trên toàn cầu.
RBL chỉ ra rằng các nhà cung cấp dịch vụ logistics liên tục có được quyền truy cập và kết hợp các nguồn lực nhất định để cung cấp dịch vụ logistics linh hoạt và duy trì lợi thế cạnh tranh trong một môi trường phức tạp và thay đổi (Noorliza, 2018a và 2018b). Những nguồn lực đặc biệt này đóng vai trò như một sự tăng cường năng lực động để tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ logistics sáng tạo và linh hoạt. RBL thừa nhận rằng các năng lực động khác nhau sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất khác nhau. Để duy trì, các nhà cung cấp dịch vụ logistics cần sắp xếp lại, cấu trúc lại hoặc đổi mới nguồn lực hiện có của họ thành năng lực động với công nghệ và môi trường luôn thay đổi.
Thay vì chỉ phát triển nguồn lực của tổ chức, nhà cung cấp dịch vụ logistics đồng thời phát triển và sắp xếp lại những nguồn lực hiện có thành năng lực động.2 Phân loại các nguồn lực Grant (1991) đã chia nguồn lực doanh nghiệp thành 2 loại chính: nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình. Nguồn lực hữu hình bao gồm: nguồn lực về tài chính như vốn tự có, khả năng huy động vốn và nguồn lực vật chất hữu hình như qui mô sản xuất, vị trí nhà máy, sự tinh vi về sản xuất, nguyên liệu đầu vào hay tính linh hoạt, uyển chuyển của hệ thống nhà máy. Nguồn lực vô hình của doanh nghiệp như bí quyết công nghệ hay danh tiếng của doanh nghiệp. Theo đó, bí quyết công nghệ như sở hữu trí tuệ, bằng phát minh sáng chế; Danh tiếng bao gồm các yếu tố như nhãn hiệu nổi tiếng, độ tin cậy, quan hệ tốt với nhà cung cấp, KH, chính quyền; Nguồn lực về nhân sự như kiến thức, kỹ năng, lòng trung thành và khả năng thích hợp của nhân viên với doanh nghiệp.
Theo Mata và cộng sự (1995), các nguồn lực được chia thành hai giả định quan trọng: Không đồng nhất: Đó là giả định rằng mỗi DN có các kỹ năng, khả năng, cơ cấu, nguồn lực khác nhau và điều đó làm cho mỗi DN trở nên khác biệt. Do các nguồn 12 lực khác nhau, các tổ chức có thể thiết kế các chiến lược khác nhau để gia tăng năng lực cạnh tranh của tổ chức trên thị trường. Bất động: Đó là giả định dựa trên các nguồn lực mà một tổ chức sở hữu không di động, nói cách khác, ít nhất là trong thời gian ngắn, không thể chuyển từ DN này sang DN khác. Các DN khó có thể có được các nguồn lực bất động của các đối thủ cạnh tranh vì những nguồn lực đó có giá trị quan trọng đối với các DN.
Nếu một nguồn lực mà một DN sở hữu cũng bị sở hữu bởi một số đối thủ cạnh tranh (không có tính không đồng nhất), thì nguồn lực này không thể đóng góp vào lợi thế cạnh tranh. Tính không đồng nhất là điều kiện cần thiết để đạt được ít nhất lợi thế cạnh tranh tạm thời. Sự bất động của nguồn lực là điều kiện cần thiết để duy trì lợi thế cạnh tranh, vì đối thủ cạnh tranh sẽ gặp bất lợi về chi phí trong việc có được, phát triển và sử dụng nó so với DN đã sở hữu nó (Rivard và cộng sự, 2006). Wu (2007) dựa trên lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) đã chia nguồn lực DN thành hai loại: Nguồn lực thỏa mãn tiêu chí VRIN (bao gồm giá trị, khan hiếm, khó có thể thay thế và khó bị bắt chước) và nguồn lực không thỏa mãn tiêu chí VRIN.
Barney (1986) cho rằng nguồn lực VRIN (hay nguồn lực thoả mãn tiêu chí VRIN) là thành phần chính tạo ra lợi thế cạnh tranh của DN. Nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng quan điểm dựa trên nguồn lực để giải quyết các vấn đề đóng góp của CNTT vào giá trị DN, CNTT là nguồn lực hiếm có, có giá trị và phù hợp của tổ chức, tạo điều kiện cho các luồng kiến thức có chiều rộng và chiều sâu để nâng cao năng lực quản lý kiến thức (Wade và Hulland, 2004). Barney (1991) lập luận rằng một DN có thể có được lợi thế cạnh tranh và cải thiện hiệu quả hoạt động trong thời gian ngắn nếu nó sở hữu các nguồn lực quý hiếm. Barney tuyên bố rằng lợi thế cạnh tranh bền vững chỉ có thể đạt được nếu các nguồn lực là khó bị bắt chước và khó có thể thay thế được; cơ sở nguồn lực phải đáp ứng các điều kiện về giá trị, độ hiếm, khả năng bắt chước và tổ chức để trở thành nguồn lợi thế cạnh tranh tiềm năng.
Shang và Marlow (2005) nhận thấy rằng hiệu quả hoạt động logistics có liên quan đến nguồn lực công nghệ thông tin. Tương tự như Shang và Marlow (2005), Wu và Huang (2007) đã sử dụng RBV để nghiên cứu tác động của nguồn lực CNTT đến hiệu quả hoạt động của DN. 13 Bước vào những năm thập niên 90, môi trường kinh doanh năng động đã thách thức các đề xuất ban đầu của RBV là ổn định và bỏ qua ảnh hưởng của sự năng động của thị trường. Năng lực năng động, là sự mở rộng của nguồn lực (Eisenhardt và Martin, 2000).
Teece và cộng sự (1997) trình bày khung năng lực động nhằm giải thích cách thức kết hợp giữa năng lực và nguồn lực có thể được phát triển. Họ định nghĩa năng lực động là khả năng của DN trong việc tích hợp, xây dựng và cấu hình lại các năng lực bên trong và bên ngoài để thích nghi với môi trường thay đổi nhanh chóng. Tiền đề chính trong ý tưởng của họ là nguồn lực về khả năng đổi mới của DN cho phép liên tục thích ứng với sự thay đổi. Do đó, bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu về nguồn lực của DN bao gồm nguồn lực công nghệ thông tin và khả năng đổi mới.
➢ Nguồn lực công nghệ thông tin Công nghệ thông tin là việc sử dụng bất kỳ máy tính, thiết bị lưu trữ, mạng và các thiết bị vật lý khác, cơ sở hạ tầng và quy trình để tạo, xử lý, lưu trữ, bảo mật và trao đổi tất cả các dạng dữ liệu điện tử. Theo Sheikh và Rana (2011), công nghệ thông tin là nguồn lực quan trọng đối với ngành dịch vụ logistics nếu họ muốn kết hợp các hệ thống với KH để nâng cao sự hài lòng và giúp các DN mang lại hiệu quả hoạt động kinh doanh, cải thiện chất lượng dịch vụ logistics. Theo Lai và cộng sự (2007), các giải pháp CNTT là không thể thiếu đối với các DN để tăng cường và nâng cao tiềm lực dịch vụ KH logistics. Có sáu lĩnh vực chính mà CNTT có thể giúp chuỗi cung ứng và logistics đạt được chiến lược cạnh tranh.
Các lĩnh vực này là lập kế hoạch và phối hợp giữa KH và nhà cung cấp, DN ảo, kinh doanh trực tuyến và thương mại điện tử, cơ sở hạ tầng, quản lý và sự thực thi. Kết quả nghiên cứu của Lyu và cộng sự (2019) cho rằng CNTT có thể giúp phát triển các tiện ích chiến lược cho DN và thay đổi lợi thế cạnh tranh. Theo nghiên cứu của Prahalad và Krishnan (1999), CNTT là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của ngành dịch vụ logistics. Các phát hiện của La Londe và Master (1994) đã giải thích sự thành công của việc hiện thực hóa quy trình logistics thông qua sự thích ứng với CNTT của các DN, dẫn đến lợi thế cạnh tranh của các DN sẽ được nâng cao.
Tuy nhiên, để phát triển CNTT thích ứng với sự biến động của môi trường kinh doanh theo xu thế toàn cầu hóa thì bản thân DN cần phải có khả 14 năng đối mới sáng tạo thì mới thành công được. Theo kết quả của nghiên cứu, CNTT giúp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics cho KH tốt hơn khi hệ thống này có sự đổi mới, thích ứng cao ở các DN lớn được phân tích.