Tổng quan luận án
Tính cấp thiết của đề tài
Quyền tự do ngôn luận (QTDNL) là một trong những quyền tự do cơ bản của con người, đóng vai trò như một "quyền của quyền" nhằm bảo vệ các quyền dân sự, chính trị khác. Từ thế kỷ 17, các nhà nước dân chủ pháp quyền tại Tây Âu ra đời đã ghi nhận QTDNL trong Hiến pháp. Tuy nhiên, việc vận dụng quyền này phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, cấu trúc xã hội và thể chế chính trị của từng quốc gia. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) năm 1948 tại Điều 19 và Điều 29 Khoản 2 đã xác định rõ: quyền tự do ngôn luận luôn gắn liền với những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm trật tự công cộng và quyền lợi của cộng đồng.
Về mặt lý luận báo chí, báo chí là phương tiện thông tin giao tiếp xã hội mang bản chất đại chúng. Xét theo mô hình truyền thông, nếu thiếu sự tham gia, trao đổi và phản hồi ý kiến của công chúng, báo chí không thể hoàn thành vai trò là diễn đàn xã hội. Tại Việt Nam, kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định vị trí trung tâm của con người. Điều 10 Chương II Hiến pháp năm 1946 đã quy định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của công dân. Trải qua các bản Hiến pháp sửa đổi và đường lối Đổi mới từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ" cùng phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" (được thể chế hóa qua Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 về Quy chế dân chủ ở cơ sở) đã tạo cơ sở mở rộng các quyền dân chủ của công dân.
Về mặt thực tiễn, tính đến ngày 24/12/2021, cả nước có 816 cơ quan báo chí, trong đó có 29 cơ quan tạp chí, báo mạng điện tử (BMĐT) độc lập và hầu hết các cơ quan báo chí đều có Ban Điện tử. Với đặc trưng siêu văn bản (hypertext) và tích hợp đa phương tiện (multimedia), BMĐT thể hiện ưu thế vượt trội về khả năng tương tác trực tuyến hai chiều. Tuy nhiên, việc BMĐT thực thi QTDNL của công dân theo quy định pháp luật hiện hành vẫn tồn tại những khoảng trống trong nghiên cứu học thuật. Đồng thời, trong bối cảnh các thế lực thù địch lợi dụng Internet và mạng xã hội để đưa ra những luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do ngôn luận tại Việt Nam, việc thực hiện một công trình nghiên cứu chuyên sâu về đề tài "Báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam hiện nay" thuộc chuyên ngành Báo chí học là yêu cầu cấp thiết về cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ và bước đầu xây dựng khung lý thuyết về BMĐT thực hiện QTDNL của công dân; khảo cứu, phân tích, đánh giá thực trạng BMĐT thực hiện QTDNL của công dân trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển và tồn tại nhiều quan điểm đa chiều, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy BMĐT thực hiện tốt hơn QTDNL của công dân trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu tổng quan tài liệu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài để chắt lọc các giá trị khoa học kế thừa.
- Làm rõ các vấn đề lý luận về QTDNL của công dân, chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa tự do ngôn luận thông thường với tự do ngôn luận trên báo chí.
- Xây dựng khung lý thuyết về BMĐT thực hiện QTDNL của công dân (hệ thống khái niệm công cụ, cơ sở lý luận, khung pháp lý quốc gia và quốc tế), xác lập hệ tiêu chí khảo sát thực trạng.
- Khảo cứu, phân tích thực trạng BMĐT thực hiện QTDNL của công dân theo các tiêu chí đã xác lập thông qua trường hợp báo điện tử
vnexpress.vnvà một số cơ quan báo chí khác từ năm 2015 đến năm 2019 (cập nhật đến năm 2021); đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. - Đúc kết các vấn đề thực tiễn đặt ra, đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện QTDNL của công dân trên BMĐT.
Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết 1: BMĐT thực hiện QTDNL của công dân không phải với tư cách cơ quan tư pháp mà là thực hiện chức năng, nhiệm vụ pháp định bằng phương thức nghiệp vụ báo chí thông qua ba nội dung quyền: "quyền được biết thông tin từ báo chí", "quyền tự do nói trên báo chí", và "quyền tự do khiếu nại, tố cáo trên báo chí".
- Giả thuyết 2: Chất lượng thực hiện QTDNL của công dân trên BMĐT chịu sự chi phối của bốn nhóm yếu tố: (i) Phẩm chất nghề nghiệp và năng lực chuyên môn của đội ngũ quản lý, nhà báo; (ii) Trình độ nhận thức văn hóa và ý thức pháp luật của công dân; (iii) Khung pháp lý hoàn thiện cùng mức độ công khai, minh bạch thông tin từ phía cơ quan nhà nước; (iv) Trình độ công nghệ thông tin, hạ tầng kỹ thuật và các công cụ quản lý bình luận tương tác của tòa soạn.
- Giả thuyết 3: Báo chí thực hiện QTDNL của công dân phản ánh tính chất dân chủ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vận hành trên nền tảng truyền thống lịch sử, văn hóa và tâm lý dân tộc Việt Nam.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam hiện nay.
- Khách thể nghiên cứu: Công dân Việt Nam (người có quốc tịch Việt Nam) đã và đang thực hiện QTDNL trên báo chí.
- Phạm vi không gian: Khảo sát trên các cơ quan báo mạng điện tử chính thống được cấp phép tại Việt Nam, trọng tâm là báo điện tử
vnexpress.vn(tờ báo có lưu lượng truy cập nằm trong nhóm 10 website hàng đầu tại Việt Nam theo xếp hạng của Alexa) và một số báo mạng điện tử khác. Mạng xã hội và các trang thông tin điện tử khác chỉ được sử dụng ở góc độ tham chiếu. - Phạm vi thời gian: Giai đoạn khảo sát trọng tâm từ năm 2015 đến năm 2019 (gắn liền với nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và công tác chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII), tiếp nối theo dõi dữ liệu đến năm 2021. Luận án cũng điểm qua tiến trình lịch sử báo chí Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2014 để bảo đảm tính hệ thống.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án được phân chia theo hai hướng tiếp cận chính:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
[Hướng 1: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí] [Hướng 2: Báo mạng điện tử thực hiện QTDNL]
Lý Oánh (2008), Lý Thư Kiều (2007), Thẩm Tê (2007) Triệu Thanh Lê (2015), Trần Quang Huy (2006)
Hướng 1: Nghiên cứu về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
- Nhóm công trình triết học, chính trị học và luật học quốc tế:
- John Stuart Mill trong tác phẩm On Liberty (1859/2005) dành toàn bộ Chương 2 bàn về "Tự do tư tưởng và tự do thảo luận", khẳng định quyền tự do bày tỏ ý kiến là quyền tự nhiên nhưng đồng thời cũng tự mâu thuẫn khi thừa nhận tự do cá nhân phải chịu giới hạn khi xâm phạm đến lợi ích của cộng đồng và trật tự xã hội.
- Alexis De Tocqueville trong De la Démocratie en Amérique (1835/2017) phân tích bản chất nền dân trị và mối quan hệ giữa công chúng, quyền tự do báo chí với sự dẫn dắt của truyền thông.
- Montesquieu trong De L'esprit Des Lois (1748/2018), cụ thể tại Quyển XII, phân tích về luật tạo ra tự do chính trị trong mối quan hệ với công dân, chỉ ra tính chất xử lý hành vi chống đối bằng lời nói chứ không phải xử phạt bản thân lời nói thuần túy.
- Các văn kiện pháp lý quốc tế: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR, 1948) quy định quyền tự do tại 12/30 Điều (Điều 19 về tự do ngôn luận, Điều 29 Khoản 2 về giới hạn quyền); Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR, 1966) quy định tự do ngôn luận tại Khoản 2 Điều 19, đồng thời khẳng định quyền này có thể chịu sự hạn chế theo quy định của luật pháp.
- Các tác giả Trung Quốc: Lý Thư Kiều (2007) trên Tạp chí Cải cách Trung Quốc khẳng định quyền biểu đạt là hạt nhân của nhân quyền; Đặng Du (2011) trong Truyền thông hội tụ và quyền tự do ngôn luận xác định truyền thông hội tụ là điều kiện kỹ thuật để công dân hiện thực hóa quyền biểu đạt.
- Nhóm công trình tại Việt Nam:
- Phạm Minh Lăng trong Những chủ đề cơ bản của triết học Phương Tây phân tích các trường phái tự do và khẳng định tự do luôn gắn liền với giới hạn nhận thức tất yếu.
- Hồ Chí Minh trong Toàn tập, Tập 7 (1954 - 1957) nhấn mạnh bản chất của dân chủ và tự do tư tưởng gắn liền với việc tìm kiếm và phục tùng chân lý, phục vụ sự nghiệp chung.
- Nguyễn Văn Động trong Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật (2014) trình bày nền tảng lý thuyết về mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa và công dân.
- Các khảo cứu lịch sử pháp lý báo chí: Giai đoạn thuộc Pháp (Sắc luật ngày 30/12/1898 và ngày 04/10/1927 về hạn chế tự do báo chí và bày tỏ chính kiến); Giai đoạn chính quyền Sài Gòn (Luật 019/69 và Luật 007/72 dẫn đến 228 vụ tịch thu, đóng cửa báo chí trong giai đoạn 1972-1973); Giai đoạn từ 1945 đến nay với hệ thống Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, Luật An ninh mạng, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự.
- Các công trình nghiên cứu xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lý học và báo chí học: Nguyễn Văn Dững (2011) trong Báo chí truyền thông hiện đại; Mai Quỳnh Nam (2010) với nghiên cứu về tính công khai thông tin; William Essex (2009) về kỹ năng phát ngôn trước báo giới; Gustave Le Bon (2016) trong Tâm lý học đám đông; Nguyễn Kim Thản (2016) về ngôn ngữ giao tiếp; Đặng Thị Thu Hương (2016) về văn hóa truyền thông đại chúng; Đỗ Thị Thu Hằng (2013) trong Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo.
- Nhóm luận án, luận văn và bài báo chuyên ngành:
- Miêu Nhân Khang (2004, Đại học Kinh tế Ngoại thương Trung Quốc) nghiên cứu về xung đột giữa quyền riêng tư và tự do báo chí.
- Lý Oánh (2008, Đại học Sơn Đông) nghiên cứu về tự do ngôn luận trên không gian mạng Internet.
- Lý Lương Vinh (2008) phân tích mối quan hệ giữa quyền được biết và quyền biểu đạt trong cải cách truyền thông; Thẩm Tê (2007) xem xét quyền biểu đạt như khái niệm mới trong bảo vệ nhân quyền; Đỗ Quý Dân phân tích các tội danh phỉ báng, bôi nhọ (defamation) trong luật pháp Hoa Kỳ.
Hướng 2: Nghiên cứu về báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận
- Công trình quốc tế: Fred S. Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm trong Four Theories of the Press (1956/2015) phân tích bốn học thuyết truyền thông (Độc đoán, Tự do, Trách nhiệm xã hội, Toàn trị Xô Viết); Philippe Breton và Serge Proulx (1996) trong L'Explosion de la communication đưa ra khái niệm "không gian công" (l'espace public); E. Prokhorov trong Cơ sở lý luận báo chí (2004) phân tích tính chất nhân dân của báo chí; Michel H. Jackson và Nora Paul (1998), Crawford Kilian (1999), Mike Ward (2001), Eric Schmidt và Jared Cohen (2014), Bill Kovach và Tom Rosenstiel (2013) nghiên cứu về sự chuyển dịch quyền lực thông tin sang cá nhân và những nguy cơ thông tin sai lệch trong môi trường số.
- Công trình trong nước: Các giáo trình và sách chuyên khảo của Tạ Ngọc Tấn (2001, 2005), Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2005), Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng (2006), Nguyễn Văn Hà (2012), Nguyễn Thị Thoa (2007), Nguyễn Thị Trường Giang (2011), Huỳnh Văn Thông, Phan Văn Tú, Huỳnh Minh Tuấn, Triệu Thanh Lê, Ngô Thị Thanh Loan (2015).
- Các luận văn, luận án liên quan: Luận án của Nguyễn Thành Công (2011, Đại học Vũ Hán), luận án của Triệu Thanh Lê (2015, Học viện Báo chí và Tuyên truyền), luận văn của Trần Quang Huy (2006) về hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử.
Khoảng trống nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trước đây đã giải quyết nhiều khía cạnh riêng lẻ về lý luận báo chí, kỹ năng tác nghiệp trên BMĐT hoặc phân tích quyền tự do ngôn luận dưới góc độ luật học thuần túy. Tuy nhiên, chưa có công trình cấp luận án tiến sĩ nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên biệt và liên ngành về cơ chế, thực trạng và giải pháp để báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam theo đúng quy định pháp luật và bối cảnh truyền thông số.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và hệ thống khái niệm công cụ
Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do ngôn luận và vai trò của báo chí. Đồng thời, luận án kế thừa tri thức liên ngành từ triết học, luật học, chính trị học, xã hội học, tâm lý học và ngôn ngữ học.
Hệ thống khái niệm công cụ được tác giả chuẩn hóa như sau:
- Báo mạng điện tử (BMĐT): Là loại hình báo chí số phi định kỳ, truyền tải thông tin có mục đích dưới dạng siêu văn bản và tích hợp đa phương tiện, giao tiếp hai chiều trực tuyến, được Nhà nước cấp phép sản xuất và phát hành trên mạng internet toàn cầu.
- Quyền tự do ngôn luận (QTDNL): Là quyền của công dân được tự do tiếp nhận thông tin và công bố thông tin, ý kiến, quan điểm riêng, hoặc khiếu nại, tố cáo về bất cứ vấn đề gì, bằng nhiều hình thức, trên bất cứ phương tiện nào, phù hợp với quy định của luật pháp và quy ước xã hội. Thuộc tính của QTDNL gồm: (i) Là quyền pháp lý (dân quyền), không phải quyền tự nhiên vô hạn; (ii) Hình thức biểu đạt đa dạng; (iii) Phạm vi phát tán trên mọi phương tiện truyền thông; (iv) Chủ thể thực hiện là công dân mang quốc tịch của quốc gia.
- Quyền tự do ngôn luận trên báo chí: Là việc công dân thực thi quyền tiếp nhận thông tin khách quan ("quyền được biết"), bày tỏ quan điểm, chính kiến trên diễn đàn báo chí ("quyền được nói") và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo thông qua báo chí ("quyền khiếu nại, tố cáo") dưới sự thẩm định và kiểm soát của cơ quan báo chí với tư cách "người gác cổng".
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
| Phương pháp nghiên cứu | Kỹ thuật / Công cụ thực hiện | Quy mô dữ liệu / Đối tượng áp dụng | Mục đích áp dụng |
|---|---|---|---|
| Nghiên cứu tài liệu | Phân tích, tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật, sách, bài báo khoa học | Các văn kiện Đảng, Hiến pháp, Luật Báo chí, tài liệu trong và ngoài nước | Xây dựng cơ sở lý luận, hệ thống hóa khung pháp lý |
| Phân tích nội dung | Phân tích ngữ nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn | Các bài viết, tác phẩm báo chí, luồng ý kiến phản hồi | Đo lường thông điệp báo chí và nội dung ngôn luận của công dân |
| Khảo cứu trường hợp | Thống kê định lượng bài viết, lượt tương tác, comment | Khảo sát chuyên sâu báo điện tử vnexpress.vn và một số báo mạng điện tử (2015-2021) |
Chứng minh thực tiễn hoạt động diễn đàn và xử lý đơn thư của BMĐT |
| Điều tra xã hội học định lượng (Anket) | Bảng hỏi đóng/mở gồm 3 phần, 27 câu hỏi; xử lý số liệu qua Excel 2013 và SPSS 23 | 900 phiếu phát ra, thu về 821 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 91,22%) tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh | Đánh giá mức độ tiếp cận, nhu cầu tham gia và sự hài lòng của công dân |
| Điều tra xã hội học định tính | Phỏng vấn sâu (trực tiếp, điện thoại, email); xử lý dữ liệu qua NVivo 8 | 14 chuyên gia (5 lãnh đạo báo chí, 5 trưởng/phó ban chuyên môn, 3 nhà báo, 1 nhà khoa học truyền thông) | Thu thập góc nhìn chuyên sâu về thực trạng và gợi ý giải pháp |
Cơ cấu mẫu khảo sát định lượng (Anket)
| Địa bàn khảo sát | Số phiếu phát ra | Số phiếu thu về hợp lệ | Tỷ lệ thu hồi trên tổng mẫu thực tế (%) |
|---|---|---|---|
| Thành phố Hà Nội | 300 | 289 | 35,20% |
| Thành phố Hồ Chí Minh | 300 | 273 | 33,25% |
| Thành phố Đà Nẵng | 300 | 259 | 31,54% |
| Tổng cộng | 900 | 821 | 100,0% (Tỷ lệ đạt 91,22% trên mẫu phát) |
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu và Tổng quan tình hình nghiên cứu
Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết, mục đích, 5 nhiệm vụ nghiên cứu, 3 giả thuyết khoa học, đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Phần Tổng quan hệ thống hóa hàng trăm công trình học thuật theo hai hướng lớn: QTDNL trên báo chí và BMĐT thực hiện QTDNL. Tác giả chỉ ra các điểm đồng thuận và khác biệt giữa trường phái tự nhiên quyền (J. S. Mill) và pháp lý quyền (Montesquieu, J. Locke, Rousseau), qua đó khẳng định QTDNL trong nhà nước pháp quyền luôn đi kèm giới hạn pháp lý và trách nhiệm xã hội.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân
- Xác lập cơ sở lý luận và khung khái niệm: Luận giải chi tiết các khái niệm công cụ gồm BMĐT, QTDNL, QTDNL trên báo chí và công dân. Làm rõ sự khác biệt giữa quyền tự do ngôn luận thông thường (giao tiếp cá nhân) và tự do ngôn luận trên báo chí (giao tiếp đại chúng có tính định chế và trách nhiệm pháp lý).
- Khung pháp lý quốc gia và quốc tế: Đối chiếu các điều khoản của UDHR (Điều 19, 29), ICCPR (Điều 19) với hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam (Hiến pháp 2013 Điều 25, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018).
- Tiến trình lịch sử và mô hình thực tiễn: Khảo sát khái quát việc thực hiện QTDNL trên báo chí Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2014 qua các giai đoạn kháng chiến, hòa bình lập lại ở miền Bắc, thống nhất đất nước và thời kỳ Đổi mới. Phân tích đối chiếu với một số mô hình báo chí trên thế giới nhằm rút ra các đặc trưng đặc thù của báo chí Việt Nam: chịu sự lãnh đạo của Đảng, là tiếng nói của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đồng thời là diễn đàn rộng rãi của quần chúng nhân dân.
- Xây dựng tiêu chí đánh giá: Thiết lập bộ tiêu chí định lượng và định tính đánh giá mức độ BMĐT thực hiện QTDNL qua ba chức năng: (i) Cung cấp thông tin trung thực, đa chiều (quyền được biết); (ii) Xây dựng các chuyên mục diễn đàn, lấy ý kiến, bình luận của bạn đọc (quyền được nói); (iii) Tiếp nhận, điều tra và đăng tải phản hồi về đơn thư phản ánh, khiếu nại, tố cáo của người dân (quyền khiếu nại, tố cáo).
Chương 2: Thực trạng báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam hiện nay
- Khảo sát trường hợp điển hình
vnexpress.vnvà các báo mạng điện tử giai đoạn 2015 - 2021:- Khảo sát tần suất, số lượng bài viết phản ánh ý kiến đóng góp của người dân vào các dự thảo luật, các vấn đề dân sinh nóng và sự kiện chính trị quan trọng (như các kỳ Đại hội Đảng, kỳ họp Quốc hội).
- Khảo sát cơ chế tương tác trực tuyến qua hệ thống comment: số lượng bình luận được gửi đến, tỷ lệ bình luận được duyệt đăng, quy trình lọc từ khóa tự động và kiểm duyệt thủ công của ban biên tập.
- Khảo sát hoạt động tiếp nhận, xác minh và phản hồi đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân tại Ban Bạn đọc.
- Kết quả phân tích định lượng từ 821 phiếu Anket:
- Đánh giá mức độ tiếp cận thông tin, thói quen đọc và nhu cầu bày tỏ quan điểm của người dân tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh.
- Tỷ lệ công dân tham gia gửi ý kiến, viết bài hoặc bình luận trên BMĐT; các yếu tố thúc đẩy hoặc rào cản khiến công dân chưa tích cực ngôn luận (e.g. lo ngại lộ thông tin cá nhân, ý kiến không được đăng tải, giao diện kỹ thuật phức tạp).
- Mức độ hài lòng của công dân đối với tính khách quan của thông tin và sự phản hồi từ phía cơ quan báo chí đối với các ý kiến đóng góp.
- Kết quả điều tra định tính từ 14 phỏng vấn sâu chuyên gia:
- Ghi nhận nhận định từ 5 nhà quản lý báo chí và 5 lãnh đạo ban chuyên môn về áp lực cân bằng giữa việc mở rộng diễn đàn dân chủ cho công dân với việc kiểm soát thông tin độc hại, sai sự thật, vi phạm thuần phong mỹ tục hoặc xâm phạm an ninh quốc gia.
- Phân tích các đánh giá của 3 phóng viên tác nghiệp và 1 chuyên gia lý luận truyền thông về kỹ năng gác cổng, đạo đức nghề nghiệp và những rủi ro pháp lý khi xử lý thông tin do công dân cung cấp.
- Đánh giá tổng quát: Luận án tổng hợp các thành tựu đạt được (bảo đảm quyền được biết, tạo diễn đàn trao đổi cởi mở, giải quyết nhiều bức xúc dân sinh) cùng các hạn chế (tình trạng chậm xử lý đơn thư ở một số tòa soạn, việc kiểm duyệt comment đôi lúc còn cảm tính hoặc kỹ thuật chưa theo kịp, hiện tượng chạy theo thị hiếu tầm thường làm sai lệch diễn đàn).
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp thúc đẩy báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân
- Bối cảnh mới và các vấn đề đặt ra: Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự bùng nổ của mạng xã hội, nguy cơ tin giả (fake news) và các chiến dịch thông tin xuyên tạc; yêu cầu nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và bản lĩnh chính trị của người làm báo.
- Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách và pháp luật: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin; quy định rõ ràng trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền khi báo chí chuyển đơn thư, ý kiến của công dân.
- Nhóm giải pháp đối với cơ quan báo mạng điện tử:
- Nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và ý thức chính trị cho đội ngũ biên tập viên, phóng viên, đặc biệt là bộ phận kiểm duyệt tương tác và ban bạn đọc.
- Đổi mới cấu trúc giao diện, ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc phân loại, lọc tự động bình luận độc hại nhưng không làm nghẽn dòng ngôn luận chính đáng của công chúng.
- Tăng cường các chuyên mục diễn đàn chuyên đề, tổ chức tọa đàm trực tuyến thu hút công dân tham gia bàn luận các vấn đề quốc kế dân sinh.
- Nhóm giải pháp đối với công dân và xã hội: Tuyên truyền, nâng cao trình độ dân trí, hiểu biết pháp luật và văn hóa ứng xử trên không gian mạng; giáo dục kỹ năng tiếp nhận và phản hồi thông tin báo chí cho công dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ luận án Tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học tại Việt Nam nghiên cứu chuyên biệt, có tính liên ngành về việc báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân.
- Xây dựng hệ thống khái niệm công cụ hoàn chỉnh và bước đầu xác lập khung lý thuyết về BMĐT thực hiện QTDNL của công dân, trong đó khẳng định rõ bản chất QTDNL là quyền pháp lý (dân quyền) có giới hạn, gắn liền với nghĩa vụ công dân và thể chế chính trị của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Xác lập bộ tiêu chí khoa học, có khả năng đo lường để đánh giá mức độ và chất lượng thực hiện ba nội dung quyền của công dân trên báo chí ("quyền được biết", "quyền được nói", "quyền khiếu nại, tố cáo").
- Đúc kết các nét đặc thù về lịch sử, chính trị, văn hóa của báo chí cách mạng Việt Nam trong quá trình thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp nguồn tư liệu và bằng chứng thực nghiệm thông qua kết quả khảo cứu trường hợp
vnexpress.vn(2015-2021), kết hợp bộ số liệu điều tra xã hội học từ 821 phiếu Anket tại ba thành phố lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh) và 14 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia. - Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để phản bác các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề tự do ngôn luận, nhân quyền tại Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị có tính khả thi dành cho cơ quan quản lý báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương) và các cơ quan báo mạng điện tử nhằm hoàn thiện quy trình tòa soạn, nâng cấp hạ tầng công nghệ và tối ưu hóa vai trò diễn đàn của công dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Do quy định giới hạn dung lượng của luận án tiến sĩ (150 trang phần chính văn), dữ liệu phỏng vấn sâu qua phần mềm NVivo 8 chỉ được chiết xuất các nội dung trọng yếu, không thể đưa toàn bộ văn bản gỡ băng phỏng vấn vào phụ lục.
- Phương pháp điều tra Anket gặp khó khăn khách quan trong việc thu hồi bảng hỏi đầy đủ (thu về 821/900 phiếu, đạt 91,22%), một số câu hỏi mở chưa nhận được câu trả lời trọn vẹn từ người tham gia.
- Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào các cơ quan báo mạng điện tử chính thống được cấp phép (điển hình là
vnexpress.vn), chưa mở rộng khảo sát trực tiếp toàn bộ các nền tảng truyền thông xã hội khác (chỉ dùng ở mức độ tham chiếu).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các mô hình truyền thông đa nền tảng, báo chí hội tụ và báo chí trên các mạng xã hội của cơ quan báo chí.
- Nghiên cứu sâu hơn về tác động của các thuật toán trí tuệ nhân tạo (AI) và hệ thống kiểm duyệt tự động đối với quyền biểu đạt của công dân trong kỷ nguyên số.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí: Cung cấp luận cứ khoa học để hoạch định chính sách, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin và quản lý thông tin trên mạng Internet.
- Đối với các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo: Cung cấp khung tham chiếu nghiệp vụ, các giải pháp tổ chức diễn đàn, nâng cấp kỹ thuật kiểm duyệt bình luận và hoàn thiện quy trình tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công chúng.
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là tài liệu chuyên khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Luật học và Xã hội học truyền thông.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa Báo mạng điện tử (BMĐT) và Quyền tự do ngôn luận (QTDNL) như thế nào?
Luận án định nghĩa BMĐT là loại hình báo chí số phi định kỳ, truyền tải thông tin có mục đích dưới dạng siêu văn bản và tích hợp đa phương tiện, giao tiếp hai chiều trực tuyến, được Nhà nước cấp phép sản xuất và phát hành trên mạng internet toàn cầu. QTDNL được định nghĩa là quyền của công dân được tự do tiếp nhận thông tin và công bố thông tin, ý kiến, quan điểm riêng, hoặc khiếu nại, tố cáo về bất cứ vấn đề gì, bằng nhiều hình thức, trên bất cứ phương tiện nào, phù hợp với quy định của luật pháp và quy ước xã hội.
2. Ba nội dung cốt lõi cấu thành quyền tự do ngôn luận của công dân trên báo chí trong luận án là gì?
Theo Giả thuyết 1 của luận án, BMĐT thực hiện QTDNL của công dân qua ba nội dung quyền pháp định:
- "Quyền được biết": Thông tin trung thực, khách quan về tình hình trong nước và quốc tế để khơi nguồn ngôn luận.
- "Quyền được nói": Xây dựng diễn đàn mở để công dân bày tỏ chính kiến, quan điểm và thảo luận các vấn đề xã hội.
- "Quyền khiếu nại, tố cáo": Tiếp nhận, xử lý, xác minh và phản ánh đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định pháp luật.
3. Quy mô và phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện trong luận án như thế nào?
Điều tra xã hội học được triển khai qua hai phương pháp:
- Định lượng (Anket): Phát 900 phiếu trưng cầu ý kiến (27 câu hỏi) tại 3 thành phố lớn; thu về 821 phiếu hợp lệ (91,22%), gồm Hà Nội (289 phiếu - 35,20%), TP. Hồ Chí Minh (273 phiếu - 33,25%), Đà Nẵng (259 phiếu - 31,54%). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Excel 2013 và SPSS 23.
- Định tính (Phỏng vấn sâu): Thực hiện 14 cuộc phỏng vấn sâu với 5 nhà lãnh đạo quản lý báo chí, 5 lãnh đạo cấp ban chuyên môn/bạn đọc, 3 nhà báo đang tác nghiệp và 1 chuyên gia lý luận báo chí; xử lý dữ liệu qua phần mềm NVivo 8.
4. Luận án giải quyết mối quan hệ giữa trường phái tự nhiên quyền và pháp lý quyền về tự do ngôn luận ra sao?
Luận án phân tích quan điểm của John Stuart Mill (tự do là quyền tự nhiên) và chỉ ra rằng chính Mill cũng thừa nhận tự do cá nhân phải có ranh giới để không xâm phạm tự do của người khác. Luận án đồng tình với trường phái pháp lý quyền (Montesquieu, Rousseau, Locke), khẳng định QTDNL là "dân quyền" do nhà nước dân chủ pháp quyền quy định, mang tính không tuyệt đối và phải chịu sự điều chỉnh bởi khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia.
5. Vì sao luận án lựa chọn khảo sát trọng tâm giai đoạn 2015 - 2019 (tiếp nối đến 2021) và chọn trường hợp vnexpress.vn?
Giai đoạn 2015 - 2019 gắn liền với thời gian tác giả thực hiện nghiên cứu, đồng thời phản ánh trọn vẹn một nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và chuẩn bị cho Đại hội XIII (năm 2021). Báo điện tử vnexpress.vn được chọn vì là cơ quan báo chí chính thống có lưu lượng người dùng truy cập lớn nhất, thuộc Top 10 website phổ biến nhất tại Việt Nam theo đánh giá của Alexa, mang tính đại diện cao về mức độ tương tác của độc giả.
Kết luận
Luận án "Báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam hiện nay" là công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu ở cấp độ tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học, giải quyết một vấn đề vừa mang tính lý luận cơ bản vừa có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Bằng phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận liên ngành và phương pháp khảo cứu thực nghiệm định tính, định lượng qua 821 phiếu Anket cùng 14 phỏng vấn sâu, luận án đã làm sáng tỏ cơ chế và tiêu chí đánh giá việc thực thi QTDNL trên báo mạng điện tử. Công trình đã khẳng định bản chất QTDNL là quyền pháp lý gắn liền với trách nhiệm công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp thiết thực nhằm phát huy vai trò diễn đàn của báo chí số trong bối cảnh truyền thông hiện đại.