Luận án tiến sĩ y học: Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh và kết quả điều trị can thiệp mạch phình động mạch hệ sống nền vỡ - Học viện Quân Y 2021

Nghiên cứu chi tiết đặc điểm lâm sàn và hình ảnh học phình động mạch nền vỡ. Phân tích các phương pháp chẩn đoán, biểu hiện bệnh lý và chiến lược điều trị hiệu

Trường đại học

Học Viện Quân Y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

160
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phình động mạch hệ sống nền vỡ

Phình động mạch hệ sống nền vỡ là một cấp cứu thần kinh nguy hiểm. Tỷ lệ tử vong cao nếu không được can thiệp kịp thời. Hệ sống nền cung cấp máu cho thân não, tiểu não và vùng chẩm. Khi túi phình vỡ, máu tràn vào khoang dưới nhện. Bệnh nhân thường nhập viện trong tình trạng đau đầu dữ dội, rối loạn ý thức và liệt thần kinh sọ. Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò quyết định. Chụp cắt lớp vi tính phát hiện máu trong khoang dưới nhện. Chụp mạch não xác định vị trí và hình thái túi phình. Điều trị can thiệp nội mạch là phương pháp được ưu tiên hiện nay. Nghiên cứu này phân tích đặc điểm lâm sàng và hình ảnh của 85 bệnh nhân. Mục tiêu đánh giá kết quả điều trị can thiệp mạch phình hệ sống nền vỡ. Từ đó rút ra kinh nghiệm lâm sàng và cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

1.1. Giải phẫu động mạch hệ sống nền

Động mạch sống bắt nguồn từ động mạch dưới đòn, đi qua lỗ ngang đốt sống cổ. Động mạch sống trái và phải hợp lại thành động mạch thân nền. Thân nền chia đôi thành hai động mạch não sau. Hệ sống nền nuôi dưỡng thân não, tiểu não và vùng chẩm. Giải phẫu có nhiều biến thể giữa các cá thể. Hiểu rõ giải phẫu giúp xác định vị trí túi phình và lên kế hoạch can thiệp an toàn. Đoạn ngoài sọ và đoạn trong sọ có đặc điểm riêng biệt cần được đánh giá kỹ lưỡng.

1.2. Phân loại hình thái túi phình động mạch

II. Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh phình động mạch sống nền vỡ

Đặc điểm lâm sàng của phình động mạch sống nền vỡ rất đa dạng. Đau đầu đột ngột là triệu chứng khởi phát thường gặp nhất. Cơn đau đầu kiểu sấm sét xuất hiện trong vài giây. Hội chứng kích thích màng não biểu hiện cổ cứng và Kernig dương tính. Rối loạn ý thức dao động từ lơ mơ đến hôn mê sâu. Triệu chứng thần kinh khu trú bao gồm liệt dây thần kinh sọ, rối loạn vận nhãn và liệt tứ chi. Cơn động kinh hoặc cơn du cứng xảy ra ở giai đoạn nặng. Phân độ Hunt Hess đánh giá mức độ nặng của bệnh. Biến chứng co thắt mạch não sau vỡ chiếm tỷ lệ cao. Hình ảnh cắt lớp vi tính cho thấy máu trong khe Sylvius, bể quanh cầu não hoặc hệ thống não thất. Chụp mạch não số hóa xóa nền là tiêu chuẩn vàng xác định đặc điểm túi phình.

2.1. Biểu hiện lâm sàng và phân độ bệnh nhân

2.2. Đặc điểm hình ảnh học trên cắt lớp và chụp mạch

III. Phương pháp điều trị can thiệp mạch phình động mạch sống nền vỡ

Điều trị can thiệp nội mạch là phương pháp ưu tiên cho phình động mạch sống nền vỡ. Kỹ thuật nút phình bằng vòng xoắn kim loại được áp dụng phổ biến nhất. Vòng xoắn kim loại được đưa vào túi phình qua ống thông vi đường đùi. Kỹ thuật nút đơn thuần áp dụng cho túi phình có tỷ lệ đáy cổ thuận lợi. Kỹ thuật đặt stent hỗ trợ áp dụng cho túi phình cổ rộng. Kỹ thuật đặt hai stent chữ Y cho túi phình phức tạp. Giá đỡ dòng chảy được sử dụng cho túi phình hình thoi. Biến chứng trong can thiệp bao gồm vỡ túi phình, tắc mạch não và mất vòng xoắn kim loại. Xử trí biến chứng kịp thời là yếu tố quyết định kết quả điều trị. Đánh giá kết quả sau can thiệp dựa theo phân loại Raymond. Theo dõi sau can thiệp bằng cộng hưởng từ TOF ba chiều định kỳ.

3.1. Kỹ thuật nút phình bằng vòng xoắn kim loại

3.2. Xử trí biến chứng và theo dõi sau can thiệp

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng điều trị can thiệp phình sống nền

Nghiên cứu tiến cứu trên 85 bệnh nhân phình động mạch sống nền vỡ. Tỷ lệ nữ chiếm ưu thế hơn nam. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 52 tuổi. Đau đầu đột ngột là triệu chứng khởi phát ở 95 phần trăm bệnh nhân. Phân độ Hunt Hess từ độ hai đến độ ba chiếm tỷ lệ cao nhất. Tỷ lệ can thiệp nội mạch thành công đạt trên 90 phần trăm. Tỷ lệ tắc hoàn toàn túi phình sau can thiệp đạt 75 phần trăm. Biến chứng trong can thiệp chiếm 8 phần trăm. Tỷ lệ tử vong trong viện là 12 phần trăm. Kết quả chức năng hồi phục tốt đánh giá theo thang Glasgow đạt 68 phần trăm. Can thiệp nội mạch là phương pháp hiệu quả và an toàn. Nghiên cứu đóng góp bằng chứng khoa học cho thực hành lâm sàng tại Việt Nam.

4.1. Phân tích kết quả điều trị và tiên lượng bệnh nhân

4.2. Ứng dụng thực tiễn và hướng phát triển

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hình ảnh và kết quả điều trị can thiệp mạch phình động mạch hệ sống nền vỡ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Phình động mạch nội sọ là bệnh nguy hiểm, khá thường gặp chiếm tỷ lệ từ 1,5 - 8% dân số, là một bệnh lý thầm lặng, thường chỉ được chẩn đoán khi phình mạch vỡ. Phình động mạch nội sọ vỡ là nguyên nhân chính (85%) gây chảy máu khoang dưới nhện không do chấn thương, biểu hiện bằng “cơn đau đầu dữ dội, tệ nhất trong đời” [1], [2]. Chảy máu khoang dưới nhện với bệnh cảnh lâm sàng diễn tiến nhanh, nếu không được chẩn đoán nguyên nhân và điều trị kịp thời, thì tỷ lệ tử vong trong 30 ngày lên gần 50% hoặc sống với di chứng thần kinh 25%. Vấn đề này trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội [3].

Theo Hội Đột quỵ Hoa kỳ thì 10/100.000 người/năm có phình động mạch nội sọ, nhưng phần lớn các trường hợp không phát hiện được lúc phình động mạch nội sọ chưa vỡ. Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi rất nhiều tùy theo khu vực, tùy chủng tộc trên thế giới.000 người/năm, ở Phần Lan 22,5/100.000 người/năm, đặc biệt tại Hàn Quốc là 30,3 và Nhật (theo Inagawa) là 32/100. Theo thống kê vỡ phình động mạch nội sọ đa số ở đa giác Willis, vị trí động mạch hệ sống - nền (tuần hoàn sau) hiếm gặp (chiếm tỷ lệ 15%), tuy nhiên nguy cơ vỡ phình gấp 2,3 lần so với tuần hoàn trước (theo Morita 2005), gây chảy máu khoang dưới nhện và thường xuyên chảy máu hệ não thất [8]. Phình động mạch hệ sống- nền có thể có hình dạng: hình túi với cấu tạo gồm cổ , thân và đáy túi; cổ phình tiếp giáp với động mạch não (còn gọi là động mạch mang), đáy túi phình rất mỏng và yếu, nên thường vỡ ở đáy (64%) [9]; hoặc thường gặp ở tuần hoàn sau là dạng hình thoi (hiện tượng giãn khu trú một đoạn mạch) có một đầu vào và một đầu ra là mạch mang, với chu vi là thành động mạch mang và không có cổ túi; hoặc hình dạng bóc tách (máu tụ lại trong thành mạch qua điểm rách nội mạch) ở thành động mạch não; mà nguyên nhân là do bẩm sinh, bệnh lý hoặc vết thương ở thành động mạch.

Khi phình động mạch hệ sống- nền vỡ thường biểu hiện lâm sàng đột ngột như: 2 đau đầu dữ dội chẩm cổ, lơ mơ, rối loạn ý thức, chóng mặt, nôn, cứng gáy, cơn động kinh. Hoặc bệnh cảnh đột quỵ gây yếu, liệt các dây thần kinh sọ hay vận động, hội chứng tiểu não. Tỷ lệ tái vỡ túi phình chảy máu khoang dưới nhện lan tỏa sớm là 83% [10]. Vỡ phình động mạch hệ sống - nền có hai cách điều trị là phẫu thuật kẹp cổ túi phình và can thiệp nội mạch nút phình bằng vòng xoắn kim loại [11].

Với điều trị can thiệp mạch hệ sống- nền vỡ là nút kín phình mạch bằng những vòng xoắn kim loại hay nút bằng keo, nếu phình mạch cổ rộng thì dùng bóng hỗ trợ hoặc giá đỡ nội mạch; việc sử dụng giá đỡ thay đổi hướng dòng chảy giúp bảo tồn động mạch mang và loại túi phình khỏi hệ tuần hoàn não sau mà vẫn đảm bảo lưu thông của động mạch mang hoặc nút cả mạch mang phình nếu hình thoi, phình bóc tách. Ngày nay trên thế giới, các kỹ thuật này đã được ưu tiên áp dụng vì thực sự an toàn, hiệu quả, ít xâm lấn; có ưu thế so với vi phẫu thuật kẹp cổ phình tuần hoàn sau là không vén mô não gây nghẽn động mạch xuyên, yếu liệt các thần kinh sọ thấp hay sang thương thủng; giúp giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị [12], [13]. Tuy nhiên, ở Việt Nam kỹ thuật này bắt đầu hơn mười năm, nhưng chưa được áp dụng rộng rãi. Việc nghiên cứu biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, chỉ định điều trị bằng phương pháp can thiệp nội mạch, cũng như đánh giá kết quả sau điều trị là rất cần thiết, góp phần vào việc giúp người bệnh trở lại cuộc sống hằng ngày với chất lượng cao nhất có thể, hạn chế tối đa các di chứng thần kinh và tỷ lệ tử vong.

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh và kết quả điều trị can thiệp mạch phình động mạch hệ sống - nền vỡ”, nhằm các mục tiêu: 1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân vỡ phình động mạch hệ sống - nền có chỉ định can thiệp mạch. Đánh giá kết quả điều trị can thiệp mạch phình động mạch hệ sống – thân nền vỡ. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Sơ lƣợc lịch sử và tình hình nghiên cứu điều trị phình động mạch nội sọ vỡ 1. Trên thế giới 1. Sơ lược lịch sử điều trị phình động mạch nội sọ vỡ Năm 1813, tác giả Blackhall báo cáo trường hợp phình động mạch thân nền vỡ đầu tiên sau mổ tử thi [6]. sử dụng ống thông và bóng Latex để làm tắc động mạch não mang túi phình [14].

Năm 1979 Romodanov, Sheglow thả bóng làm tắc chọn lọc túi PĐMNS. Phương pháp chụp MNSHXN được Maneft và cộng sự tiến hành vào năm 1983. và Cs (1991), bác sĩ phẫu thuật thần kinh người Ý phát minh ra phương pháp dùng VXKL gắn với dây đẩy đưa qua một ống thông siêu nhỏ vào trong lòng túi phình, sau đó được cắt rời bằng dòng điện một chiều, làm đông máu trong lòng túi phình giúp loại bỏ phình mạch ra khỏi hệ tuần hoàn động mạch não, bảo tồn động mạch mang gọi là phương pháp GDC. Với công nghệ vòng xoắn kim loại bằng bạch kim, can thiệp nội mạch phình động mạch nội sọ đã trải qua một cuộc cách mạng [15], [16].

Tình hình nghiên cứu điều trị phình mạch não trên thế giới Năm 1992 Guglielmi G. và Cs [17], sau đó Quilici L. và Cs can thiệp nội mạch tuần hoàn não sau bằng phương pháp GDC [18]. và Cs [19] so sánh kết quả điều trị can thiệp mạch và vi phẫu thuật của phình động mạch não: phẫu thuật kết quả xấu 18,5%, tử vong 2,3%, chi phí 37.000 đô la Mỹ/bệnh nhân, thời gian nằm viện 7,8 ngày.

Tỷ lệ 4 tương ứng với can thiệp là 10,6%, 0,4%, 32.000 đô la Mỹ, 4,3 ngày, với p < 0,05, độ tin cậy 95%. Phân tích các nghiên cứu từ nhiều trung tâm, 2007 Qureshi A. và Cs đã chứng minh hiệu quả vượt trội của can thiệp mạch so với phẫu thuật [20]. Thời gian gần đây, theo tác giả Wang F.

và Cs (2015) [22] với sự hổ trợ của bóng và giá đỡ nội mạch thì điều trị nút phình mạch bằng VXKL có kết quả tốt hơn phẫu thuật kẹp cổ túi phình. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Lịch sử điều trị trong nước Năm 1957, điều trị túi PĐMNS được tác giả Nguyễn Thường Xuân thực hiện. Từ đó đến nay, điều trị phẫu thuật và can thiệp nội mạch túi PĐMNS đã được áp dụng tại các trung tâm phẫu thuật thần kinh lớn.

Tình hình nghiên cứu trong nước - Năm 2004, Nguyễn Thế Hào và Cs điều trị phẫu thuật PĐMNS vỡ: tồn dư túi phình 12,5%, bọc túi phình không cổ chiếm 5,9%; kết quả 89,6% tốt, phù não 5,9%, vỡ túi phình 23,5% [23]. - Tác giả Lê Văn Trường và Cs (2004) can thiệp mạch: tốt 86,5% [24]. - Năm 2008, tác giả Phạm Minh Thông và Cs điều trị nút túi phình bằng vòng xoắn kim loại đã đạt tỉ lệ thành công 89,23% [25]. - Năm 2010, Nguyễn Sơn điều trị vi phẫu kẹp clip cổ túi phình, kết quả: kẹp đúng vị trí 95,1%, tốt 81,12%, trung bình 10,4% và xấu 8,39% [26].

- Năm 2011, Phạm Đình Đài nghiên cứu PĐMNS vỡ tại Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108: tốt 68,2%, xấu 23,3% [27]. - Năm 2014, Trần Anh Tuấn và Cs điều trị PĐMNS cổ rộng bằng can thiệp mạch với bóng chẹn cổ: tắc hoàn toàn túi phình 78. - Năm 2016, Nguyễn Thế Hào và Cs Bệnh viện Bạch Mai phẫu thuật ít xâm lấn 102 bệnh nhân PĐMNS vỡ, kết quả tốt 87,3%, chỉ 6,8% bị ảnh hưởng chức năng cơ nhai, 79,9% đẹp về thẩm mỹ [29]. Giải phẫu động mạch hệ sống – nền Động mạch sống hai bên kết hợp lại hình thành động mạch thân nền ở mặt trước trên hành não và trước dưới cầu não.

Động mạch thân nền chia làm các nhánh: hai nhánh động mạch tiểu não trước dưới, các nhánh xuyên cầu não nhỏ, hai động tiểu não trên và hai động mạch não sau. Đoạn ngoài sọ Động mạch sống xuất phát động mạch dưới đòn, điểm xuất phát gọi là V0. Đoạn trước lỗ ngang gọi là V1 trải từ V0 tới khi vào lỗ đốt sống ở mấu ngang đốt sống C6. Đoạn V2, còn gọi là đoạn trong mấu ngang, chạy xuyên qua các lỗ mấu ngang của các đốt sống từ C6 đến C2, đi kèm là đám rối tĩnh mạch và thần kinh giao cảm xuất phát từ các hạch cổ.

Nó cho các nhánh đến các thần kinh cổ, đốt sống và khớp liên đốt sống, các cơ cổ, và tủy cổ. Thường thì một nhánh lớn ở ngang mức C5 sẽ kết nối với động mạch tủy sống trước. Đoạn V3 hướng ra ngoài và sau đó chạy thẳng đến lỗ ngang đốt sống C1, xuyên qua màng chẩm-đội sau ở phía sau của khớp chẩm-đội, vào màng cứng và màng nhện ở lỗ lớn xương chẩm. Hai động mạch sống hai bên có khẩu kính không bằng nhau ở khoảng 75% người bình thường, và một trong hai rất hẹp ở khoảng 10% dân số, thường bên phải [30].

Đoạn trong sọ Đoạn V4 của động mạch sống nằm hoàn toàn trong khoang dưới nhện, kết thúc ở nơi hai động mạch sống nhập lại thành động mạch thân nền, ở ngang bờ dưới cầu não. Trước khi nhập lại, mỗi động mạch sống cho ra một nhánh nền trong; hai nhánh này chạy khoảng 2cm và hợp nhất tại đường giữa tạo thành một động mạch tủy sống trước duy nhất chạy dọc mặt trước hành não và tủy sống [31]. Động mạch tiểu não sau dưới là nhánh của động mạch sống, xuất phát từ đoạn V4 ở một vị trí rất thay đổi, chạy vòng quanh nhân trám dưới và chạy dài ra phía sau xuyên qua các rễ của thần kinh XI. Sau đó nó đi lên sau các sợi của 6 thần kinh hạ thiệt và lang thang, tạo thành một quai ở thành sau của não thất tư, và cho ra các nhánh tận đến mặt dưới của bán cầu tiểu não, hạnh nhân, và thùy nhộng; cấp máu cho hành não sau bên và mặt sau dưới của tiểu não.

Giải phẫu động mạch sống - nền thẳng, nghiêng *Nguồn Weissleder R. Và Cs (2011) [32] Động mạch thân nền chạy trong bể trước cầu não, dọc suốt chiều dài của cầu não và sau đó chia đôi để tạo thành hai động mạch não sau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ