Tổng quan về luận án
Bảo vệ môi trường (BVMT) trong kỷ nguyên công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế là điều kiện tiên quyết bảo đảm phát triển bền vững quốc gia. Tại Việt Nam, vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực BVMT chiếm tỷ lệ áp đảo trong tổng số các hành vi vi phạm pháp luật môi trường; tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng hành vi đơn lẻ không bằng tội phạm hình sự nhưng tính chất phổ biến, mức độ lặp lại và hậu quả tích tụ lại gây tổn hại đặc biệt nghiêm trọng đến hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Luận án tiến sĩ luật học "Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Lê Thị Hằng (Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Mã số: 9380102, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2020; người hướng dẫn: PGS.TS. Bùi Thị Đào và PGS.TS. Vũ Thư) là công trình nghiên cứu chuyên khảo tiên phong tiếp cận toàn diện, đa chiều và có hệ thống về thiết chế pháp lý xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) trong BVMT dưới góc độ luật hành chính học và xã hội học pháp luật.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực trạng các công trình trước đây chỉ phân tích tản mạn quy định thực định hoặc đồng nhất khái niệm "xử phạt vi phạm hành chính" (XPVPHC) mang tính tĩnh với "xử lý vi phạm hành chính" (XLVPHC) mang tính động của một quy trình tố quyền hành chính liên hoàn. Hơn nữa, sự xung đột giữa Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Nghị định số 155/2016/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều bất cập: chế tài tài chính chưa đủ sức răn đe đối với hành vi vi phạm có mục đích trục lợi kinh tế, thiếu vắng cơ chế cưỡng chế phong tỏa tài sản/thế nợ, và sự chồng chéo thẩm quyền giữa hệ thống thanh tra chuyên ngành tài nguyên - môi trường với lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và giả thuyết nghiên cứu (Hypotheses - H) được định danh tường minh:
- RQ1: Bản chất pháp lý, cấu thành nội hàm và các yếu tố hợp thành của XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được xác lập như thế nào?
- RQ2: Vai trò và các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội nào tác động đến hiệu quả thực thi cơ chế XLVPHC về môi trường?
- RQ3: Thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp XLVPHC về BVMT tại Việt Nam giai đoạn 2012–2018 bộc lộ những khoảng trống và rào cản nào?
- RQ4: Những định hướng và giải pháp đột phá nào bảo đảm hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực thi hành XLVPHC trong lĩnh vực BVMT?
Hệ thống giả thuyết tương ứng:
- H1: XLVPHC trong lĩnh vực BVMT là một quá trình pháp lý động gồm 4 bộ phận hợp thành (cơ sở pháp lý, chủ thể thẩm quyền, hình thức/chế tài xử lý và quy trình thủ tục), khởi đầu từ phát hiện vi phạm đến khi khắc phục triệt để hậu quả sinh thái.
- H2: Hiệu lực XLVPHC phụ thuộc tỷ lệ thuận vào chất lượng lập quy, năng lực thừa hành công vụ, cơ sở kỹ thuật chứng cứ và mức độ tham gia giám sát của cộng đồng dân cư.
- H3: Pháp luật thực định giai đoạn 2012–2018 tồn tại độ trễ lớn, mức xử phạt tiền thấp hơn lợi nhuận phi pháp thu được, và quy trình xử phạt thiếu cơ chế bảo đảm cưỡng chế tức thời.
- H4: Việc trao quyền trực tiếp cho chủ thể thi hành công vụ tại hiện trường, tích hợp chế tài phạt lũy tiến theo ngày/tính theo tỷ lệ phần trăm lợi nhuận bất hợp pháp, và hoàn thiện thủ tục giải trình sẽ tối ưu hóa trật tự quản lý nhà nước về môi trường.
Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi không gian toàn quốc, tập trung khảo sát thực chứng chuyên sâu tại 9 tỉnh, thành phố trọng điểm đại diện cho các vùng kinh tế: Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng trong khung thời gian từ năm 2012 đến 2018 với quy mô mẫu khảo sát 400 phiếu điều tra xã hội học pháp luật.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn trong và ngoài nước chỉ ra 4 dòng nghiên cứu chính:
- Dòng lý luận về bảo vệ môi trường và cưỡng chế hành chính: Các công trình kinh điển trong nước khẳng định tính cấp thiết của công cụ pháp lý (Nguyễn Văn Việt 2010; Bùi Kim Hiếu 2012; Phan Thị Tố Uyên 2012). Tuy nhiên, các tác giả thường giới hạn nội hàm trong việc áp dụng hình phạt mà chưa làm rõ mối liên hệ giữa chế tài xử phạt và các biện pháp ngăn chặn hành chính.
- Dòng nghiên cứu thực trạng và kiểm soát ô nhiễm chuyên ngành: Bùi Đức Hiển (2016) nghiên cứu pháp luật kiểm soát ô nhiễm không khí, Nguyễn Quang Hùng (2015) phân tích ô nhiễm lưu vực sông Nhuệ - Đáy. Những công trình này tiếp cận theo từng thành phần môi trường đơn lẻ, chưa khái quát hóa thành lý luận chung về thủ tục tố tụng hành chính trong BVMT.
- Dòng nghiên cứu tội phạm học và phòng chống vi phạm: Nguyễn Văn Minh (2014) khảo sát phòng ngừa vi phạm tại Đồng bằng sông Hồng dưới góc độ chức năng của Cảnh sát môi trường, tiếp cận thiên về góc độ trật tự an ninh thay vì hoàn thiện hệ thống chế tài hành chính nhà nước.
- Dòng nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế: Trương Thu Trang (2005) khảo cứu pháp luật Trung Quốc, Singapore; Nguyễn Minh Đức (PanNature) phân tích kinh nghiệm Trung Quốc về xử lý sai phạm trong ĐTM/ĐMC; Lê Hồng Thương (2004) nghiên cứu cơ chế phạt tiền tối đa 2.000 USD và phạt bổ sung 100 USD/ngày tái phạm tại Singapore; Trần Thăng Lợi (2004) khảo cứu Luật Chất lượng môi trường Canada với chế tài phạt từ 300 CAD đến 5.000 CAD kết hợp biện pháp thế nợ tài sản.
Cuộc tranh luận học thuật nổi bật tập trung vào 2 quan điểm đối lập:
- Quan điểm thứ nhất (Trường phái thực chứng hình thức): Đồng nhất cơ sở của XLVPHC chính là "vi phạm hành chính" được liệt kê trong văn bản pháp luật, giới hạn XLVPHC chỉ gồm việc ban hành quyết định xử phạt tiền và phạt cảnh cáo.
- Quan điểm thứ hai (Trường phái quản trị hành chính tiến bộ): Cơ sở thực tế phải là "hành vi vi phạm hành chính cụ thể", và XLVPHC phải bao gồm toàn bộ chuỗi mắt xích: phát hiện $\rightarrow$ ngăn chặn tạm thời $\rightarrow$ thu thập chứng cứ $\rightarrow$ ra quyết định $\rightarrow$ cưỡng chế thi hành và phục hồi môi trường.
Luận án của Lê Thị Hằng định vị chính xác tại điểm giao thoa giữa luật hành chính thực chứng và xã hội học pháp luật môi trường, tiến xa hơn các công trình quốc tế như Alison Flanagan & L. Goodbody (2006) hay J. Dara LynoH & Rey Cullinane (2005) tại Ireland (vốn tập trung vào 11 biện pháp trừng phạt phi hình sự) bằng cách thiết lập mô hình xử lý đa tầng phù hợp với thể chế hành chính một nhánh quyền lực tại Việt Nam.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết Quản lý Hành chính Nhà nước và Lý thuyết Trách nhiệm Pháp lý Môi trường thông qua các luận điểm:
- Tái định nghĩa khoa học khái niệm: "Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là hoạt động của các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường mà không phải là tội phạm, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định."
- Phân định ranh giới bản chất giữa XPVPHC (hành vi trừng phạt mang tính tĩnh) và XLVPHC (quy trình quản trị tư pháp - hành chính mang tính chu trình động).
- Bổ sung cấu trúc lý luận 4 bộ phận hợp thành của thiết chế XLVPHC:
$$\text{Thiết chế XLVPHC} = {\text{Cơ sở pháp lý}} \cup {\text{Chủ thể thẩm quyền}} \cup {\text{Hệ thống chế tài}} \cup {\text{Quy trình thủ tục liên hoàn}}$$
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án là sự tích hợp đồng bộ giữa ba trường phái lý thuyết:
- Lý thuyết Nhà nước pháp quyền XHCN: Bảo đảm tính tối thượng của pháp luật, quyền con người được sống trong môi trường trong lành (Điều 43 Hiến pháp 2013).
- Lý thuyết Lợi ích kinh tế và Răn đe hợp lý (Deterrence Theory): Giả định chủ thể ô nhiễm là tác nhân duy lý tối đa hóa lợi nhuận; chế tài hành chính chỉ phát huy hiệu lực khi:
$$\text{Mức phạt kỳ vọng} = P_{\text{phát hiện}} \times (\text{Tiền phạt} + \text{Chi phí khắc phục}) > \text{Lợi nhuận thu được từ vi phạm}$$
- Lý thuyết Trách nhiệm sinh thái (Ecological Responsibility): Ưu tiên tuyệt đối nghĩa vụ bồi hoàn và phục hồi nguyên trạng các thành phần môi trường (đất, nước, không khí) hơn là chỉ thu tiền nộp ngân sách.
Khung điều kiện biên (Boundary conditions) được xác định rõ: áp dụng đối với các hành vi vi phạm chưa cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đặt trong bối cảnh thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
- Triết lý nghiên cứu: Kết hợp Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (xem xét hiện tượng pháp lý trong mối liên hệ vận động kinh tế - xã hội) với Chủ nghĩa thực chứng pháp lý (Legal Positivism) và Tiếp cận Xã hội học pháp luật (Empirical Legal Studies).
- Thiết kế hỗn hợp (Mixed-Methods): Kết hợp phân tích quy phạm lập pháp (normative legal analysis), luật học so sánh (comparative law) với điều tra khảo sát thực chứng diện rộng.
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu
Mẫu điều tra xã hội học được thiết kế chuẩn mực với quy mô $N = 400$ phiếu ankét, chia thành hai nhóm cấu trúc:
- Nhóm 1 ($n_1 = 200$ phiếu): Dành cho chủ thể có thẩm quyền XLVPHC, bao gồm Chủ tịch/Phó Chủ tịch UBND các cấp, thanh tra viên ngành Tài nguyên và Môi trường, cán bộ chiến sĩ Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường tại 9 địa bàn trọng điểm (Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, TP.HCM, Đồng Nai, Lâm Đồng).
- Nhóm 2 ($n_2 = 200$ phiếu): Gồm 100 phiếu dành cho cá nhân, người đại diện tổ chức/doanh nghiệp đã từng bị xử phạt VPHC về môi trường, và 100 phiếu dành cho người dân cư trú tại các điểm nóng ô nhiễm môi trường.
Dữ liệu khảo sát được mã hóa, làm sạch và xử lý thống kê lượng hóa trên phần mềm SPSS Window Version 16.0, áp dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, kiểm định tương quan chéo (cross-tabulation) để đánh giá nguyên nhân hạn chế của công tác xử lý vi phạm.
Quy trình tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation) kết hợp chặt chẽ giữa 3 nguồn: (1) Số liệu thống kê hành chính nhà nước giai đoạn 2012–2018; (2) Kết quả khảo sát 400 đối tượng thực tế; (3) Biên bản thanh tra, kết luận xử lý thực địa của Tổng cục Môi trường và lực lượng Cảnh sát môi trường.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Sự phân hóa sâu sắc trong cơ cấu hành vi vi phạm: Dữ liệu thống kê giai đoạn 2012–2018 cho thấy số vụ VPHC trong lĩnh vực BVMT liên tục gia tăng về quy mô và mức độ tinh vi. Nhóm hành vi xả thải nước thải, khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật và không thực hiện đúng báo cáo ĐTM chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số các vụ việc bị phát hiện (Biểu đồ 3.1 và 3.2).
- Hiện tượng "Bất đối xứng chi phí - phạt" (Fine-Profit Asymmetry): Phân tích thực chứng chỉ ra mức phạt tiền tối đa 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức quy định tại Nghị định 155/2016/NĐ-CP vẫn thấp hơn rất nhiều so với chi phí đầu tư, vận hành hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn (thường lên tới hàng chục tỷ đồng). Nhiều doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận nộp phạt định kỳ để trốn tránh chi phí vận hành hệ thống bảo vệ môi trường.
- Sự thiếu hụt trầm trọng của các chế tài ngăn chặn và bảo đảm thi hành: Thực tế áp dụng hình thức phạt cảnh cáo không phát huy hiệu lực răn đe do thiếu các biện pháp bổ trợ bắt buộc kèm theo. Tỷ lệ thi hành các quyết định cưỡng chế khắc phục hậu quả môi trường đạt mức rất thấp do pháp luật thiếu quy định cho phép cơ quan hành chính phong tỏa tài khoản ngân hàng tức thời hoặc kê biên thế nợ tài sản như mô hình của Canada hay Hoa Kỳ.
- Nghịch lý phân định thẩm quyền: Khảo sát 200 cán bộ thực thi cho thấy có sự chồng chéo lớn giữa thanh tra chuyên ngành TN&MT và lực lượng Cảnh sát môi trường; thẩm quyền xử phạt tại chỗ của các chức danh trực tiếp phát hiện vi phạm bị giới hạn ở mức quá thấp, dẫn đến tình trạng chuyển hồ sơ kéo dài, làm mất dấu vết hiện trường sinh thái.
Trích dẫn minh chứng từ luận án:
- "Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 155/2016/NĐ-CP... cho thấy còn bộc lộ nhiều thiếu sót, có không ít những quy định về vi phạm hành chính, thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn chồng chéo, không phù hợp..." (Trích trang 2 văn bản luận án).
- "Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người, có tác động qua lại biện chứng đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật." (Luận giải khái niệm trích trang 25).
- "Việc xử lý mới tập trung áp dụng hình thức xử phạt tiền chưa quan tâm áp dụng hình thức khắc phục hậu quả, cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính nên đã làm giảm hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường." (Đánh giá thực trạng trích trang 2-3).
Implications đa chiều
- Về mặt chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính và ban hành văn bản thay thế Nghị định 155/2016/NĐ-CP theo hướng:
- Bổ sung cơ chế phạt tiền lũy tiến tính theo ngày tái phạm đối với các nguồn thải liên tục (kinh nghiệm Singapore).
- Thiết lập công thức phạt tiền tước bỏ toàn bộ lợi nhuận bất hợp pháp thu được từ hành vi không vận hành công trình BVMT (kinh nghiệm Jean Piette 2014, Canada).
- Mở rộng phạm vi đối tượng bị xử lý đến các thể nhân/pháp nhân tư vấn lập báo cáo ĐTM gian dối hoặc hội đồng thẩm định thiếu trách nhiệm (kinh nghiệm Trung Quốc).
- Về mặt quản trị thực thi: Tăng thẩm quyền xử phạt trực tiếp tại hiện trường cho lực lượng thanh tra và chiến sĩ công an môi trường; trang bị phương tiện kỹ thuật quan trắc nhanh có giá trị pháp lý làm căn cứ lập biên bản vi phạm quả tang.
Limitations và Future Research
Nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận các giới hạn học thuật:
- Cỡ mẫu 400 phiếu khảo sát tập trung tại 9 tỉnh/thành tuy có tính đại diện vùng miền cao nhưng chưa thể bao quát toàn bộ 63 tỉnh thành trên cả nước.
- Dữ liệu thực tế chủ yếu phản ánh giai đoạn 2012–2018 dựa trên nền tảng Luật BVMT 2014 và Nghị định 155/2016/NĐ-CP, cần được cập nhật liên tục trước những chuyển biến của Luật BVMT 2020.
- Nghiên cứu chưa xây dựng được mô hình kinh tế lượng định lượng hóa chính xác mối quan hệ nhân quả giữa tần suất thanh tra với tỷ lệ suy giảm ô nhiễm môi trường.
Chương trình nghiên cứu tiếp nối (Future research agenda):
- Đánh giá tác động pháp luật (RIA) đối với các quy định mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020 và Luật BVMT 2020.
- Xây dựng bộ chỉ số lượng hóa mức độ thiệt hại kinh tế - sinh thái làm căn cứ ấn định mức phạt tiền trong tố quyền hành chính.
- Nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường hành chính xuyên biên giới trong bối cảnh các cam kết FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA).
- Khảo sát ứng dụng trí tuệ nhân tạo và hệ thống viễn thám tự động trong tự động hóa quy trình phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính môi trường.
Tác động và ảnh hưởng
- Ảnh hưởng học thuật: Là tài liệu chuyên khảo chuẩn mực cho các cơ sở đào tạo sau đại học chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Môi trường; đóng góp hệ thống khái niệm và khung phân tích được trích dẫn trong nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo.
- Tác động lập pháp: Kết quả nghiên cứu trực tiếp đóng góp các luận cứ khoa học phục vụ quá trình xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 và các Nghị định hướng dẫn thi hành.
- Lợi ích xã hội: Thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước; tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc và cộng đồng dân cư trong việc giám sát, tố giác các hành vi gây ô nhiễm, bảo vệ quyền hiến định về môi trường trong lành.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, Học viên cao học ngành Luật: Tiếp cận khung lý luận hoàn chỉnh, hệ thống biến số nghiên cứu thực chứng và danh mục y văn chuyên sâu về pháp luật môi trường.
- Nhà hoạch định chính sách, Cơ quan Lập pháp (Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ TN&MT): Sử dụng các kiến nghị cụ thể để sửa đổi các quy định về thẩm quyền, mức phạt, biểu mẫu và quy trình cưỡng chế hành chính.
- Cơ quan Thực thi pháp luật (UBND các cấp, Thanh tra TN&MT, Cảnh sát Môi trường): Nâng cao kỹ năng phân định thẩm quyền, chuẩn hóa hồ sơ xử phạt, hạn chế khiếu nại - khiếu kiện hành chính kéo dài.
- Cộng đồng Doanh nghiệp: Nắm bắt khung chế tài nghiêm ngặt để chủ động tuân thủ chuẩn mực sinh thái, chuyển đổi công nghệ sản xuất sạch, phòng ngừa rủi ro pháp lý.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Trả lời: Luận án đã mở rộng Lý thuyết Trách nhiệm Hành chính Môi trường bằng cách giải phóng khái niệm XLVPHC khỏi giới hạn trừng phạt đơn thuần (XPVPHC), xác lập mô hình chu trình động 4 giai đoạn gắn liền giữa nghĩa vụ nộp phạt tài chính và nghĩa vụ phục hồi hiện trạng môi trường sống.
-
Đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây thể hiện ở điểm nào?
Trả lời: So với các nghiên cứu thuần túy phân tích luật thực định của Phan Thị Tố Uyên (2012) hay Bùi Kim Hiếu (2012), luận án đã thực hiện tiếp cận xã hội học pháp luật thực nghiệm với cỡ mẫu $N = 400$, ứng dụng phần mềm SPSS 16.0 để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của 5 nhóm yếu tố tác động đến hiệu quả thực thi pháp luật.
-
Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực tế là gì?
Trả lời: Dữ liệu chỉ ra rằng việc tăng đơn thuần mức phạt tiền không làm giảm hành vi vi phạm nếu thiếu cơ chế cưỡng chế tức thời; đa số doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng là các đơn vị đã tính toán trước việc nộp phạt như một khoản "chi phí sản xuất chấp nhận được" do thiếu chế tài phạt bổ sung tước giấy phép hoạt động vĩnh viễn.
-
Nghiên cứu có cung cấp quy trình tái lập (Replication Protocol) không?
Trả lời: Luận án cung cấp bộ công cụ điều tra hoàn chỉnh tại phụ lục (2 mẫu phiếu khảo sát 10-20 tiêu chí), quy chuẩn mã hóa biến số trên SPSS và quy trình chọn mẫu tại 9 tỉnh đại diện, cho phép các nhà khoa học khác tái lập khảo sát ở các khung thời gian và địa bàn khác.
-
Chương trình nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao?
Trả lời: Tập trung vào ba trụ cột: (1) Số hóa và tự động hóa chứng cứ vi phạm qua mạng lưới sensor quan trắc thời gian thực; (2) Cơ chế tư pháp hóa một phần thẩm quyền xử phạt môi trường qua mô hình Tòa án Môi trường chuyên biệt; (3) Tích hợp chế tài tài chính xanh và hạn mức phát thải các-bon vào hệ thống xử phạt hành chính.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hằng đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp cốt lõi:
- Xác lập hoàn chỉnh hệ thống lý luận khoa học về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường mang tính hệ thống đầu tiên tại Việt Nam.
- Nhận diện chuẩn xác sự xung đột, chồng chéo và các khoảng trống pháp lý giữa Luật Xử lý VPHC 2012, Luật BVMT 2014 và Nghị định 155/2016/NĐ-CP.
- Đánh giá toàn diện thực trạng thi hành pháp luật trên bình diện toàn quốc giai đoạn 2012–2018 thông qua dữ liệu định lượng 400 phiếu khảo sát thực chứng được xử lý bằng SPSS.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm sửa đổi thẩm quyền, tái cấu trúc biểu mức tiền phạt theo hướng tước bỏ lợi ích kinh tế, và bổ sung các biện pháp cưỡng chế phong tỏa tài sản.
- Mở ra hướng tiếp cận liên ngành giữa Luật Hành chính học, Kinh tế học Pháp luật và Khoa học Môi trường, đặt nền móng lý luận vững chắc cho công cuộc hoàn thiện thể chế phát triển bền vững quốc gia.