CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUẬT BẢO VE MOI TRƯỜNG TRONG KHAI THÁC THUY SAN 1. Lý luận về bảo vệ môi trường trong khai thác thủy sản 1. Khái niệm thủy sản và khai thác thiy san 1. Khải niệm thủy sản Có rất nhiều khái niệm về thủy sản, hiểu theo nghĩa thông thường thì “thủy” có nghĩa là nước, “sản” có nghĩa là sản vật.
Thủy sản dùng để chỉ những sản vật có nguồn gốc từ môi trường nước bao gồm cả thực vật và động vật. Theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Phương Bac', Thủy sản được định nghĩa “là một thuật ngữ chỉ chung về những nguôn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng, thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày ban trên thị trường ”.Từ định nghĩa của tác giả Hoàng Phương Bắc có thể thấy thủy sản và nguồn lợi thủy sản là hai khái niệm gắn liền, có quan hệ mật thiết với nhau. Nguồn lợi thủy sản cũng có rất nhiều định nghĩa, theo lĩnh vực pháp lý, nguồn lợi thủy sản được quy định tại Khoản 2, Điều 2 Luật Thủy sản 2003: “Nguồn lợi thuỷ sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có gid trị kinh té, khoa học dé phát triển nghệ khai thác thuỷ sản, bảo tôn và phát triển nguôn lợi thuỷ sản”. Còn theo các tác giả Đặng Quốc Anh, Tống Thùy Linh, Nguyễn Ngọc Anh: “Nguồn lợi thủy sản bao gém: các loài cá, các loài nhuyễn thể, giáp xác, bò sát, xoang tràng, da gai các loài động vật có vú, san hô, lưỡng cư và thực vật thủy sinh được khai thác dé chế biến thực phẩm, được pham, mỹ pham, thức ăn chăn nuôi, lam phân bón.
‘Hoang Phương Bắc (2015), Phát triển bên vững ngành thủy sản tại dia bàn tỉnh Thanh Hóa, Luận văn Thạc sỹ Kinh tẾ, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Tr 12. “Đặng Quốc Anh, Tống Thị Linh, Nguyễn Ngọc Anh (2016), Pháp luật về bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sinh, Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr 7. Đặc điểm chung của những khái niệm này là đều hướng tới định nghĩa về thủy sản đi song song với nó là lợi ích cũng như nguồn lợi thủy sản. Vì vậy có thể khang định, thủy san là các loài động, thực vat thủy sinh có giá tri kinh tế, khoa học được con người khai thác, nuôi trồng, thu hoạch cung cấp cho các ngành thực phẩm, dược phẩm, thức ăn chăn nuôi.
cũng như phục vụ cho việc bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản. Thủy sản Việt Nam phong phú, đa dạng và có tầm quang trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, nó là tiền dé dé phát triển ngành thủy san trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và góp phan rất lớn tới đa dạng sinh hoc tại Việt Nam. Cũng chinh vì tam quan trọng như vậy, thủy sản có vai trò rất quan trọng đối với đa dạng sinh học và đời sống của con người. Thứ nhất, vai trò đối với da dang sinh học: Đa dạng sinh học là khái niệm chỉ sự phong phú của sinh vật, gồm đa dạng về loài, đa dạng về gen và hệ sinh thái trong tự nhiên.
Đa dạng sinh học có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội và môi trường tại Việt Nam, mang lại rất nhiều giá trị kinh tế dù là trực tiếp hay gián tiếp.““Những giá trị kinh tế trực tiếp có thé thấy như giá trị cho tiêu thụ và gid trị sử dụng cho sản xuất. Còn về những giá trị kinh tế gián tiếp là khả năng sản xuất của hệ sinh thải, diéu hòa khí hậu, phân hủy các chất thải, những mối quan hệ giữa các loài, nghỉ ngơi và du lịch sinh thải, giá trị giáo đục và khoa học cũng như về quan trắc môi trường ”. Nguồn lợi thủy sản Việt Nam được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực, xếp hạng thứ 16 trên thế giới về đa dạng tài nguyên sinh vật và là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học phong phú nhất thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc hữu.ˆChính vì vậy, thủy sản đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học. Qua các công “Hoàng Anh Vũ (2016), Bài giảng cơ sở Khoa học Môi trường, Trường Đại học Quảng Bình.
“Bộ Khoa học công nghệ (2013), Báo cáo tai Hội nghị đánh giá kết quả hoạt động khoa học và công nghệ về quỹ gen (giai đoạn 2001-2013 và định hướng đên 2020) trình nghiên cứu điều tra từ trước đến nay đã xác định biển Việt Nam có khoảng 2.030 loài cá, có 19 loài cá voi, 225 loài tôm, 663 loài tao rong biển, 55 loài mực, 5 loài rùa, 21 loài rắn biển. Ngoài ra còn có nhiều loài hải sản quý giá như bao ngư, trai ngọc, sò huyết, san hô đỏ,. Theo nghiên cứu, tong trữ lượng thủy sản của Việt Nam ước tính khoảng 3,075 triệu tan (số liệu điều tra giai đoạn 2011 — 2012 của Viện Nghiên cứu hải sản). Tổng sản lượng khai thác ở mức 1,7 đến 1,9 triệu tắn/năm.
Tính đến năm 2015, tổng sản lượng khai thác đang ở mức 2,7 triệu tan/nam.° Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, vùng biên Việt Nam có năng suất sinh học tương đối cao, trong đó thủy sản chiếm số lượng lớn về loài, nguồn gen da dạng, quý hiếm đã tạo nên sự đa dạng sinh thái trong hệ sinh thái của nước ta. Thứ hai, vai trò đối với đời sống của con người: Thủy sản có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người, cho môi trường tự nhiên và giá trị kinh tẾ, giá tri khoa học cũng như giá trị nội sinh. Biển va đại dương chiếm 70,8% bề mặt trái đất (361 triệu km? so với 510 triệu km”). Khoảng 10 — 12 triệu tan dam động vat được khai thác hàng năm từ các sinh vật ở biển, chiếm gần 1/3 nhu cầu của loài người về nguồn đạm động vật.
Trên 1,5 tỉ người sống ở khu vực An Độ Dương va Thái Binh Dương dùng các sản pham của biển làm nguồn cung cấp chat đạm chủ yếu.ˆ Khoảng hơn 6 tỉ người trên trái đất hiện nay đang phải sống dựa vào một diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, chỉ chiếm chừng 3% toàn bộ bề mặt hành tinh dé sinh sống. Nguồn thủy sinh có vai trò quan trọng đối với các nguồn tài nguyên tự nhiên, vừa là nguồn thức ăn cho các loài động, thực vật, vừa góp phần quan trọng trong sự cân bằng sinh thái. “Hội nghé cá Việt Nam (2007), Bách khoa Thủy sản, Nxb Nông nghiệp, tr.74 “Văn Hữu Tập (2015), Báo cáo nghiên cứu da dạng sinh học cho phát triển bền vứng năm 2015: Van dé ưu tiên trong quan ly da dạng sinh học tại Việt Nam, tr.60 Trường đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình luật môi trường, Nxb Công an nhân dan, Tr 275. 10 Nguồn lợi thủy sản có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đã được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn ở Việt Nam.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, phát triển nguồn thủy sản đã nhanh chóng đạt được mức sản lượng tăng trưởng nhảy vọt. Phát triển nuôi trồng thủy sản nhăm đảm bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn nguyên liệu chủ yếu cho xuất khâu, góp phan tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và an ninh ven biển. Xuất khâu thủy sản góp phan tăng thu ngân sách quốc gia rất lớn. Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản cũng là đồng nghĩa với việc đảm bảo cuộc sống, công ăn việc làm cho cư dân và nham bảo vệ môi trường.
Mặc dù có rất nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, cũng như những gia tri ma đa dạng sinh học đem lại thế nhưng hiện tại van đề da dang sinh học nhất là thủy sản dang đứng trước những thác thức lớn: dân số vùng ven biển và quá trình đô thị hóa ngày một gia tăng, số lượng tàu thuyền nhỏ tập trung khai thác quá mức ở vùng ven bờ cùng với việc sử dụng các phương tiện, phương pháp đánh bắt có tính hủy diệt như chất nổ, hóa chất độc hại (xyanuya), xung điện, cường độ ánh sáng quá mạnh, các nghề te, xiép, đăng. dẫn đến tình trạng suy giảm, cạn kiệt nguôn lợi, tan phá và làm suy thoái môi trường sống của các loài thủy sản. Muốn bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững môi trường, nguồn lợi cho chúng ta và cho các thé hệ mai sau, đòi hỏi tất cả mọi người, mọi tô chức xã hội phải có ý thức, trách nhiệm chung, phải có những biện pháp quản lý ở mức tối ưu và có hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta. Khai niệm khai thác thủy sản Theo từ điển tiếng Việt), “khai thác có nghĩa là tiến hành hoạt động dé thu lay những nguồn lợi sẵn có trong thiên nhiên hay phát hiện và sử dung những cái có ích còn ân giâu hoặc chưa được tận dụng.” Š*Viện ngôn ngữ học (2003), Tir điển Tiếng Việt, Nxb Da Nang, Tr 125 11 Khai thác thủy sản có rất nhiều định nghĩa trong các bài giảng cũng như các luận văn và công trình nghiên cứu khoa học.Theo tác giả Nguyễn Văn Tư”, “đánh bắt thủy sản hay khai thác thủy sản là một hoạt động của con người (như dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên”.
Còn theo tác giả Duong Tri Thao’, “khai thác thủy sản là hoạt động của con người sử dụng các công cụ và nhiễu phương pháp khác nhau để tác động tới đối tượng là các tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên khác nhau và môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người vàxã hội về các sản phẩm hàng hóa thủy sản”. Tronglĩnh vực pháp lý, khái niệm khai thác thủy sản được quy định tại Khoản 4, Điều 2 Luật Thủy sản 2003 “Khai thác thủy sản là việc khai thác nguôn lợi thủy sản trên biển, sông, hd, dam, phá và các vùng tự nhiên khác ”. Theo quy định của Luật Thủy sản năm 2017 (bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2019), Khoản 3 Điều 18, khai thác thủy sản được định nghĩa như sau: “Khai thác thủy sản là hoạt động đánh bắt hoặc hoạt động hậu can đánh bat nguôn lợi thủy sản. ” Như vậy, khai thác thủy sản có thé hiểu là hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên động, thực vật tự nhiên sống trong môi trường nước, nhằm cung cấp hàng hóa cho tiêu dùng và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến.