Luận Án Tiến Sĩ Văn Học: Phân Tích Tiểu Thuyết Việt Nam Đương Đại Từ Góc Nhìn Liên Văn Bản

Luận án tiến sĩ khám phá tiểu thuyết Việt Nam đương đại qua lý thuyết liên văn bản, phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa các tác phẩm văn học.

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
166
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Khái quát một số điểm chủ yếu của lý thuyết liên văn bản

1.1.1. Về khái niệm tính liên văn bản

1.1.2. Liên văn bản và nội hàm khái niệm văn bản

2. CHƯƠNG 2: SỰ ĐỔI MỚI CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

3. CHƯƠNG 3: GIỄU NHẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

4. CHƯƠNG 4: VIẾT LẠI LỊCH SỬ VÀ TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Luận án này bắt đầu bằng việc khái quát một số điểm chủ yếu của lý thuyết liên văn bản (LVB). Khái niệm tính liên văn bản được định nghĩa là thuộc tính có mặt trong mọi văn bản nghệ thuật. Điều này có nghĩa rằng mỗi văn bản đều tồn tại trong một mạng lưới các mối quan hệ với các văn bản khác, từ đó tạo ra ý nghĩa cho chính nó. Julia Kristeva là người khởi xướng khái niệm này, nhấn mạnh rằng mọi văn bản đều là sự hấp thu và biến đổi từ các văn bản khác. Điều này mở ra một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu văn học Việt Nam, cho phép các nhà nghiên cứu nhìn nhận văn học không chỉ là sản phẩm độc lập mà còn là một phần của một bức tranh lớn hơn, nơi mà các văn bản tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau.

1.1. Khái niệm tính liên văn bản

Tính liên văn bản không chỉ là một thuộc tính mà còn là một khái niệm phức tạp, liên quan đến cách mà các văn bản tương tác với nhau. Theo Bakhtin, mỗi văn bản đều được xây dựng như một bức chạm khảm của các trích dẫn. Điều này có nghĩa rằng ý nghĩa của một văn bản không thể được hiểu một cách độc lập mà cần phải xem xét trong mối quan hệ với các văn bản khác. Derrida cũng nhấn mạnh rằng mỗi văn bản đều là một phức hợp ghép nối, cho thấy rằng văn bản không chỉ đơn thuần là một sản phẩm độc lập mà còn là kết quả của một quá trình tương tác phức tạp giữa các văn bản.

1.2. Liên văn bản và nội hàm khái niệm văn bản

Khái niệm liên văn bản mở rộng ra không chỉ trong văn học mà còn trong các lĩnh vực khác như văn hóa và xã hội. Kristeva đã chỉ ra rằng mọi văn bản đều là sự hấp thu và chuyển hóa từ các văn bản khác, tạo nên một mạng lưới phong phú và đa dạng. Điều này cho thấy rằng việc nghiên cứu văn học cần phải xem xét các mối quan hệ giữa các văn bản trong một bối cảnh rộng lớn hơn, từ đó giúp hiểu rõ hơn về cách mà văn bản được hình thành và phát triển trong xã hội.

II. Sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Chương này tập trung vào sự đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đặc biệt là trong bối cảnh văn hóa mới. Tiểu thuyết đã trải qua nhiều thay đổi từ sau năm 1986, khi mà các nhà văn bắt đầu khám phá những hình thức nghệ thuật mới, từ việc đối thoại với các văn bản xã hội đến việc giễu nhại các huyền thoại và cổ tích. Những tác phẩm của Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, và nhiều tác giả khác đã thể hiện rõ sự chuyển mình này. Họ không chỉ phản ánh hiện thực mà còn đặt ra những câu hỏi về bản chất của văn học và vai trò của người đọc trong việc tạo ra ý nghĩa cho văn bản.

2.1. Tiểu thuyết theo khuynh hướng hậu hiện đại

Trong khuynh hướng hậu hiện đại, tiểu thuyết Việt Nam đã thể hiện sự đa dạng và phong phú trong cách tiếp cận. Các tác giả như Nguyễn Việt HàHồ Anh Thái đã sử dụng các thủ pháp như giễu nhại và trích dẫn để tạo ra những tác phẩm mang tính đối thoại cao. Điều này không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn mở ra những cách đọc mới cho người tiếp nhận. Tiểu thuyết trở thành một không gian mở, nơi mà người đọc có thể tham gia vào quá trình tạo nghĩa, từ đó làm tăng tính tương tác giữa văn bản và người đọc.

2.2. Tiểu thuyết theo lối hư cấu lịch sử

Khuynh hướng hư cấu lịch sử trong tiểu thuyết Việt Nam cũng đã có những bước tiến đáng kể. Các tác giả như Nguyễn Xuân KhánhNguyễn Mộng Giác đã khéo léo kết hợp giữa lịch sử và hư cấu, tạo ra những tác phẩm không chỉ mang tính giải trí mà còn có giá trị tư tưởng sâu sắc. Họ đã sử dụng lý thuyết liên văn bản để làm nổi bật những mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử và cách mà chúng được diễn giải trong văn học. Điều này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử mà còn khơi gợi những suy ngẫm về bản chất của văn học và vai trò của nó trong việc hình thành nhận thức xã hội.

III. Giễu nhại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Giễu nhại là một hiện tượng nổi bật trong văn học Việt Nam đương đại, thể hiện sự tương tác giữa các văn bản và các thể loại khác nhau. Các tác giả đã sử dụng giễu nhại như một công cụ để phản ánh và phê phán các vấn đề xã hội, văn hóa. Giễu nhại không chỉ đơn thuần là một hình thức nghệ thuật mà còn là một cách để các nhà văn thể hiện quan điểm của mình về thế giới xung quanh. Những tác phẩm như của ThuậnNguyễn Ngọc Tư đã cho thấy rõ sự phong phú và đa dạng trong cách thức mà giễu nhại được sử dụng để tạo ra ý nghĩa mới cho văn bản.

3.1. Các phương thức giễu nhại tiêu biểu

Trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, có nhiều phương thức giễu nhại tiêu biểu được các tác giả áp dụng. Một trong số đó là trích dẫn nhại, nơi mà các văn bản cũ được tái hiện một cách hài hước hoặc châm biếm. Điều này không chỉ tạo ra sự thú vị cho người đọc mà còn khơi gợi những suy ngẫm về bản chất của văn học và cách mà nó phản ánh thực tế. Các hình thức giễu nhại này không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn tạo ra những cách đọc mới, giúp người đọc tiếp cận văn bản một cách sâu sắc hơn.

3.2. Giễu nhại và sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Sự đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại không thể thiếu sự đóng góp của giễu nhại. Các tác giả đã sử dụng giễu nhại như một cách để đối thoại với các vấn đề trong xã hội, từ đó tạo ra những tác phẩm mang tính phản biện cao. Giễu nhại không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một cách để các nhà văn thể hiện quan điểm của mình về thế giới xung quanh. Điều này cho thấy rằng văn học không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật mà còn là một công cụ mạnh mẽ để phản ánh và phê phán xã hội.

IV. Viết lại lịch sử và tương tác thể loại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Chương này khám phá hiện tượng viết lại lịch sử trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Việc viết lại lịch sử không chỉ là một cách để các tác giả thể hiện quan điểm của mình về quá khứ mà còn là một phương thức để tạo ra những cách hiểu mới về lịch sử. Các tác giả như Võ Thị Hảo đã khéo léo kết hợp giữa lịch sử và hư cấu, tạo ra những tác phẩm không chỉ mang tính giải trí mà còn có giá trị tư tưởng sâu sắc. Điều này cho thấy rằng văn học có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức xã hội về lịch sử.

4.1. Viết lại lịch sử như là hiện tượng liên văn bản

Viết lại lịch sử trong tiểu thuyết Việt Nam không chỉ đơn thuần là việc tái hiện các sự kiện lịch sử mà còn là một cách để các tác giả thể hiện quan điểm của mình về quá khứ. Các tác phẩm viết lại lịch sử thường sử dụng lý thuyết liên văn bản để tạo ra những mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử và cách mà chúng được diễn giải trong văn học. Điều này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử mà còn khơi gợi những suy ngẫm về bản chất của văn học và vai trò của nó trong việc hình thành nhận thức xã hội.

4.2. Tương tác thể loại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Tương tác thể loại là một hiện tượng phổ biến trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, nơi mà các thể loại khác nhau giao thoa và tương tác với nhau. Các tác giả đã khéo léo kết hợp giữa tiểu thuyết, thơ ca, và các thể loại khác để tạo ra những tác phẩm mang tính đa dạng và phong phú. Điều này không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn mở ra những cách đọc mới cho người tiếp nhận. Tương tác thể loại giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về cách mà văn học phản ánh và tương tác với thực tế xã hội.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ văn học tiểu thuyết việt nam đương đại nhìn từ lý thuyết liên văn bản

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho tiểu thuyết Cơ hội của chúa “sự cùng quẫn cuối cùng của con người đấy là cơ hội của Chúa”. Nguyễn Mộng Giác bắt đầu Sông Côn mùa lũ bằng lời đề tặng: “Tặng nhà tôi Nguyễn Khoa Diệu Chi và các con Đào Tiên, Thụy Vũ, Mai Tiên. Nguyễn Xuân Khánh bắt đầu tiểu thuyết Đội gạo lên chùa bằng việc trích dẫn (cả phiên âm và dịch thơ) bài thơ Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông,. Tất cả những nội dung trên, dù không phải là tình tiết, là chi tiết chính của truyện, nhưng nó mang âm hưởng, màu sắc, phong cách, kiểu tư duy,.

từ 18 đó tác động và định hướng tâm thế ban đầu của độc giả trong hành trình tìm ra những mã của tác phẩm. - Quan hệ siêu văn bản (Métatextualité) Siêu văn bản đề cập đến hiện tượng một VB bình luận rõ ràng hoặc không rõ ràng về một VB khác. Sự bình luận này thể hiện quan điểm, sự đánh giá đối với nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống. Thao tác này làm cho tiểu thuyết gắn với phê bình, mang màu sắc của khoa học, của tư duy phản biện.

Tiểu thuyết giờ đây không phải chỉ là địa hạt của các sự việc, của các tình tiết gây cấn, hồi hộp. Mà là sự đan xen của quy luật tư duy phân tích, đánh giá, nhìn nhận. Sự bình luận có thể thể hiện sự đồng tình hay không đồng tình, ca ngợi hay phê phán, có khi là giải thiêng lại những vấn đề từng được xem là thiêng liêng, là chuẩn mực đối với xã hội. Điều này có thể nhận thấy ở nhiều nhà văn Việt Nam đương đại.

Họ bình luận VB thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và có khi bình luận luôn ngay cả tác phẩm của chính mình. Hồ Anh Thái có những thao tác đề cập đến những VB khác từ đó đưa ra những bình luận. Trong tiểu thuyết Năm lá quốc thư, tác giả đã bình luận về câu chuyện của một nhà văn Pháp thể kỉ XIX: Alfred de Musset “Đồng thời ở đây, còn có thể thấy một câu chuyện khác, từ hình ảnh những cái mỏ háu đói của đàn con sục vào chén sạch tim gan lòng ruột của cha chúng. Câu chuyện về đức hy sinh của người cha, cũng là chuyện về sự háu đói vô tình của đàn con.

Ta nhìn thấy trong ấy câu chuyện chén bằng sạch, moi bằng sạch, rút ruột bằng sạch. Mà rút ruột của ai? Của chính người cha mình, người lẽ ra có thể tồn tại lâu dài để tiếp tục nuôi ta. Và câu chuyện ấy chính là hình ảnh ẩn dụ và là cái cớ cho sự bình luận câu chuyện của hiện tại: “những con bồ nông của Alfred de Musset đã vô tư hồn nhiên được một bữa no. Thảo nào ta có thể gọi tắt vô tư hồn nhiên là vô hồn.

Chúng đã mở đại tiệc trên cái bụng phanh ra của người cha mà không biết rằng một khi người cha đã chết rồi, đại tiệc ấy là sự hủy diệt của chính chúng. Siêu VB trong tiểu thuyết đã trở thành đối tượng cho nhiều nhà văn giải thiêng nhiều vấn đề thiêng liêng 19 nhằm nhạo báng các hiện tượng trong cuộc sống hiện đại. Vậy là biên độ của một VB được mở rộng, thế giới không chỉ là một VB mà còn là một siêu VB để nhà văn có thể hoạt tác bằng nhiều cách thức và con đường khác nhau. - Quan hệ thậm phồn văn bản (Hypertextualité) Thậm phồn VB là thuật ngữ Genette “dùng để chỉ hiện tượng một văn bản B nào đó (được ông gọi là hypertext/thượng VB hoặc hậu bản) phát sinh từ một văn bản A nào đó đã tồn tại trước đó (được gọi là hypotext/hạ bản hoặc tiền bản) bởi sự cải biến (transformation) hoặc bởi sự bắt chước (imitation).

Theo đó những hình thức như giễu nhại (parody), chế nhạo (travesty) và chuyển vị (transposition) thuộc về quan hệ cải biến hạ VB; trong khi phỏng nhại (pastiche), châm biếm (caricature) và giả mạo (forgery) là những hình thức bắt chước. Cải biến và bắt chước có thể xem là quan hệ điển hình cho việc nối kết nhiều VB thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống bằng nghệ thuật xử lý của nhà văn đối với tiền VB. Phần này chúng tôi sẽ đi sâu hơn ở chương ba của luận án. Thuật ngữ giễu nhại (tiếng Anh: parody, tiếng Pháp: parodie) có gốc từ tiếng Hi Lạp cổ đại là parodia.

Từ này gồm có hai phần kết hợp lại: tiền tố para (vừa có ý nghĩa là đối lại vừa có ý nghĩa là bên cạnh) và danh từ ode (có nghĩa là bài hát). Giễu nhại vừa được hiểu là một bài hát “chống lại” bài hát khác, vừa đồng thời được hiểu là bài hát được hát bên cạnh bài hát khác mà không chống lại nó. Chính những cách hiểu này đã dẫn đến tính chất lưỡng nghĩa của từ nguyên mà cho đến nay, việc đưa ra một giới thuyết duy nhất về nội hàm của khái niệm giễu nhại là chưa đi đến thống nhất. Vẫn còn đó những quan niệm và cách tiếp cận khác nhau.

Trong phạm vi của luận án, chúng tôi quan tâm đến một số quan niệm về parody/nhại phổ biến của các nhà lập thuyết tiêu biểu từ thế kỉ XX đến những năm đầu của thế kỉ XXI. Từ đó gắn với thực tiễn của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. - Quan hệ kiến tạo văn bản (Architextualité) 20 Thuật ngữ Architextualité được hiểu là “toàn bộ các yếu tố xác định quan hệ về mặt thể loại của các VB. Điều đáng chú ý là “bản thân kiến trúc VB không phải là phạm trù riêng biệt và thuần túy mà là sự va chạm, tương tác và chồng lấn lên nhau giữa các thể loại.

Va chạm, tương tác không phải là sự dịch chuyển cơ học các yếu tố thể loại trong hệ thống văn học mà là sự tương sinh và biến đổi địa vị, chức năng của mỗi yếu tố khi chúng tham sự vào tấn kịch văn học” [125, tr. Trong quan hệ kiến tạo VB, Genette một mặt phân loại và một mặt chú ý đến các kiểu tương tác LVB. Theo quan niệm của Genette, tính LVB tự xác định qua “sự hiện diện của một hoặc nhiều VB trong một VB và mối quan hệ giữa chúng”. Quan niệm này gần với quan niệm của Bakhtin về sự tương tác giữa các thể loại văn học.

Bakhtin quan niệm: “Tiểu thuyết cho phép đưa vào, lắp ghép vào trong nó nhiều thể loại khác nhau, cả những thể loại nghệ thuật (những truyện ngắn, những bài thơ trữ tình, những trường ca, những màn kịch nói,.) lẫn những thể loại phi nghệ thuật (các thể văn đời sống hàng ngày, văn hùng biện, khoa học, tôn giáo,.), về nguyên tắc bất cứ thể loại nào cũng có thể được đưa vào cấu trúc tiểu thuyết và trên thực tế rất khó tìm được một thể loại nào chưa bao giờ và chưa được ai đưa vào tiểu thuyết” [9, tr. Theo đó, tiểu thuyết có thể thu nạp nhiều thể loại, nhiều VB khác nhau trong một chỉnh thể tác phẩm. Ví dụ như sự xâm nhập của truyện ngắn trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã tham gia vào kiến trúc của VB, tạo cho VB nhiều không gian nhỏ làm nên tiểu tự sự, góp phần cho bức tranh đời sống hiện lên đa chiều kích, bao quát được nhiều vấn đề của cuộc sống đương đại. Trong phạm vi của luận án, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các kĩ thuật giễu nhại, tương tác thể loại và viết lại.

Bởi đây là các vấn đề tiêu biểu, đặc trưng nhất của tính LVB gắn với hai khuynh hướng chính của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Vấn đề nghiên cứu lý thuyết Liên văn bản Những công trình nghiên cứu lý thuyết LVB hiện có trên thế giới số lượng rất lớn, rất đa dạng, khó có thể mô tả đầy đủ. Vì thế ở đây chúng tôi chỉ nêu một số đường hướng chính. Nhiệm vụ trọng tâm của luận án là phân tích văn học Việt Nam, cụ thể là tiểu thuyết đương đại Việt Nam.

Vì vậy, ở chương này, luận án tập trung vào một số tư tưởng về tính LVB, các nghiên cứu LVB của các nhà lý luận thế giới và tổng thuật vận dụng lý thuyết LVB ở Việt Nam trong mấy thập niên gần đây. Tình hình dịch thuật lý thuyết liên văn bản Hiện nay, rất nhiều công trình trực tiếp đặt ra vấn đề tính LVB và ứng dụng nó trong nghiên cứu văn học vẫn chưa được giới thiệu chu đáo ở Việt Nam chẳng hạn như công trình quan trọng hàng đầu của Kristeva – Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết – nơi thuật ngữ LVB lần đầu tiên xuất hiện vẫn chưa được dịch. Các công trình quan trọng khác có bàn trực tiếp đến thuyết LVB của R. cũng ít được giới thiệu, tìm hiểu.

Với nỗ lực của một số nhà nghiên cứu, dịch thuật, hiện chúng ta có một số bản dịch sau đây giới thiệu và phân tích một vài điểm lí thuyết LVB. Đầu tiên, có thể kể đến bài nghiên cứu của tác giả người Nga do Ngân Xuyên dịch – L. Rjanskaya, LVB – sự xuất hiện của khái niệm về lịch sử và lí thuyết của vấn đề (Nghiên cứu văn học, số 11/2007). Bài nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề nguồn gốc và những cách hiểu về khái niệm LVB: khái niệm LVB là môt khái niệm “động”, nội hàm của khái niệm có thể biến đổi tùy thuộc vào “các lập trường triết học và nghiên cứu của các nhà khoa học.

Có hai quan niệm về tính LVB: LVB được xem như là một thủ pháp văn học, và LVB được xem như là “thuộc tính bản thể của mọi VB”, cách hiểu thứ hai này là cách hiểu gắn liền với Kristéva trong công trình Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết. Quan niệm về tính LVB gắn liền với quan niệm về VB và vai trò của độc giả bởi “LVB nhằm tới sự tương đối hóa các mã văn hóa, tương đối hóa tính thống nhất và toàn vẹn của chúng, và tới sự tước bỏ ý nghĩa tuyệt đối của chúng… Ý nghĩa là linh 22 hoạt, sự tương tác sống động của các VB sinh ra những nghĩa mới của chúng. Người viết đã đưa ra dẫn chứng các VB văn học Anh và có sự minh giải để cho thấy “sự tương quan giữa VB của mình và VB của người khác” [106, tr.199] trong một số sáng tác của Magaret Dabble, Anita Brookner, A.S Byett, Bayette, Emma Tennant, W. Golding, Graham Swift,… Từ đó người viết khẳng định rằng: “Việc hiểu hạn hẹp thuật ngữ chỉ như là mối tương quan cấu trúc của hai hay một số VB có tác giả hoặc việc chuyển dịch tư tưởng LVB như là hình ảnh thế giới sang các thời đại khác sẽ gây khó khăn cho việc sử dụng và tiếp nhận khái niệm” [106, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Án Tiến Sĩ Văn Học: Tiểu Thuyết Việt Nam Đương Đại Qua Lăng Kính Lý Thuyết Liên Văn Bản là một nghiên cứu chuyên sâu, khám phá tiểu thuyết Việt Nam đương đại thông qua lý thuyết liên văn bản. Tài liệu này không chỉ phân tích cách các tác phẩm văn học hiện đại kế thừa và tương tác với những văn bản trước đó mà còn làm nổi bật sự đa chiều trong sáng tạo văn học. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự phát triển của văn học Việt Nam, cách các tác giả sử dụng liên văn bản để tạo nên những tầng ý nghĩa sâu sắc, đồng thời nhận thức được giá trị văn hóa và nghệ thuật trong từng tác phẩm.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể khám phá Luận văn văn hóa tâm linh trong truyện kiều và văn chiêu hồn của nguyễn du, nghiên cứu về yếu tố tâm linh trong văn học cổ điển. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ vấn đề tính dục trong văn học trung đại việt nam cung cấp góc nhìn thú vị về một khía cạnh khác của văn học truyền thống. Cuối cùng, Luận văn bức tranh xã hội phong kiến việt nam trong truyện cười nhìn từ phương diện nội dung sẽ giúp bạn hiểu thêm về bối cảnh xã hội ảnh hưởng đến văn học. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào chủ đề yêu thích của mình.