mở đầu của xu hướng thẩm mỹ mới trong văn học hiện đại” [75, tr. Bằng phương pháp so sánh tương đồng cũng như sự khác biệt, Lê Thị Anh đã mang đến một góc nhìn khác về Thơ mới đặt trong sự ảnh hưởng của thơ tượng trưng. Trong quá trình khảo cứu sự ảnh hưởng thơ Đường mang những đặc điểm tương đồng với thơ tượng trưng Pháp, tác giả rút ra: “.ta vẫn thấy có sự giao hòa giữa thơ Đường và thơ tượng trưng Pháp trong cả quan niệm nghệ thuật lẫn sáng tác của họ” [8, tr. Loại hình Thơ mới Việt Nam 1932-1945 (2015) của Nguyễn Thanh Tâm thiên về mô tả, lý giải và khẳng định Thơ mới là một loại hình thơ trong tiến trình thơ trữ tình Việt Nam từ khởi thủy đến hiện đại.
Xuất phát từ mục đích nêu trên, tác giả đã tập trung mô tả lịch sử nghiên cứu vấn đề loại hình Thơ mới; giới thiệu và vận dụng khung lý thuyết loại hình trong nghiên cứu văn học và thơ ca, đồng thời mô tả và lý giải để minh chứng tư cách loại hình của Thơ mới. Loại hình Thơ mới Việt Nam 1932-1945 được đánh giá là công trình nghiên cứu chuyên sâu trên phương diện là một loại hình thơ, đóng góp vào lịch sử diễn giải, nghiên cứu và định vị Thơ mới Việt Nam nói chung. Khuynh hướng thơ tượng trưng Việt Nam hiện đại (2016) - Luận án của Hồ Văn Quốc là công trình nghiên cứu về khuynh hướng tượng trưng ở Việt Nam một cách hệ thống, toàn diện, có ý nghĩa và nền tảng sâu rộng. Tác giả đã kiến giải những vấn đề liên quan đến thơ tượng trưng như: Nguyên nhân ra đời, sự hình thành, phát triển và các đặc trưng thẩm mỹ, thi pháp,.
Trên cơ sở đó, tác giả lý giải vì sao thơ tượng trưng có thể “nhập tịch” vào Việt Nam và có sức sống bền bỉ đến vậy? “Mặc dù ở Việt Nam, thơ tượng trưng không tồn tại với tư cách là một trường phái, chủ nghĩa như ở Pháp nhưng không thể phủ nhận, nó đã trở thành một khuynh hướng trong nền thơ hiện đại” [142, tr. Bên cạnh đó, tác giả cũng làm sáng rõ những đặc trưng thi học tượng trưng, quan niệm 13 về nghệ thuật thơ, thế giới và con người, cách sử dụng biểu tượng cũng như ý thức khai thác sức mạnh vi diệu của âm nhạc và ngôn ngữ của các nhà thơ Việt Nam hiện đại theo khuynh hướng tượng trưng. Những kỷ niệm tưởng tượng, tác phẩm và dư luận - Nguyễn Thanh Tâm và Vũ Thị Thu Hà đã tập hợp những bài viết, nhận xét, đánh giá về tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung. Tất cả các bài viết đều nhấn mạnh tư tưởng trong sáng tác của nhà thơ là sự mâu thuẫn, phi lý của thời gian, của trò chơi, là sự ám ảnh của thời gian; là một thế giới ngổn ngang, trống rỗng và xơ xác.
Thế giới ấy, thời gian ấy được nhà thơ “giải phẫu” bằng tư duy trái ngược, phi lý, phi logic,. đẫm chất tượng trưng. Chuyên luận Khuynh hướng tượng trưng & siêu thực trong thơ Việt Nam hiện đại (2016) của Trần Khánh Thành (chủ biên) là công trình nghiên cứu khá công phu về quan niệm, cơ sở hình thành, đặc trưng của khuynh hướng của chủ nghĩa tượng trưng và những hiểu hiện của nó trong hành trình thơ Việt Nam hiện đại. Cụ thể, tác giả đã mở ra một hệ quy chiếu tổng quan về chủ nghĩa tượng trưng trong quá trình tiếp nhận quan điểm thẩm mỹ và nguyên tác sáng tạo của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Việt Nam hiện đại.
Chuyên luận khẳng định, những thập niên gần đây, cách nhìn nhận các trào lưu hiện đại có phần cởi mở hơn, có lẽ vì thế mà yếu tố tượng trưng xuất hiện dày đặc hơn trong thơ Việt Nam đương đại: “Chính quá trình giao lưu, tiếp biến ấy đã đánh thức tiềm năng sáng tạo của thi nhân, làm nổi rõ bản lĩnh, bản sắc văn hóa, sức sống ngôn ngữ dân tộc và góp phần tạo nên những thi phẩm có giá trị cho thơ ca nước nhà” [117, tr. Trường thơ Loạn trong tiến trình Thơ mới (2018) - luận án của Chu Lê Phương đưa ra cách tiếp cận đối với Trường thơ Loạn (một trong những trường thơ mang đậm màu sắc tượng trưng). Xuất phát từ cơ sở hình thành, quan niệm sáng tác, đặc điểm tư duy, cảm hứng của các nhà “thơ loạn” và thi pháp “thơ loạn”, tác giả đã đặt trường thơ này trong toàn bộ tiến trình vận động phát triển của cả phong trào Thơ mới để thấy được diện mạo, đặc trưng và cách tân của trường thơ này. Bên cạnh đó, tác giả còn hệ thống hóa và khu biệt những đặc điểm về tư tưởng, nghệ thuật của Trường thơ Loạn so với các trường phái thơ khác cùng ra đời từ phong trào Thơ mới.
Năm 2019, luận án Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong Thơ mới Việt Nam hiện đại của Vũ Thị Lan Anh đã có những đóng góp trong việc chỉ ra những biểu hiện cho thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đến thơ Việt 14 Nam hiện đại từ 1932 đến sau 1975. Bên cạnh đó, luận án còn góp phần quan trọng trong việc nhận diện, làm rõ về chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam hiện đại. Gần đây (2019), luận án Tích hợp Đông - Tây trong Thơ mới nhìn từ yếu tố tượng trưng của Trần Thị Kim Hạnh đã góp phần chỉ ra yếu tố tượng trưng và nhận diện nó trong Thơ mới trong việc ảnh hưởng, sự tác động của quá trình giao lưu văn hóa thế giới với văn học Việt Nam. Có thể thấy, giai đoạn từ 1986 đến nay, đời sống văn học nước nhà đã trở lại quy luật vận động bình thường của nó.
Theo đó, việc đánh giá sự ảnh hưởng của thơ tượng trưng đối với thơ hiện đại Việt Nam, đặc biệt là phong trào Thơ mới có bước chuyển biến tích cực, mạnh mẽ và gặt hái được những thành tựu đáng kể. Bởi lẽ, giờ đây, các nhà nghiên cứu, phê bình không chỉ được sống trong không khí cởi mở, dân chủ, mà còn có sự hỗ trợ đắc lực của nền lý luận tân tiến trong và ngoài nước. Với cái nhìn đa chiều, các học giả đã gợi mở cho chúng tôi những hướng tiếp cận mới về thơ tượng trưng ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu thơ Bích Khê và thơ tƣợng trƣng Bích Khê Việc khảo sát tình hình nghiên cứu thơ Bích Khê nói chung và thơ tượng trưng Bích Khê nói riêng, nhìn một cách tổng thể, chúng tôi chia làm ba giai đoạn: trước năm 1945; từ năm 1945 đến năm 1986; từ năm 1986 đến nay.
Trước năm 1945 Bích Khê từng sáng tác thơ theo thể Hát nói và Đường luật ở giai đoạn đầu, sau đó bước vào Thơ mới nhưng lại “đốt cháy giai đoạn” lãng mạn để sang thơ tượng trưng. Trước năm 1936, thơ Bích Khê được in rải rác trên các báo Tiếng dân, Tiểu thuyết thứ Năm, Người mới,. Các bài thơ theo thể truyền thống được tập hợp lại thành Mấy dòng thơ cũ do Sở Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình xuất bản. Năm 1939, Bích Khê cho ra đời tập Tinh huyết do Trọng Miên xuất bản tại Hà Nội.
Tinh huyết gồm 4 phần với 34 mục bài; tuy nhiên, thời kỳ này, người ta bàn về thơ Bích Khê chưa nhiều, chưa sâu. Có thể kể đến các bài viết của các tác giả như: Phan Khôi, Hàn Mặc Tử, Trọng Miên, Hoài Thanh- Hoài Chân. Trước hết, phải kể đến Hàn Mặc Tử. Khi nhận được ba bài thơ Bích Khê gửi tặng vào ngày mồng Tám Tết năm 1938, Hàn Mặc Tử đã vô cùng ngạc nhiên và thốt lên: “.ba bài ấy đã làm cho tôi sửng sốt với cái khởi điểm của một thiên tài sắp sửa.
Rồi nhân dịp xuất bản tập thơ đầu tay Tinh huyết của Bích Khê, ông viết Lời tựa Bích Khê - Thi sĩ thần linh với những nhận xét tinh tế: “Một bông lạ nở hương, 15 một thứ hương quí trọng, thơm đủ mùi phước lộc”; “Ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê đóa hoa thần dị ấy” [132, tr. Cùng với Hàn Mặc Tử, Hoàng Trọng Miên trong Đề bạt Tinh huyết cũng đã có những cảm nhận, đánh giá cao về Bích Khê: “Tinh huyết vang dội một nỗi đau khổ tuyệt vọng phủ qua màu sắc truỵ lạc ồ ạt như muốn chảy tràn vào đường gân, mạch máu của tôi. Nhạc và lệ, đẹp và dâm, cuồng và ánh sáng, Bích Khê hoà hợp thành một dòng Tinh huyết tân kỳ” [130, tr. Ông đề cập tới những ảnh hưởng của các nhà thơ tượng trưng nước ngoài và các nhà thơ trong nước đến Bích Khê, đặc biệt ông nhấn mạnh sự ảnh hưởng của Hàn Mặc Tử tới Bích Khê: “Ở đâu đây, tôi thấy Bích Khê chịu ảnh hưởng của Hàn Mặc Tử, thi sĩ đau thương, huyền diệu” [116, tr.
Với Lời Bạt này, Hoàng Trọng Miên đã lý giải một cách say sưa những nguyên nhân, sự ảnh hưởng của Hàn Mặc Tử đối với Bích Khê. Sau Hàn Mặc Tử, Hoàng Trọng Miên, có lẽ phải điểm đến Hoài Thanh với bài viết Bích Khê. Ở bài viết này, tác giả của Thi nhân Việt Nam đã nêu lên ấn tượng một cách chủ quan: “Tôi đã gặp trong Tinh huyết những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam” [132, tr. 114]; “Tôi chưa thể nói nhiều về Bích Khê.
Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài Duy tân. Tôi thấy trong đó có những câu thơ thật đẹp. Nhưng tôi không dám chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó. Hình như vẫn còn gì nữa…” [132, tr.
Rõ ràng, trong thời điểm này (1941), Hoài Thanh không đọc và viết nhiều về Bích Khê mà qua một số bài thơ, ông chỉ kịp cảm nhận và đưa ra những nhận xét vậy thôi. Ấn tượng ấy, cho đến nay vẫn ám ảnh bạn đọc và người nghiên cứu. Cái tên Hoài Thanh luôn được các nhà nghiên cứu nhắc đến trong hầu hết các bài nghiên cứu của mình về Bích Khê. Những khó khăn trong việc tìm kiếm, khảo sát tư liệu khiến cho cách tiếp nhận, nhận định về Bích Khê trong giai đoạn này có phần hạn hẹp và dè dặt, thận trọng với các nhà nghiên cứu.
Tuy nhiên, với những tư liệu, cứ liệu có được, chúng tôi cho rằng, những nghiên cứu về Bích Khê giai đoạn trước 1945 chưa xứng với tầm vóc của Bích Khê. Có thể ở thời điểm đó, những hiện tượng như Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, đặc biệt là thơ Bích Khê còn quá lạ lẫm với công chúng.