Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Toát yếu thể loại tản văn 1. Khái niệm “tản văn” Trong văn học, tản văn thường được hiểu là một thể loại bên cạnh thơ ca, tiểu thuyết, kịch và được gọi là “tản văn văn học” hoặc “tản văn nghệ thuật”.
Sự hình thành tên gọi cũng như khái niệm thể loại này đã có một lịch sử lâu đời trong các nền văn học lớn trên thế giới. Trong luận án, chúng tôi hệ thống hóa trên cơ sở các tư liệu hiện có, phân tích rõ hơn nội hàm khái niệm tản văn ở một số khu vực văn học mà thể loại này góp mặt. Ở Trung Quốc Khái niệm “tản văn” xuất hiện lần đầu ở Trung Quốc - nền văn học giữ vị trí trung tâm, “kiến tạo” văn học vùng văn hóa chữ Hán. Do vậy, chúng tôi bắt đầu từ việc tìm hiểu khái niệm này trong nền văn học Trung Quốc.
Ở Trung Quốc, tản văn ra đời từ rất sớm: “tản văn đã có lịch sử hơn 2000 năm” [51, tr. Thời cổ đại, tản văn đã manh nha xuất hiện và có nhiều cách hiểu khác nhau. Lưu Hiệp trong cuốn Văn tâm điêu long đã chia các tác phẩm văn học thành hai loại “văn” và “bút”, trong đó “văn” là “vận văn”, còn “bút” chính là “tản văn” [35]. Tác giả Đàm Gia Kiện trong cuốn Trung Quốc cổ đại tản văn sử cảo cũng chỉ rõ đặc trưng cơ bản của tản văn là ở chữ “tản”, nghĩa là phân tán, tự do nhưng có trật tự, là một chỉnh thể, “tản” mà không “loạn” [53].
Theo Trần Đình Sử trong cuốn Trung Quốc văn học sử, khi đánh giá lại hệ thống thể loại văn học, Du Quốc Ân cho rằng: “tên gọi tản văn đều tồn tại trong hệ thống thể loại từ thời Tần Hán (tản văn lịch sử: Lã thị, Ban cố), thời Tống, thời Nguyên, thời Thanh” [91; tr. Trong cuốn Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc, bàn về khái niệm tản văn, các tác giả nhận định: “Ở thời cổ đại, tản văn là “một thể văn đối lại với biền văn và vận văn. Thời Lục triều, loại biền văn phát triển, lại chú trọng phân biệt giữa “văn” và “bút”, xem “có vần là văn, không có vần là bút” [30, tr. 6 Đến thời trung đại, tản văn trong văn học Trung Quốc vẫn được quan niệm như ở thời cổ đại, nhưng cụ thể hơn.
Tản văn chỉ phạm vi rộng, ban đầu được dùng để chỉ “văn xuôi” nói chung, phân biệt với vận văn và biền văn. Loại không có vần mà lại tự nhiên không gò bó thì gọi là “tản văn”, có nghĩa là những bài viết không phải thơ, từ, ca, phú, khúc… đều có thể được gọi là “tản văn”. Còn “tản văn” theo nghĩa hẹp chỉ loại tiểu phẩm tự sự hoặc trữ tình, biểu hiện những tư tưởng tình cảm đối với cuộc sống [30]. Phân chia thể loại văn học sớm nhất của Trung Hoa chỉ có hai loại: thơ và văn xuôi (tản văn), chứng tỏ tên gọi tản văn đã được định hình sớm nhất trong văn học Trung Quốc.
Đầu tiên, chúng ta biết đến tản văn dưới dạng tạp văn nổi tiếng của Lỗ Tấn, sau đó là các sáng tác trong phong trào Ngũ Tứ. Vào thời kỳ Ngũ Tứ, tản văn theo hình thức phương Tây được du nhập vào Trung Quốc nhằm chống lại thứ văn chương giáo điều, công thức đang thống trị trên văn đàn lúc bấy giờ. Các nhà nghiên cứu cho rằng: “tản văn chở tất cả các loại thơ ca… tản văn theo nghĩa rộng bao gồm tạp văn, tiểu phẩm, tùy bút, văn báo cáo. Tản văn theo nghĩa hẹp chuyên chở loại tiểu phẩm tự sự hoặc trữ tình biểu hiện những tư tưởng, tình cảm đối với cuộc sống” [30; tr.
Chính vì thế, Lỗ Tấn đã đồng nhất tản văn và tạp văn. Nói như ông “bất cứ thể văn gì, các thứ góp lại với nhau thế là thành tạp”. Ông tỏ ra hào hứng và tin tưởng sâu sắc về tương lai đầy hứa hẹn của thể loại này: “Tôi là một người thích đọc tạp văn, và hơn nữa còn biết rằng thích đọc tạp văn không chỉ có mình tôi. Tôi càng vui mừng với sự phát triển của tạp văn, ngày ngày được xem sự rạng rỡ của nó” [30, tr.
Đương thời, bên cạnh Lỗ Tấn còn có thể kể đến những tên tuổi viết tản văn nổi tiếng như Chu Tự Thanh, Quách Mạt Nhược, Lâm Ngữ Đường, Chu Tác Nhân, Điền Hán. Tuy nhiên, nghiên cứu về lý thuyết tản văn vẫn chưa có công trình độc lập và chuyên sâu nào, tản văn vẫn chưa được xem là thể loại văn xuôi độc lập. Như vậy, đến đầu thế kỷ XX, tản văn dần trở thành thuật ngữ quen thuộc với độc giả Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng như một số nước trong khu vực, cách dùng các thuật ngữ chỉ thể loại văn học hiện đại lúc này ở Trung Quốc cũng chưa thật 7 rạch ròi.
Đến khoảng những năm 1920, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, báo chí và tư tưởng dân chủ, tản văn mới thực sự phát triển. Năm 1921, Chu Tác Nhân (bút danh Tử Nghiêm) trong bài “Mỹ học” cũng đã xác nhận vị trí độc lập của tản văn văn học và cho rằng đây “là thể loại văn học mang tính nghệ thuật, còn gọi là thể văn sáng tạo cái đẹp. Nó có thể được phân ra thành tự sự và trữ tình, nhưng hai loại này thường xuyên xuyên thấm vào nhau” [74, tr. Trong cuốn Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc, tản văn được định nghĩa: “là một thể tài văn học cùng với thơ ca, tiểu thuyết, kịch, bao gồm các hình thức văn kể chuyện, văn trữ tình, phóng sự tạp văn… để phân biệt với khái niệm “văn xuôi” cổ đại nên cũng gọi là văn xuôi văn học” [81, tr.
Tác giả Vương Kiến Huy trong Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc cho rằng tản văn hiện đại sau thời Ngũ Tứ là một thể văn học sánh ngang với tiểu thuyết, thơ ca và kịch; tản văn “bao hàm mấy loại mục nhỏ, như tạp văn, tùy bút, ghi nhanh, du ký, thông tấn, đặc tả, báo cáo văn học” [44, tr. Như vậy, cũng như Lỗ Tấn, Vương Kiến Huy cũng có sự đồng nhất giữa tản văn và tạp văn. Ông nhấn mạnh: “tạp văn là một thể loại tản văn, là một bài luận văn mang tính văn nghệ phản ánh một cách nhanh chóng và trực tiếp những biến động xã hội… Lỗ Tấn là đại biểu đã vận dụng tản văn một cách rộng rãi để vạch trần, phanh phui, đưa ra ánh sáng những sự vật có hại đang còn tiềm ẩn. Chúng là những lưỡi dao găm, ngọn lê đâm thẳng vào kẻ thù.
Về mặt nghệ thuật, thì tình cảm tràn trề, hình tượng tươi sáng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ” [44, tr. Không chỉ xuất hiện trong các công trình nghiên cứu văn học sử, tản văn còn được nghiên cứu trong các công trình lý luận văn học. Trong giáo trình Lý luận văn học do Lưu An Hải và Tôn Văn Hiến chủ biên có đề cập về các đặc trưng cơ bản của tản văn, đặc biệt là đặc tính “Tình cảm phát” tức là tự mình cảm nhận và tự mình viết ra bằng chính những rung động của bản thân. Cuốn giáo trình nhấn mạnh đến đặc điểm tự do và hàm súc của thể loại tản văn, đặc điểm của tản văn qua kết cấu, ngôn ngữ.
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu tản văn ở Trung Quốc thời cổ đại đến nay, chúng tôi nhận thấy, dù là nền văn học có bề dày truyền thống về tản văn, 8 người Trung Quốc cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thể loại này. Văn học Trung Quốc nhìn nhận “tản văn” với ý nghĩa bao quát nhiều thể loại: ban đầu nó được dùng để chỉ “văn xuôi” nói chung, về sau, khái niệm thể loại biến đổi theo hướng thu hẹp dần nội hàm, “tản văn” được hiểu là những thể loại ngoài truyện, thơ, kịch (các thể văn xuôi còn lại như tùy bút, bút ký, phóng sự, tạp văn… gọi chung là tản văn). Mặc dù khái niệm “tản văn” xuất hiện từ rất sớm nhưng vẫn chưa được định danh một cách cụ thể, rõ ràng như các thể loại khác. Ở phương Tây Theo các nhà nghiên cứu phương Tây, việc chia tác phẩm văn học ra làm ba loại tự sự, trữ tình, kịch là xuất phát từ phương thức phản ánh hiện thực.
Aristotle là người sớm nhất đề xuất sự phân biệt này trong công trình Nghệ thuật thi ca [4]. Theo cách phân chia này, tản văn chưa được đề cập đến như một thể loại độc lập. Ở Pháp, vào thế kỷ XVI, với ý thức chống lại thứ văn chương kinh viện, giáo điều của nhà thờ, nhà văn Misen Ekendo Moongtenho (1533 - 1592) đã khai sinh ra thể loại tản văn. Năm 1580, ông xuất bản tập Essais (Đặng Thai Mai dịch là “Thí luận”) bao gồm cả tiểu phẩm, tản văn, tạp văn, tiểu luận… được sử dụng phổ biến ở châu Âu.
Essais còn được dịch là tiểu luận. Các tiểu luận được xuất bản lần đầu tiên ở Pháp bao gồm 107 chủ đề, trong đó, chủ đề số 30 Của người ăn thịt người là tiểu luận gây được nhiều sự chú ý. Tiểu luận mô tả các nghi lễ của người Tupinambá ở Brazil. Trong tác phẩm của mình, nhà văn M.Moongtenho sử dụng thuyết tương đối văn hóa và so sánh chủ nghĩa ăn thịt người với "chủ nghĩa man rợ" của châu Âu thế kỷ XVI.
Với đặc điểm của các tiểu luận này, đây có thể là tiền đề cho việc định danh thể loại tản văn về sau. Cũng từ đó “Essais” như thể loại gần gũi với tản văn, được nhiều nhà văn, nhà triết học sử dụng, dần trở thành một thể loại quan trọng của văn học hiện đại. Đặc biệt, sự xuất hiện của truyền thông báo chí ở thế kỷ XVIII đã giúp tản văn phát huy tính năng động tiềm ẩn và nhanh chóng khẳng định vị thế bằng những thành tựu rực rỡ. Thể loại này phát triển mạnh mẽ với sự đóng góp của nhiều nhà văn lớn như: Danis Diderot, Voltaire, Doris Lessing…, thậm chí “trên thế giới các nhà khoa học, toán học, triết học như: Bacon, Pascal, Montaign.
đều là tác giả tản văn nổi tiếng thế giới” [65, tr. Ở Việt Nam Trong thời trung đại, nền văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Trung Quốc. Theo khảo sát của chúng tôi, tản văn ở Việt Nam có cách hiểu tương tự như ở Trung Quốc, nghĩa là được dùng theo nghĩa văn xuôi, để phân biệt với vận văn (văn vần) và biền văn (văn biền ngẫu).