Luận Án Tiến Sĩ Văn Học: Nghiên Cứu Tản Văn Việt Nam Từ Năm 1986 Đến Hiện Tại

Luận án tiến sĩ văn học nghiên cứu văn học tản văn việt nam từ 1986 đến nay, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Trường đại học

Trường Đại học Hồng Đức

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

179
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp mới của luận án

1.6. Bố cục của luận án

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Toát yếu thể loại tản văn

2.1.1. Khái niệm “tản văn”

3. CHƯƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TẢN VĂN VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY

3.1. Điều kiện chi phối sự vận động và phát triển của tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

3.1.1. Điều kiện khách quan

3.1.2. Điều kiện nội tại

3.2. Các chặng vận động của tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

3.2.1. Tản văn từ 1986 đến hết thế kỉ XX

3.2.2. Tản văn từ đầu thế kỉ XXI đến nay

3.3. Các xu hướng tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

3.3.1. Xu hướng trữ tình

3.3.2. Xu hướng tự sự

3.3.3. Xu hướng chính luận

4. CHƯƠNG 3: CÁI TÔI TÁC GIẢ VÀ BỨC TRANH ĐỜI SỐNG TRONG TẢN VĂN VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY

4.1. Cái tôi tự biểu hiện

4.2. Cái tôi tham dự đời sống xã hội

4.3. Bức tranh thế giới

4.4. Bức tranh sinh thái

4.5. Bức tranh xã hội

5. CHƯƠNG 4: KẾT CẤU, NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU TRONG TẢN VĂN VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY

5.1. Kết cấu của tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

5.2. Cách tổ chức, sắp xếp các chi tiết, hình ảnh trong tản văn

5.2.1. Kết cấu tự do, linh hoạt

5.3. Ngôn ngữ trong tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

5.3.1. Ngôn ngữ đậm chất khẩu ngữ, phương ngữ

5.3.2. Ngôn ngữ mang tính thông tấn, báo chí

5.3.3. Ngôn ngữ mang tính chính luận

5.3.4. Ngôn ngữ mạng

5.4. Giọng điệu trong tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

5.4.1. Giọng điệu trữ tình

5.4.2. Giọng điệu suy tư, triết luận

5.4.3. Giọng điệu hài hước, giễu nhại

5.4.4. Kết hợp và chuyển đổi giọng điệu linh hoạt

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Luận án tiến sĩ Văn học

Luận án tiến sĩ Văn học với chủ đề 'Tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay' là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại tản văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Luận án tập trung vào việc phân tích, đánh giá sự phát triển, đặc điểm, và đóng góp của tản văn trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay. Đây là giai đoạn đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của văn học Việt Nam sau Đổi mới, với sự xuất hiện của nhiều tác phẩm và tác giả tiêu biểu.

1.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của luận án là nhận diện và phân tích diện mạo, đặc điểm, thành tựu của tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Luận án cũng nhằm làm rõ vai trò và vị thế của tản văn trong đời sống văn học và văn hóa tinh thần của xã hội. Thông qua việc nghiên cứu các tác phẩm tiêu biểu, luận án góp phần khẳng định những đóng góp của tản văn vào nền văn học Việt Nam hiện đại.

1.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung vào các tác phẩm tản văn được xuất bản từ năm 1986 đến nay, với sự chú trọng vào các tác giả tiêu biểu như Y Phương, Băng Sơn, Nguyễn Quang Lập, và Nguyễn Nhật Ánh. Ngoài ra, luận án cũng đề cập đến các tác giả trẻ như Hamlet Trương và Iris Cao, những người đã mang đến sức sống mới cho thể loại này.

II. Tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

Tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay đã trải qua nhiều chặng đường phát triển, từ giai đoạn khởi sắc cuối thế kỷ XX đến sự bùng nổ trong thế kỷ XXI. Luận án phân tích các yếu tố lịch sử, xã hội, và văn hóa đã ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của thể loại này. Đặc biệt, luận án nhấn mạnh vai trò của bối cảnh Đổi mới trong việc tạo điều kiện cho sự xuất hiện của nhiều phong cách tản văn mới mẻ và độc đáo.

2.1. Điều kiện phát triển

Sự phát triển của tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố khách quan như chính sách Đổi mới, sự mở cửa kinh tế, và quá trình hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, các yếu tố nội tại như sự đổi mới trong tư duy sáng tạo và sự đa dạng hóa các phương thức biểu đạt cũng góp phần quan trọng.

2.2. Các xu hướng tản văn

Luận án chỉ ra ba xu hướng chính trong tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay: xu hướng trữ tình, xu hướng tự sự, và xu hướng chính luận. Mỗi xu hướng đều có những đặc điểm riêng, phản ánh sự đa dạng và phong phú của thể loại này trong việc khám phá và thể hiện đời sống con người.

III. Cái tôi tác giả và bức tranh đời sống

Luận án đi sâu vào phân tích cái tôi tác giả trong tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay, qua đó làm rõ cách các tác giả thể hiện bản thân và tham gia vào đời sống xã hội. Bên cạnh đó, luận án cũng khám phá bức tranh đời sống được phản ánh qua các tác phẩm tản văn, bao gồm bức tranh sinh thái, xã hội, và thế giới nội tâm của con người.

3.1. Cái tôi tự biểu hiện

Cái tôi tác giả trong tản văn được thể hiện qua sự tự biểu hiện, phản ánh những suy tư, cảm xúc, và trải nghiệm cá nhân. Đây là yếu tố quan trọng giúp tản văn trở nên gần gũi và chân thực với người đọc.

3.2. Bức tranh đời sống

Các tác phẩm tản văn từ năm 1986 đến nay đã khắc họa một bức tranh đa chiều về đời sống, từ những vấn đề xã hội đến những khía cạnh tinh thần và tâm linh của con người. Điều này cho thấy khả năng phản ánh và phê phán xã hội của thể loại này.

IV. Kết cấu ngôn ngữ và giọng điệu

Luận án phân tích các yếu tố nghệ thuật trong tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay, bao gồm kết cấu, ngôn ngữ, và giọng điệu. Những yếu tố này không chỉ góp phần tạo nên phong cách riêng của từng tác giả mà còn khẳng định sự đa dạng và sáng tạo trong thể loại tản văn.

4.1. Kết cấu tự do

Kết cấu của tản văn Việt Nam thường mang tính tự do, linh hoạt, không bị gò bó bởi các quy tắc cứng nhắc. Điều này cho phép các tác giả tự do sắp xếp các chi tiết và hình ảnh theo cách riêng của mình.

4.2. Ngôn ngữ đa dạng

Ngôn ngữ trong tản văn từ năm 1986 đến nay rất đa dạng, từ ngôn ngữ khẩu ngữ, phương ngữ đến ngôn ngữ mang tính thông tấn, báo chí. Sự đa dạng này góp phần làm phong phú thêm cách diễn đạt và truyền tải thông điệp của tác phẩm.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ văn học tản văn việt nam từ 1986 đến nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Toát yếu thể loại tản văn 1. Khái niệm “tản văn” Trong văn học, tản văn thường được hiểu là một thể loại bên cạnh thơ ca, tiểu thuyết, kịch và được gọi là “tản văn văn học” hoặc “tản văn nghệ thuật”.

Sự hình thành tên gọi cũng như khái niệm thể loại này đã có một lịch sử lâu đời trong các nền văn học lớn trên thế giới. Trong luận án, chúng tôi hệ thống hóa trên cơ sở các tư liệu hiện có, phân tích rõ hơn nội hàm khái niệm tản văn ở một số khu vực văn học mà thể loại này góp mặt. Ở Trung Quốc Khái niệm “tản văn” xuất hiện lần đầu ở Trung Quốc - nền văn học giữ vị trí trung tâm, “kiến tạo” văn học vùng văn hóa chữ Hán. Do vậy, chúng tôi bắt đầu từ việc tìm hiểu khái niệm này trong nền văn học Trung Quốc.

Ở Trung Quốc, tản văn ra đời từ rất sớm: “tản văn đã có lịch sử hơn 2000 năm” [51, tr. Thời cổ đại, tản văn đã manh nha xuất hiện và có nhiều cách hiểu khác nhau. Lưu Hiệp trong cuốn Văn tâm điêu long đã chia các tác phẩm văn học thành hai loại “văn” và “bút”, trong đó “văn” là “vận văn”, còn “bút” chính là “tản văn” [35]. Tác giả Đàm Gia Kiện trong cuốn Trung Quốc cổ đại tản văn sử cảo cũng chỉ rõ đặc trưng cơ bản của tản văn là ở chữ “tản”, nghĩa là phân tán, tự do nhưng có trật tự, là một chỉnh thể, “tản” mà không “loạn” [53].

Theo Trần Đình Sử trong cuốn Trung Quốc văn học sử, khi đánh giá lại hệ thống thể loại văn học, Du Quốc Ân cho rằng: “tên gọi tản văn đều tồn tại trong hệ thống thể loại từ thời Tần Hán (tản văn lịch sử: Lã thị, Ban cố), thời Tống, thời Nguyên, thời Thanh” [91; tr. Trong cuốn Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc, bàn về khái niệm tản văn, các tác giả nhận định: “Ở thời cổ đại, tản văn là “một thể văn đối lại với biền văn và vận văn. Thời Lục triều, loại biền văn phát triển, lại chú trọng phân biệt giữa “văn” và “bút”, xem “có vần là văn, không có vần là bút” [30, tr. 6 Đến thời trung đại, tản văn trong văn học Trung Quốc vẫn được quan niệm như ở thời cổ đại, nhưng cụ thể hơn.

Tản văn chỉ phạm vi rộng, ban đầu được dùng để chỉ “văn xuôi” nói chung, phân biệt với vận văn và biền văn. Loại không có vần mà lại tự nhiên không gò bó thì gọi là “tản văn”, có nghĩa là những bài viết không phải thơ, từ, ca, phú, khúc… đều có thể được gọi là “tản văn”. Còn “tản văn” theo nghĩa hẹp chỉ loại tiểu phẩm tự sự hoặc trữ tình, biểu hiện những tư tưởng tình cảm đối với cuộc sống [30]. Phân chia thể loại văn học sớm nhất của Trung Hoa chỉ có hai loại: thơ và văn xuôi (tản văn), chứng tỏ tên gọi tản văn đã được định hình sớm nhất trong văn học Trung Quốc.

Đầu tiên, chúng ta biết đến tản văn dưới dạng tạp văn nổi tiếng của Lỗ Tấn, sau đó là các sáng tác trong phong trào Ngũ Tứ. Vào thời kỳ Ngũ Tứ, tản văn theo hình thức phương Tây được du nhập vào Trung Quốc nhằm chống lại thứ văn chương giáo điều, công thức đang thống trị trên văn đàn lúc bấy giờ. Các nhà nghiên cứu cho rằng: “tản văn chở tất cả các loại thơ ca… tản văn theo nghĩa rộng bao gồm tạp văn, tiểu phẩm, tùy bút, văn báo cáo. Tản văn theo nghĩa hẹp chuyên chở loại tiểu phẩm tự sự hoặc trữ tình biểu hiện những tư tưởng, tình cảm đối với cuộc sống” [30; tr.

Chính vì thế, Lỗ Tấn đã đồng nhất tản văn và tạp văn. Nói như ông “bất cứ thể văn gì, các thứ góp lại với nhau thế là thành tạp”. Ông tỏ ra hào hứng và tin tưởng sâu sắc về tương lai đầy hứa hẹn của thể loại này: “Tôi là một người thích đọc tạp văn, và hơn nữa còn biết rằng thích đọc tạp văn không chỉ có mình tôi. Tôi càng vui mừng với sự phát triển của tạp văn, ngày ngày được xem sự rạng rỡ của nó” [30, tr.

Đương thời, bên cạnh Lỗ Tấn còn có thể kể đến những tên tuổi viết tản văn nổi tiếng như Chu Tự Thanh, Quách Mạt Nhược, Lâm Ngữ Đường, Chu Tác Nhân, Điền Hán. Tuy nhiên, nghiên cứu về lý thuyết tản văn vẫn chưa có công trình độc lập và chuyên sâu nào, tản văn vẫn chưa được xem là thể loại văn xuôi độc lập. Như vậy, đến đầu thế kỷ XX, tản văn dần trở thành thuật ngữ quen thuộc với độc giả Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng như một số nước trong khu vực, cách dùng các thuật ngữ chỉ thể loại văn học hiện đại lúc này ở Trung Quốc cũng chưa thật 7 rạch ròi.

Đến khoảng những năm 1920, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, báo chí và tư tưởng dân chủ, tản văn mới thực sự phát triển. Năm 1921, Chu Tác Nhân (bút danh Tử Nghiêm) trong bài “Mỹ học” cũng đã xác nhận vị trí độc lập của tản văn văn học và cho rằng đây “là thể loại văn học mang tính nghệ thuật, còn gọi là thể văn sáng tạo cái đẹp. Nó có thể được phân ra thành tự sự và trữ tình, nhưng hai loại này thường xuyên xuyên thấm vào nhau” [74, tr. Trong cuốn Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc, tản văn được định nghĩa: “là một thể tài văn học cùng với thơ ca, tiểu thuyết, kịch, bao gồm các hình thức văn kể chuyện, văn trữ tình, phóng sự tạp văn… để phân biệt với khái niệm “văn xuôi” cổ đại nên cũng gọi là văn xuôi văn học” [81, tr.

Tác giả Vương Kiến Huy trong Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc cho rằng tản văn hiện đại sau thời Ngũ Tứ là một thể văn học sánh ngang với tiểu thuyết, thơ ca và kịch; tản văn “bao hàm mấy loại mục nhỏ, như tạp văn, tùy bút, ghi nhanh, du ký, thông tấn, đặc tả, báo cáo văn học” [44, tr. Như vậy, cũng như Lỗ Tấn, Vương Kiến Huy cũng có sự đồng nhất giữa tản văn và tạp văn. Ông nhấn mạnh: “tạp văn là một thể loại tản văn, là một bài luận văn mang tính văn nghệ phản ánh một cách nhanh chóng và trực tiếp những biến động xã hội… Lỗ Tấn là đại biểu đã vận dụng tản văn một cách rộng rãi để vạch trần, phanh phui, đưa ra ánh sáng những sự vật có hại đang còn tiềm ẩn. Chúng là những lưỡi dao găm, ngọn lê đâm thẳng vào kẻ thù.

Về mặt nghệ thuật, thì tình cảm tràn trề, hình tượng tươi sáng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ” [44, tr. Không chỉ xuất hiện trong các công trình nghiên cứu văn học sử, tản văn còn được nghiên cứu trong các công trình lý luận văn học. Trong giáo trình Lý luận văn học do Lưu An Hải và Tôn Văn Hiến chủ biên có đề cập về các đặc trưng cơ bản của tản văn, đặc biệt là đặc tính “Tình cảm phát” tức là tự mình cảm nhận và tự mình viết ra bằng chính những rung động của bản thân. Cuốn giáo trình nhấn mạnh đến đặc điểm tự do và hàm súc của thể loại tản văn, đặc điểm của tản văn qua kết cấu, ngôn ngữ.

Qua khảo sát các công trình nghiên cứu tản văn ở Trung Quốc thời cổ đại đến nay, chúng tôi nhận thấy, dù là nền văn học có bề dày truyền thống về tản văn, 8 người Trung Quốc cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thể loại này. Văn học Trung Quốc nhìn nhận “tản văn” với ý nghĩa bao quát nhiều thể loại: ban đầu nó được dùng để chỉ “văn xuôi” nói chung, về sau, khái niệm thể loại biến đổi theo hướng thu hẹp dần nội hàm, “tản văn” được hiểu là những thể loại ngoài truyện, thơ, kịch (các thể văn xuôi còn lại như tùy bút, bút ký, phóng sự, tạp văn… gọi chung là tản văn). Mặc dù khái niệm “tản văn” xuất hiện từ rất sớm nhưng vẫn chưa được định danh một cách cụ thể, rõ ràng như các thể loại khác. Ở phương Tây Theo các nhà nghiên cứu phương Tây, việc chia tác phẩm văn học ra làm ba loại tự sự, trữ tình, kịch là xuất phát từ phương thức phản ánh hiện thực.

Aristotle là người sớm nhất đề xuất sự phân biệt này trong công trình Nghệ thuật thi ca [4]. Theo cách phân chia này, tản văn chưa được đề cập đến như một thể loại độc lập. Ở Pháp, vào thế kỷ XVI, với ý thức chống lại thứ văn chương kinh viện, giáo điều của nhà thờ, nhà văn Misen Ekendo Moongtenho (1533 - 1592) đã khai sinh ra thể loại tản văn. Năm 1580, ông xuất bản tập Essais (Đặng Thai Mai dịch là “Thí luận”) bao gồm cả tiểu phẩm, tản văn, tạp văn, tiểu luận… được sử dụng phổ biến ở châu Âu.

Essais còn được dịch là tiểu luận. Các tiểu luận được xuất bản lần đầu tiên ở Pháp bao gồm 107 chủ đề, trong đó, chủ đề số 30 Của người ăn thịt người là tiểu luận gây được nhiều sự chú ý. Tiểu luận mô tả các nghi lễ của người Tupinambá ở Brazil. Trong tác phẩm của mình, nhà văn M.Moongtenho sử dụng thuyết tương đối văn hóa và so sánh chủ nghĩa ăn thịt người với "chủ nghĩa man rợ" của châu Âu thế kỷ XVI.

Với đặc điểm của các tiểu luận này, đây có thể là tiền đề cho việc định danh thể loại tản văn về sau. Cũng từ đó “Essais” như thể loại gần gũi với tản văn, được nhiều nhà văn, nhà triết học sử dụng, dần trở thành một thể loại quan trọng của văn học hiện đại. Đặc biệt, sự xuất hiện của truyền thông báo chí ở thế kỷ XVIII đã giúp tản văn phát huy tính năng động tiềm ẩn và nhanh chóng khẳng định vị thế bằng những thành tựu rực rỡ. Thể loại này phát triển mạnh mẽ với sự đóng góp của nhiều nhà văn lớn như: Danis Diderot, Voltaire, Doris Lessing…, thậm chí “trên thế giới các nhà khoa học, toán học, triết học như: Bacon, Pascal, Montaign.

đều là tác giả tản văn nổi tiếng thế giới” [65, tr. Ở Việt Nam Trong thời trung đại, nền văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Trung Quốc. Theo khảo sát của chúng tôi, tản văn ở Việt Nam có cách hiểu tương tự như ở Trung Quốc, nghĩa là được dùng theo nghĩa văn xuôi, để phân biệt với vận văn (văn vần) và biền văn (văn biền ngẫu).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Án Tiến Sĩ Văn Học: Tản Văn Việt Nam Từ 1986 Đến Nay là một nghiên cứu chuyên sâu về sự phát triển và đặc điểm của thể loại tản văn trong văn học Việt Nam từ sau thời kỳ Đổi Mới. Tài liệu này không chỉ phân tích các tác phẩm tiêu biểu mà còn khám phá sự biến đổi trong phong cách, chủ đề và tư tưởng của các nhà văn, mang đến cái nhìn toàn diện về sự đóng góp của tản văn vào nền văn học hiện đại. Độc giả sẽ được tiếp cận với những góc nhìn mới mẻ, sâu sắc về văn hóa và xã hội Việt Nam qua từng trang viết.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự, hãy khám phá thêm Luận văn đất và người xứ Huế trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường để hiểu rõ hơn về văn học ký sự, hoặc Luận văn văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du để khám phá yếu tố tâm linh trong văn học cổ điển. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam cũng là một tài liệu đáng chú ý, mở rộng hiểu biết về các khía cạnh văn hóa và xã hội qua lăng kính văn học. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào những chủ đề hấp dẫn và bổ ích.