Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu Tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay của tác giả Nguyễn Thị Hà là luận án tiến sĩ văn học thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số 9 22 01 21), được hoàn thành tại Trường Đại học Hồng Đức (Thanh Hóa) năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Tú Anh và PGS. Ngô Văn Giá.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tản văn đã xuất hiện từ những chặng đầu của văn học hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ XX với các sáng tác của Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bá Trác, Đạm Phương. Tuy nhiên, trong suốt thế kỷ XX, tản văn từng bị xem là thể loại ghi chép tản mạn dành cho các cây bút không chuyên và gần như bị lãng quên trong hoạt động nghiên cứu lý thuyết. Từ năm 1986, cùng với công cuộc Đổi mới, tinh thần dân chủ và sự phát triển của báo chí truyền thông, tản văn đã phục hưng và bước vào giai đoạn bùng nổ ở đầu thế kỷ XXI. Mặc dù số lượng tác phẩm và người đọc tăng nhanh, giới nghiên cứu văn học vẫn chưa có nhiều công trình hệ thống hóa toàn diện về diện mạo, thi pháp và quy luật vận động của thể loại này sau năm 1986.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Nhận diện, phân tích và luận giải diện mạo, đặc điểm, thành tựu cùng những đóng góp của tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay; làm rõ vai trò, vị thế của thể loại này trong đời sống văn học và văn hóa tinh thần.
  2. Thông qua các trường hợp tiêu biểu, làm rõ hơn những đặc trưng của thể tản văn trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu quan niệm về thể tản văn và lịch sử nghiên cứu tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay làm cơ sở lý luận và thực tiễn.
  2. Nghiên cứu bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa như điều kiện chi phối sự vận động và phát triển của tản văn Việt Nam từ sau năm 1986.
  3. Nghiên cứu hình tượng nghệ thuật qua cái tôi tác giả và bức tranh đời sống nhằm làm rõ cái nhìn về thế giới và con người của các cây bút tản văn.
  4. Nghiên cứu các phương thức, phương tiện biểu hiện về kết cấu, chi tiết, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật của tản văn giai đoạn này.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Diện mạo, đặc điểm, thành tựu của thể loại tản văn Việt Nam từ sau năm 1986 đến nay.
  • Phạm vi tư liệu: Luận án thống kê và khảo sát 174 tuyển tập tản văn xuất bản từ năm 1986 đến thời điểm nghiên cứu (được lập danh mục tại phần Phụ lục). Phạm vi tác giả bao gồm các cây bút thành danh từ cuối thế kỷ XX (Y Phương, Băng Sơn, Tô Hoài, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Quang Thiều, Cao Huy Thuần, Nguyễn Nhật Ánh, Phan Thị Vàng Anh, Hoàng Việt Hằng, Dạ Ngân, Lê Giang...), các tác giả nổi bật đầu thế kỷ XXI (Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn, Nguyễn Trương Quý, Mai Lâm, Đỗ Bích Thúy, Huỳnh Như Phương...) và một số cây bút trẻ (Hamlet Trương, Iris Cao, Phan Ý Yên, Uông Triều, Anh Khang, Minh Nhật, Phan Ngọc Thạch, Hạ Vũ...).
Tiêu chí Thông tin xác định trong luận án
Tên đề tài Tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay
Tác giả Nguyễn Thị Hà
Người hướng dẫn PGS. Lê Tú Anh, PGS. Ngô Văn Giá
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Hồng Đức - Thanh Hóa
Năm bảo vệ 2021
Chuyên ngành & Mã số Văn học Việt Nam – 9 22 01 21
Hướng tiếp cận chính Thi pháp thể loại kết hợp nghiên cứu lịch sử - xã hội và liên ngành
Quy mô tư liệu khảo sát 174 tuyển tập tản văn xuất bản từ sau năm 1986 đến nay

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu lý thuyết thể loại và các công trình về tản văn Việt Nam qua các thời kỳ:

  1. Nghiên cứu lý thuyết thể loại tản văn tại Việt Nam:
  • Thời trung đại và cận hiện đại: Khái niệm "tản văn" được dùng đối lập với "vận văn" và "biền văn" để chỉ văn xuôi nói chung, như trong Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích (cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX). Giai đoạn 1930–1945, Đặng Thai Mai (Văn học khái luận, 1944) chưa đi sâu vào thể loại cụ thể; Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại) ghi nhận Tản Đà là người đặt nền móng cho tản văn nhưng chưa định danh thành lý thuyết độc lập.
  • Thập niên 1960–1970: Nguyễn Lương Ngọc (Mấy vấn đề nguyên lý văn học) chia văn học thành 4 loại (thơ ca, tiểu thuyết, kịch, tản văn) và coi tản văn gồm phóng sự, tạp văn, tùy bút. Giáo trình của Trần Văn Bính, Nguyễn Xuân Nam, Hà Minh Đức cũng đề cập đến các dạng thức văn xuôi này.
  • Thập niên 1980–1990: Giáo trình Lí luận văn học tập 2 (Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam) xếp tạp văn, văn chính luận nghệ thuật vào loại ký. Năm 1992, Hoàng Ngọc Hiến (Năm bài giảng về thể loại) nhận định tản văn là một tiểu loại của ký mang tính ngắn gọn, hàm súc, chấm phá. Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) chính thức đưa "tản văn" thành một mục từ độc lập. Trần Đình Sử sau đó tiếp tục khẳng định vị thế thể loại qua bài viết Tản văn Việt Nam hiện đại - Một thể loại bị lãng quên (2006).
  1. Nghiên cứu về tản văn Việt Nam từ sau năm 1986:
  • Các công trình chuyên khảo: Lê Trà My với luận án tiến sĩ Tản văn Việt Nam thế kỉ XX (Từ cái nhìn thể loại) và chuyên khảo Tản văn hiện đại Việt Nam - lý thuyết và lịch sử (2014) khảo sát 58 cây bút qua 3 giai đoạn lịch sử. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2020) bảo vệ luận án tiến sĩ Tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn thể loại.
  • Bài viết và tiểu luận nghiên cứu: Đỗ Thị Thu Huyền (Kí và tản văn các dân tộc thiểu số từ 1986 đến nay, 2016); các bài báo của Nguyễn Bích Thu, Hoài Nam, Mai Anh Tuấn, Tuy Hòa, Lê Thị Hường, Phạm Thành Hưng; các luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thu Phương, Trần Thị Thanh Loan, Nguyễn Thị Yến, Sùng Thị Hương, Biện Thị Quỳnh Trang.

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: Tập trung khảo sát toàn diện tiến trình vận động của tản văn từ dấu mốc Đổi mới năm 1986 đến thời điểm hiện tại; làm rõ các điều kiện kinh tế - xã hội, báo chí truyền thông và mạng viễn thông toàn cầu tác động đến thể loại; phân loại các xu hướng vận động chính; phân tích hình tượng cái tôi tác giả, bức tranh đời sống và các phương thức biểu hiện nghệ thuật (kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu) trên cơ sở ngữ liệu 174 tuyển tập tản văn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết và khái niệm:

  • Luận án khảo sát nguồn gốc khái niệm "tản văn" trong văn học Trung Quốc từ thời cổ đại (Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long phân biệt "văn" và "bút"; Đàm Gia Kiện trong Trung Quốc cổ đại tản văn sử cảo xác định nguyên lý "tản mà không loạn"; Lỗ Tấn, Chu Tác Nhân, Vương Kiến Huy, Lưu An Hải, Tôn Văn Hiến phân tích tản văn hiện đại và tạp văn).
  • Tại phương Tây, luận án truy nguyên sự hình thành thể loại từ Nghệ thuật thi ca của Aristotle đến tập Essais (1580) của Michel de Montaigne (Đặng Thai Mai dịch là "Thí luận"), cùng các trước tác của Francis Bacon, Blaise Pascal, Denis Diderot, Voltaire.
  • Luận án tiếp thu định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học: Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc; có thể sử dụng các phương thức trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật; lối thể hiện mang tính chất chấm phá, phi cốt truyện; có cấu tứ độc đáo, mang đậm bản sắc cá tính và giọng điệu riêng của tác giả.
  • Luận án khu biệt tản văn với các thể loại lân cận: Ký (tản văn mang tính chủ quan cao hơn, nhấn mạnh khoảnh khắc và suy tư cá nhân thay vì tường thuật sự kiện khách quan), Tùy bút, và Tạp văn (tạp văn thiên về tính thời sự, chính luận và tính chiến đấu xã hội).

Về phương pháp nghiên cứu:

  • Hướng tiếp cận chính: Nghiên cứu thi pháp thể loại nhằm chỉ ra hình thức bên trong và quy luật biểu đạt nội dung hiện thực của tản văn.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Xem xét mối quan hệ giữa bối cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội sau năm 1986 với sự vận động của thể loại.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Sử dụng để khảo sát danh mục tác phẩm, phân chia các giai đoạn và xác lập các xu hướng tản văn.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu đặc điểm nội dung, nghệ thuật của tản văn sau 1986 với giai đoạn trước 1986.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức văn hóa học, xã hội học và ngôn ngữ học để phân tích các yếu tố văn hóa vùng miền và ngôn ngữ trong tác phẩm.
  • Thao tác bổ trợ: Phân tích, tổng hợp và khái quát hóa dữ liệu văn bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử hình thành khái niệm tản văn tại Trung Quốc, phương Tây và Việt Nam, từ đó xác lập các đặc điểm loại hình cơ bản:

  • Đa dạng, phong phú về đề tài: Bao quát từ tự nhiên, vũ trụ, sinh thái đến nhân sinh, phong tục tập quán, đạo đức và thế sự đời thường.
  • Không có cốt truyện, kết cấu linh hoạt, dung lượng ngắn gọn, hàm súc: Tác phẩm vận hành theo nguyên lý "hình tản mà thần tụ" (hình thức biểu hiện phân tán nhưng tập trung thống nhất về tư tưởng, tình cảm và chủ đề), cấu tứ dựa trên một tín hiệu thẩm mỹ trung tâm.
  • Biểu hiện rõ nét cái tôi tác giả: Nguyên tắc tự biểu hiện được đặt lên hàng đầu; cái tôi nghệ thuật trùng khít với nhân vật xưng "tôi", thực hiện đối thoại trực tiếp với người đọc.
  • Cách thức biểu đạt tự do: Tự do kết hợp các phương thức biểu đạt và các lớp ngôn ngữ đa dạng.

Chương này cũng tổng thuật chi tiết hai nhóm công trình: nghiên cứu lý thuyết thể loại tản văn và nghiên cứu thực tiễn tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay, xác định rõ khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết.

Chương 2. Sự vận động và phát triển của tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 2 phân tích các điều kiện tác động và tiến trình phát triển của tản văn qua hai phương diện:

  • Điều kiện khách quan: Công cuộc Đổi mới kinh tế - xã hội từ năm 1986 chuyển dịch sang cơ chế thị trường; quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mở rộng giao lưu văn hóa; sự phát triển của hệ thống báo chí truyền thông (đến tháng 7/2018 có 982 cơ quan báo, tạp chí được cấp phép, gồm 193 báo in, 639 tạp chí, 159 báo/tạp chí điện tử, 525 trang thông tin điện tử tổng hợp, 420 mạng xã hội) và mạng viễn thông toàn cầu tạo diễn đàn công bố nhanh chóng cho tản văn.
  • Điều kiện nội tại: Kế thừa kinh nghiệm nghệ thuật của tản văn giai đoạn trước 1986; sự trỗi dậy của ý thức cá nhân; sự gia tăng mạnh mẽ của lực lượng sáng tác đa ngành nghề và đông đảo các tác giả nữ (Dạ Ngân, Trần Thùy Mai, Hoàng Việt Hằng, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Di Li, Phong Điệp, Trần Thu Trang...); sự thay đổi trong thị hiếu tiếp nhận của công chúng hiện đại.

Luận án phân chia tiến trình vận động thành 2 chặng:

  1. Tản văn từ 1986 đến hết thế kỷ XX: Chặng đường khởi sắc, tái lập vị thế với các tác giả tiêu biểu như Tô Hoài, Hoàng Phủ Ngọc Tường (Nhàn đàm, Người ham chơi), Băng Sơn, Mai Văn Tạo, Lý Lan, Thanh Hào, Mai Ngữ, Vĩnh Quyền, Tạ Duy Anh... Trọng tâm phản ánh là vẻ đẹp quê hương, phong tục tập quán truyền thống và những suy tư về nghề văn.
  2. Tản văn từ đầu thế kỷ XXI đến nay: Thời kỳ bùng nổ về số lượng tác phẩm và tuyển tập, hình thành dòng tản văn mạng và mở rộng biên độ phản ánh sang các vấn đề đô thị, sinh thái và tâm lý giới trẻ.

Chương 2 đồng thời xác lập 3 xu hướng vận động chính của tản văn sau 1986:

  • Xu hướng trữ tình: Thiên về bộc lộ cảm xúc, hoài niệm quá khứ, tình yêu quê hương, gia đình.
  • Xu hướng tự sự: Khai thác chi tiết đời sống, khắc họa chân dung nhân vật, tái hiện mẩu chuyện sinh hoạt thế sự.
  • Xu hướng chính luận: Bàn luận trực tiếp các vấn đề xã hội, đạo đức, giáo dục và trách nhiệm công dân.

Chương 3. Cái tôi tác giả và bức tranh đời sống trong tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 3 đi sâu phân tích hai bình diện nội dung cốt lõi của thể loại:

  • Cái tôi tác giả:
    • Cái tôi tự biểu hiện: Thể hiện nhu cầu giãi bày tâm tư cá nhân, những rung cảm riêng tư, ký ức tuổi thơ, trải nghiệm sống và chiêm nghiệm triết lý của người cầm bút.
    • Cái tôi tham dự đời sống xã hội: Thể hiện tư cách công dân, ý thức trách nhiệm trước các vấn đề thời cuộc, đối thoại về những biểu hiện tiêu cực hoặc biến động xã hội.
  • Bức tranh đời sống:
    • Bức tranh sinh thái: Phản ánh mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, không gian làng quê, cảnh quan môi trường và sự biến đổi của hệ sinh thái trước tác động của hiện đại hóa.
    • Bức tranh xã hội: Tái hiện các phong tục tập quán, nếp sống cộng đồng, văn hóa vùng miền (văn hóa Thăng Long - Hà Nội, văn hóa Nam Bộ, không gian văn hóa vùng cao phía Bắc); đồng thời ghi nhận nhịp sống đô thị, sự va đập giữa các giá trị truyền thống và lối sống hiện đại.

Chương 4. Kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu trong tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 4 khảo sát các phương diện thi pháp hình thức của tản văn giai đoạn này:

  • Về kết cấu:
    • Cách tổ chức, sắp xếp các chi tiết, hình ảnh: Dựa trên một "tứ" nghệ thuật hoặc một tín hiệu trung tâm để liên kết các trường liên tưởng.
    • Kết cấu tự do, linh hoạt: Phá vỡ trật tự tuyến tính của cốt truyện truyền thống, vận động theo dòng hồi tưởng, tâm trạng hoặc mạch suy luận logic.
  • Về ngôn ngữ:
    • Ngôn ngữ đậm chất khẩu ngữ, phương ngữ: Sử dụng lớp từ ngữ sinh hoạt thường nhật, thành ngữ, tiếng lóng và sắc thái địa phương nhằm tăng tính tự nhiên, dân dã.
    • Ngôn ngữ mang tính thông tấn, báo chí: Ngắn gọn, cập nhật thông tin nhanh, phản ánh sự kiện thời sự.
    • Ngôn ngữ mang tính chính luận: Lập luận chặt chẽ, sử dụng thuật ngữ xã hội, giàu tính thuyết phục.
    • Ngôn ngữ mạng: Tiếp thu lối diễn đạt trên Internet, blog, mạng xã hội, mang hơi thở đời sống giới trẻ.
  • Về giọng điệu:
    • Giọng điệu trữ tình: Nhẹ nhàng, thủ thỉ, sâu lắng, giàu chất hoài niệm.
    • Giọng điệu suy tư, triết luận: Trầm lắng, đúc kết chiêm nghiệm nhân sinh.
    • Giọng điệu hài hước, giễu nhại: Sử dụng yếu tố trào phúng, tự trào để châm biếm các thói hư tật xấu trong đời sống.
    • Khả năng kết hợp và chuyển đổi giọng điệu linh hoạt trong cùng một chỉnh thể văn bản.

Kết quả và những đóng góp mới

Dựa trên công bố của luận án, công trình đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:

  1. Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm sáng rõ bản chất thể loại tản văn trong mối tương quan với các thể loại ký, tùy bút, tạp văn; xác lập các tiêu chí nhận diện đặc trưng thi pháp (kết cấu phi cốt truyện, "hình tản thần tụ", nguyên tắc tự biểu hiện cái tôi, phương thức biểu đạt đa dạng).
  2. Về mặt thực tiễn: Luận án hệ thống hóa và phác thảo diện mạo, tiến trình vận động, thành tựu của tản văn Việt Nam từ năm 1986 đến nay qua hai chặng đường phát triển và 3 xu hướng nội dung chính; phân tích sâu sắc các bình diện hình tượng cái tôi, bức tranh hiện thực và thi pháp nghệ thuật (kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu) trên cơ sở ngữ liệu phong phú gồm 174 tuyển tập.
  3. Về giải pháp và nhận thức: Luận án đưa ra cái nhìn khách quan, khoa học nhằm xác lập vị thế độc lập của tản văn trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại, xóa bỏ quan niệm coi tản văn là dạng văn viết tùy tiện, nghiệp dư.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Mặc dù đã khảo sát diện rộng 174 tuyển tập xuất bản từ sau năm 1986, luận án chủ yếu đi sâu vào các tác giả tiêu biểu có tác phẩm in thành sách; chưa thể bao quát hết toàn bộ khối lượng tác phẩm tản văn xuất hiện liên tục và tản mát trên các trang mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến và báo điện tử.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát tản văn mạng trong kỷ nguyên số; nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng giao thoa thể loại giữa tản văn với tiểu phẩm báo chí, tản văn du ký và các hình thức viết phi hư cấu (non-fiction) đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án Tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Tham khảo khung lý thuyết thể loại tản văn tại Chương 1, hệ thống tiêu chí phân loại và phương pháp tiếp cận thi pháp học kết hợp nghiên cứu liên ngành.
  • Giảng viên, giáo viên dạy văn học tại các trường đại học, cao đẳng và phổ thông: Khai thác tư liệu tại Chương 3 và Chương 4 để phục vụ giảng dạy các tác giả tản văn đương đại (Tô Hoài, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Băng Sơn, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà, Y Phương...).
  • Nhà nghiên cứu, phê bình văn học, biên tập viên báo chí và xuất bản: Tham khảo danh mục thống kê 174 tuyển tập tản văn ở phần Phụ lục và các luận giải về sự tác động của truyền thông đối với đời sống thể loại tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thể loại tản văn như thế nào và dựa trên đặc trưng cốt lõi nào?
Luận án tiếp thu định nghĩa từ Từ điển thuật ngữ văn học, xác định tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, thể hiện đời sống theo phương thức chấm phá, phi cốt truyện nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu và cốt cách cá nhân. Đặc trưng cốt lõi của tản văn gồm: đề tài rộng lớn, kết cấu linh hoạt theo nguyên lý "hình tản mà thần tụ", bộc lộ trực tiếp cái tôi tác giả và phương thức biểu đạt tự do.

2. Tiến trình phát triển của tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay được chia thành mấy chặng?
Luận án chia tiến trình vận động thành 2 chặng: (1) Chặng từ 1986 đến hết thế kỷ XX: thời kỳ hồi sinh, khởi sắc sau thời gian dài bị quên lãng, chuẩn bị cho sự bứt phá; (2) Chặng từ đầu thế kỷ XXI đến nay: thời kỳ bùng nổ, phát triển cực thịnh với sự hỗ trợ của công nghệ số, Internet và mạng xã hội.

3. Những điều kiện nào chi phối sự phục hưng của tản văn sau năm 1986?
Sự phục hưng của tản văn chịu sự chi phối của hai nhóm điều kiện: Điều kiện khách quan gồm công cuộc Đổi mới kinh tế - xã hội, toàn cầu hóa, sự bùng nổ của báo chí truyền thông (với gần 1.000 cơ quan báo chí) và mạng Internet; Điều kiện nội tại gồm sự kế thừa truyền thống thể loại trước 1986, sự phục hồi của ý thức cá nhân, sự tham gia của đông đảo cây bút đa ngành nghề/nữ giới và sự thay đổi thị hiếu tiếp nhận ngắn gọn của độc giả.

4. Luận án phân chia tản văn giai đoạn này thành những xu hướng nào?
Luận án xác lập 3 xu hướng chính: Xu hướng trữ tình (bộc lộ cảm xúc, hoài niệm, ký ức), Xu hướng tự sự (tập trung kể chuyện, khắc họa nhân vật, ghi chép hiện thực) và Xu hướng chính luận (bình luận, đối thoại các vấn đề xã hội, thế sự và đạo đức).

5. Ngôn ngữ và giọng điệu trong tản văn sau 1986 có những biểu hiện đặc trưng gì?
Về ngôn ngữ, tản văn kết hợp bốn lớp ngôn ngữ: đậm chất khẩu ngữ/phương ngữ, ngôn ngữ thông tấn báo chí, ngôn ngữ chính luận và ngôn ngữ mạng Internet. Về giọng điệu, tác phẩm đan xen giữa giọng điệu trữ tình thủ thỉ, giọng điệu suy tư triết luận và giọng điệu hài hước giễu nhại, với khả năng chuyển đổi linh hoạt.

Kết luận

Luận án Tản văn Việt Nam từ 1986 đến nay của tác giả Nguyễn Thị Hà là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về thể loại tản văn trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới và hội nhập. Bằng hướng tiếp cận thi pháp thể loại kết hợp phương pháp lịch sử - xã hội trên nguồn ngữ liệu 174 tuyển tập, tác giả đã làm rõ các điều kiện sinh thành, các chặng đường vận động, ba xu hướng phát triển và những đặc trưng thi pháp tiêu biểu về cái tôi tác giả, bức tranh đời sống, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu. Công trình khẳng định vị thế độc lập, vai trò dân chủ hóa và những đóng góp của tản văn đối với diện mạo văn học Việt Nam hiện đại.