Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu kiểu nhân cách và mô hình nhân vật liệt nữ trong tiến trình văn học Việt Nam trung đại từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. Dưới lăng kính đạo đức - chính trị của Nho giáo tại khu vực Đông Á, liệt nữ là một mô hình nhân cách chuẩn mực phục vụ mục đích giáo hóa và duy trì trật tự phụ quyền. Tại Việt Nam, sự xuất hiện và vận động của kiểu nhân vật này song hành với vận mệnh của văn học nhà nho, kéo dài sang đầu thế kỉ XX và để lại dấu vết trong giai đoạn 1932–1945. Luận án chỉ ra khoảng trống trong các điển phạm nghiên cứu phân kì văn học đơn tuyến trước đây: trong khi giai đoạn thế kỉ XVIII – nửa trước thế kỉ XIX thường được định danh là giai đoạn khẳng định con người, thì số lượng nhân vật liệt nữ tuân thủ nghiêm ngặt các tín điều Nho giáo lại xuất hiện với tần suất cao. Luận án bổ sung hướng tiếp cận giới nhằm nhận diện đời sống nội tâm, tính nữ của người phụ nữ bên cạnh vai trò xã hội và công dân truyền thống, qua đó cung cấp tiêu chí đánh giá mức độ Nho giáo hóa, cảm quan nhân đạo và tiến trình nhân đạo hóa nền văn học.
Mục tiêu khoa học của luận án được xác định cụ thể theo hai phương diện:
- Mục tiêu thực tiễn: Thống kê, khảo sát các tác phẩm tiêu biểu trong văn học Việt Nam trung đại có sự xuất hiện của nhân vật liệt nữ trên cơ sở tư liệu đã công bố và dịch thuật; xác định diện mạo, đặc điểm và quy luật vận động của loại hình nhân vật này qua từng tác phẩm, nhóm tác phẩm, thể loại và giai đoạn văn học.
- Mục tiêu lí luận: Làm sáng tỏ những vấn đề lí luận về sự vận động và phân kì lịch sử văn học Việt Nam trung đại; củng cố các kết luận về văn học nhà nho và kiểm chứng tính khả thi của hướng tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn học cổ trung đại.
Đối tượng nghiên cứu là nhân vật liệt nữ trong các văn bản tự sự trung đại, bao gồm truyện kí, tiểu thuyết, truyện thơ Nôm và sử truyện. Luận án loại trừ các tác phẩm sân khấu tuồng (như Phụng Nghi đình, Ngoại tổ dâng đầu) do nhân vật nữ ở thể loại này tập trung thể hiện phương diện Trung hơn phương diện Trinh; hệ thống thơ đề vịnh chữ Hán, chữ Nôm chỉ được sử dụng làm kênh thông tin tham khảo; các ghi chép chính sử và dã sử được khảo sát mở rộng nhằm gia tăng độ tin cậy khoa học. Phạm vi thời gian nghiên cứu trải dài từ thế kỉ X (khởi đầu văn học trung đại Việt Nam) đến hết thế kỉ XIX, được phân kì thành ba chặng: thế kỉ X – XV, thế kỉ XVI – XVIII và thế kỉ XIX.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án điểm lại các công trình lý thuyết và nghiên cứu lịch sử, văn học trong nước và quốc tế liên quan đến vấn đề phụ nữ và mô hình liệt nữ:
- Nghiên cứu lý thuyết phương Tây về giới và thiết chế phụ quyền: Mary Wollstonecraft (Chứng minh các quyền của phụ nữ) và Simone de Beauvoir (Giới nữ - The Second Sex với luận đề về nguồn gốc tư hữu, quyền thừa kế dẫn tới sự kiểm soát thân xác phụ nữ và mệnh đề "Người ta không phải sinh ra là phụ nữ: Người ta trở thành phụ nữ").
- Nghiên cứu tư tưởng Nho giáo và lịch sử liệt nữ Trung Quốc: Các quan niệm từ thời Tiên Tần đến Minh - Thanh của Khổng Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử, Đổng Trọng Thư, Trình Di (Hà Nam Trình thị di thư), Lưu Hướng (Liệt nữ truyện), Ban Chiêu (Nữ giới), Trương Hoa và Bùi Di (Nữ sử châm), Giải Tấn (Cổ kim liệt nữ truyện), cùng các khảo cứu của Phùng Hữu Lan, Vi Chính Thông, Thạch Phương, Lí Hiểu Yên, Từ Quân, Dương Hải và Dịch Trung Thiên (Trung Quốc đích nam nhân dữ nữ nhân).
- Nghiên cứu tại Việt Nam và về văn học Việt Nam: Các nhận xét, khảo luận bước đầu của Tạ Chí Đại Trường, Hoàng Ngọc Tuấn, Văn Tân, Đặng Thanh Lê, Bùi Duy Tân, Nguyễn Lộc, Phạm Tú Châu, Trần Đình Sử, Trần Nho Thìn, Yoshiharu Tsuboi, Nguyễn Đăng Na, Mai Xuân Hải.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình đi trước chủ yếu dừng lại ở các nhận xét điểm xuyết, nghiên cứu đơn lẻ từng tác gia, tác phẩm hoặc tiếp cận thuần túy từ góc độ văn hóa, lịch sử. Luận án thực hiện hệ thống hóa toàn diện diện mạo, đặc điểm thi pháp và quy luật vận động của nhân vật liệt nữ qua toàn bộ tiến trình văn học tự sự trung đại, đặt trong mối liên hệ mật thiết giữa Văn và Sử, giữa văn bản nghệ thuật và thiết chế chính trị - xã hội của từng thời kì.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm công cụ:
- Nhân vật văn học: Hình tượng nghệ thuật về con người, thể hiện các thuộc tính người trong loại thể tự sự và kịch, phản ánh tư tưởng và quan niệm nghệ thuật của tác giả.
- Liệt nữ (烈女): Phân biệt với khái niệm liệt nữ (列女 - tập hợp phụ nữ) theo khảo cứu của Trương Kính và Lỗ Tấn. Luận án xác lập định nghĩa: "Liệt nữ 烈女 là người phụ nữ hi sinh tính mạng của mình để bảo toàn trinh tiết, chứng minh sự trinh tiết, hoặc để thể hiện lòng chung thủy đối với chồng", đồng thời khảo sát mở rộng các trường hợp tiết phụ, trinh nữ được thể chế phong kiến ghi nhận.
- Văn học Việt Nam trung đại: Nền văn học mang tính nguyên hợp Văn - Sử - Triết bất phân, sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, chịu ảnh hưởng của Nho giáo và văn hóa khu vực Đông Á.
- Khung phân tích giới và nữ quyền luận: Vận dụng luận điểm của Simone de Beauvoir nhằm phân tích cơ chế kiến tạo xã hội đối với vai trò và hành vi của người phụ nữ trong xã hội phụ quyền.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Đặt trọng tâm vào mối liên hệ giữa Văn và Sử, khôi phục bối cảnh lịch sử - văn hóa để giải mã sự dịch chuyển của nhân vật từ sự kiện lịch sử sang hình tượng văn học.
- Phương pháp lịch sử - xã hội, phương pháp thi pháp học, phương pháp loại hình học.
- Thao tác nghiên cứu: Phân tích, chứng minh, so sánh, giải thích, hệ thống hóa và mô hình hóa.
- Phương thức nghiên cứu trường hợp (case study): Khảo sát chuyên sâu các tác phẩm tiêu biểu đại diện cho từng thể loại và giai đoạn.
Nguồn tư liệu khảo sát gồm các văn bản văn xuôi tự sự (Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Nam Ông mộng lục, Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả, Truyện Kiều, Hoàng Lê nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện, Nam Xương liệt nữ Vũ thị tân truyện, Vân nang tiểu sử), kết hợp đối sánh với các bộ sử (Đại Việt sử lược, Đại Việt sử kí Toàn thư, Đại Việt sử kí Tiền biên, Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí) và các tuyển tập thơ văn liên quan (Cổ tâm bách vịnh, Hồng Đức quốc âm thi tập, Thoát Hiên vịnh sử thi tập, Ô châu cận lục).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương 1 thiết lập khung khái niệm, điểm lược lịch sử nghiên cứu và phân tích bối cảnh tư tưởng Nho giáo chi phối quan niệm về phụ nữ tại Trung Quốc và Việt Nam. Tại Trung Quốc, tư tưởng nam tôn nữ ti, tam tòng, tam cương được củng cố qua các triều đại Hán, Tống, Minh, Thanh với khẩu hiệu "chết đói là việc rất nhỏ, thất tiết là việc rất lớn" (Trình Di), dẫn tới sự phát triển của hệ thống thiết chế biểu dương tiết hạnh (như các Trinh tiết đường, Toàn tiết đường thời Thanh).
Tại Việt Nam, tiến trình Nho giáo hóa diễn ra qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Lê Trung Hưng và đạt mức độ thể chế hóa cao dưới triều Nguyễn. Nhà Hậu Lê đẩy mạnh chính lệnh phong hóa qua các văn bản như Huấn dân đại cáo (1461), Huấn điều 24 điều (1499), biểu dương tiết phụ Lê Thị Liễn (1437). Dưới triều Nguyễn, việc nêu khen và chuẩn hóa danh hiệu tiết phụ, trinh nữ được luật hóa chặt chẽ qua các mốc 1804 (định lệ ruộng khuyến tiết), 1827, 1833 (Hội điển toát yếu), 1848, 1850, 1856, 1866, 1893 và 1900.
Bảng tổng hợp số liệu ghi chép về tiết phụ, liệt nữ thời Nguyễn trong các tài liệu chính sử được luận án khảo sát:
| Nguồn tư liệu chính sử |
Tổng số nhân vật được ghi chép |
Số lượng/tỉ lệ liên quan trực tiếp đến trinh tiết |
Số trường hợp tuẫn tiết/chết vì chống cự |
Đặc điểm phân bố và tính chất địa phương |
| Đại Nam thực lục (1804–1925) |
Khoảng 310 người |
Chiếm đa số các trường hợp nêu khen |
Không thống kê riêng |
Tập trung cao vào các năm: 1830 (20 người), 1858 (18 người), 1870 (27 người), 1897 (35 người), 1917 (39 người)... |
| Đại Nam nhất thống chí |
108/109 người |
81/87 người đời Nguyễn (tỉ lệ 93,1%) |
Không có trường hợp nào tại Thừa Thiên |
Gồm 87 người đời Nguyễn (79,8%), Lê 18, Trần 2, Lý 1; 21/30 tỉnh có ghi nhận, 9 tỉnh không có |
| Đại Nam liệt truyện (Liệt nữ truyện) |
57 người |
55/59 truyện (tỉ lệ 93,2%) |
14 người (tỉ lệ 23,7% "liệt nữ chuẩn") |
3 người vì hiếu nghĩa, 9 người tự tử bất thành được cứu sống |
Danh sách 14 trường hợp "liệt nữ chuẩn" (tự tử thành công hoặc chết do chống cự hãm hiếp) trong Đại Nam liệt truyện: Nguyễn Thị Kim, Thị Tính, Hoàng Thị Trúc, Nguyễn Thị Nương, Nguyễn Thị Liệu, Bùi Thị Tâm, Dương Thị Việt, Đoàn Thị Quang, Ngô Thị Khách, Phạm tiết phụ, Lê thị, Vũ thị, Nguyễn thị, Đào Thị Hiển. Luận án chỉ ra chính sách "nới tay" của triều Nguyễn đối với vùng đất Nam Kì và Thừa Thiên, tạo nên hiện tượng "Trại liệt nữ" nhằm phục vụ mục đích khẳng định phong hóa và tính chính thống đối sánh với nhà Thanh.
Chương 2: NHÂN VẬT LIỆT NỮ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI THẾ KỈ X - XV
Chương 2 tập trung phân tích hai trường hợp tiêu biểu:
- Trường hợp Mị Ê trong Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên, 1329) và các bản Lĩnh Nam chích quái: Mị Ê là cung phi của vua Chiêm Thành Sạ Đẩu, tự vẫn trên sông Lý Nhân năm 1044 khi bị Lý Thái Tông triệu sang hầu thuyền. Từ một sự kiện lịch sử ghi trong Đại Việt sử kí Toàn thư, các nhà nho đã Nho giáo hóa nhân vật ngoại tộc này thành liệt nữ "khai khoa" của văn học Đại Việt. Qua tiến trình từ Việt điện u linh đến Tân đính Lĩnh Nam chích quái (xuất hiện trong 6/9 dị bản), Mị Ê được gán ghép các phát ngôn tuân thủ tam cương, biến cái chết tâm lý thời chiến thành hành vi đạo đức mẫu mực nhằm phục vụ việc phong thần và tạo đòn bẩy giáo hóa.
- Trường hợp Lê thái hậu (Phụ đức trinh minh) và Nguyễn thị vợ Ngô Miễn trong Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng): Đây là những liệt nữ bản địa đầu tiên được ghi chép trong văn xuôi tự sự mang tính hiện thực. Phương diện Trinh lấn át phương diện Trung trong cách thể hiện nhân vật Lê thái hậu (xuống tóc đi tu giữ tiết sau khi Trần Duệ Tông tử trận), khẳng định kết quả của quá trình Nho giáo hóa xã hội Đại Việt giai đoạn cuối thế kỉ XIV – đầu thế kỉ XV.
Chương 3: NHÂN VẬT LIỆT NỮ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI THẾ KỈ XVI - XVIII
Chương 3 phân tích sự biến đổi của nhân vật liệt nữ qua ba khuynh hướng:
- Liệt nữ mang dáng dấp giai nhân trong Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ): Nhân vật như Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương) và Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu) là sản phẩm của hoàn cảnh loạn lạc và bất bình đẳng giới. Thể loại truyền kì cho thấy sự lấn át của yếu tố Văn học so với Sử học, kết hợp vẻ đẹp giai nhân với phẩm hạnh trinh liệt.
- Liệt nữ có đời sống nội tâm phong phú trong Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm): Trường hợp liệt nữ An Ấp thể hiện mô hình liệt truyện mở rộng, nơi nhân vật được khắc họa đời sống cảm xúc phức tạp dưới góc nhìn của một nữ tác giả, đánh dấu sự chuyển đổi từ phạm trù Tình sang Tính và mở đường cho mẫu hình tài tử - giai nhân.
- Sự phân hóa lý tưởng Nho gia cuối thế kỉ XVIII qua Thúy Kiều (Truyện Kiều - Nguyễn Du) và Đặng Thị Huệ (Hoàng Lê nhất thống chí - Ngô gia văn phái): Nhân vật Thúy Kiều dao động giữa hai nẻo trinh liệt và tà dâm, làm thay đổi nội hàm quan niệm về chữ trinh; trong khi Đặng Thị Huệ là hình mẫu vưu vật khuynh quốc nhưng lại có hành vi tuẫn tiết theo chúa Trịnh Sâm ngoài dự liệu quy phạm của nhà nho.
Chương 4: NHÂN VẬT LIỆT NỮ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI THẾ KỈ XIX
Chương 4 khảo sát sự phục hưng và quy phạm hóa mô hình liệt nữ dưới triều Nguyễn:
- Sự quy phạm hóa trong Đại Nam liệt truyện và Truyện Nôm: Triều Nguyễn thiết lập mô hình tự sự chuẩn mực về liệt nữ nhằm củng cố trật tự luân lý, tạo làn sóng mô phỏng trong các tác phẩm truyện thơ Nôm đương thời.
- Sự tái sinh các cốt truyện cũ và tính duy lí, thời sự nửa sau thế kỉ XIX: Tác phẩm Nam Xương liệt nữ Vũ thị tân truyện và Vân nang tiểu sử (với các trường hợp Trinh phụ hai chồng, mẹ Nguyễn Cao) thể hiện sự phục sinh các mẫu hình tự sự truyền thống nhưng được tích hợp tư duy duy lí, gắn chặt với bối cảnh xã hội và tinh thần kháng chiến chống ngoại xâm cuối thế kỉ XIX.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập các đóng góp khoa học cụ thể:
- Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ tiến trình vận động nội tại của văn học trung đại Việt Nam thông qua một kiểu nhân vật đạo đức trung tâm của văn học nhà nho; chứng minh mối quan hệ giữa quá trình Nho giáo hóa, giải Nho giáo với sự phát triển thể loại tự sự; bổ sung khung lý thuyết giới vào nghiên cứu văn học cổ điển Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Khảo sát, thống kê và phân loại có hệ thống diện mạo nhân vật liệt nữ qua ba giai đoạn lịch sử (thế kỉ X–XV, thế kỉ XVI–XVIII, thế kỉ XIX); bóc tách cơ chế tiếp nhận, gán ghép văn hóa của giới nho sĩ Đại Việt đối với các nhân vật lịch sử (như Mị Ê, Lê thái hậu, Thúy Kiều, Đặng Thị Huệ); làm rõ chính sách phong hóa và các tiêu chí nêu khen của triều đình phong kiến qua các văn bản hành chính và chính sử.
- Đề xuất: Cung cấp góc nhìn khách quan nhằm điều chỉnh nhận thức trong công tác quản lý văn hóa, bảo tồn di sản văn học trung đại và nghiên cứu lịch sử phụ nữ Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình: Luận án chủ yếu dựa trên các văn bản tự sự và sử truyện đã được công bố, biên dịch; chưa khảo sát chuyên sâu toàn diện các kịch bản sân khấu tuồng do giới hạn về mặt thể loại; mảng thơ ca đề vịnh bằng chữ Hán và chữ Nôm mới chỉ dừng ở mức độ tư liệu tham khảo đối sánh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng tiếp cận các nguồn tư liệu Hán Nôm nguyên bản chưa dịch thuật, văn bia, gia phả, thần tích; triển khai nghiên cứu so sánh đối chiếu mô hình nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam với văn học các quốc gia đồng văn trong khu vực Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản.
Giá trị tham khảo
Công trình cung cấp nguồn tư liệu và cơ sở phân tích cho:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Hán Nôm và Lịch sử văn hóa tư tưởng: Tham khảo phương pháp tiếp cận liên ngành Văn - Sử kết hợp lý thuyết giới và thi pháp học thể loại.
- Nhà nghiên cứu văn hóa và cơ quan quản lý xã hội: Tham khảo tư liệu lịch sử về thiết chế quản lý phong hóa, chính sách đối với phụ nữ và sự biến đổi của chuẩn mực đạo đức qua các thời kì lịch sử.
- Các phần đáng tham khảo trọng tâm: Hệ thống dẫn liệu lịch sử - văn bản học về sự dịch chuyển nhân vật Mị Ê (Chương 2), phân tích thi pháp nhân vật giai nhân - liệt nữ trong truyện kì và truyện thơ Nôm (Chương 3), cùng bảng thống kê số liệu tiết phụ, liệt nữ thời Nguyễn (Chương 1 và Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Nhân vật Mị Ê mang những đặc điểm gì khiến tác giả xem là trường hợp "khai khoa" và chịu sự gán ghép của nhà nho Đại Việt?
Mị Ê là phi tử của vua Chiêm Thành Sạ Đẩu, tự vẫn khi bị bắt năm 1044. Dù xuất thân từ một nền văn hóa phi Nho giáo, hành vi tự vẫn vì uất hận mất nước và không chịu nhục đã được các nho sĩ Đại Việt (qua Việt điện u linh, Toàn thư, Lĩnh Nam chích quái) cải biến, gán cho các phát ngôn chuẩn mực về tam cương, đạo tòng phu, biến bà thành hình mẫu liệt nữ đầu tiên để thiết lập khuôn mẫu đạo đức cho phụ nữ bản địa.
2. Cơ sở tư liệu và quy định pháp lý nào dưới triều Nguyễn đã thúc đẩy sự bùng nổ của mô hình nhân cách liệt nữ trong thế kỉ XIX?
Triều Nguyễn ban hành hàng loạt quy định cụ thể như lệ ruộng khuyến tiết (1804), chuẩn hóa tiêu chuẩn nêu khen trong Hội điển toát yếu (1833), định niên hạn góa bụa (1848, 1856), quy định hành vi tiết liệt xuất sắc (1848) và phân hạng biển ngạch ưu - bình - thứ (1866, 1900). Hệ thống ghi chép đồ sộ trong Đại Nam thực lục (khoảng 310 người), Đại Nam nhất thống chí (108 người) và Đại Nam liệt truyện (57 người) tạo nền tảng tư liệu vững chắc cho sự quy phạm hóa kiểu nhân vật này trong văn học.
3. Vì sao tác giả loại trừ các tác phẩm tuồng ra khỏi đối tượng khảo sát chính của luận án?
Trong các kịch bản tuồng trung đại (như nhân vật Điêu Thuyền trong Phụng Nghi đình, Xuân Hương trong Ngoại tổ dâng đầu), hành vi và phẩm chất của nhân vật nữ chủ yếu phục vụ chữ Trung (dùng mỹ nhân kế cứu nước, tôn vương, trừ gian) hơn là giữ gìn và khẳng định chữ Trinh theo định nghĩa chặt chẽ của mô hình liệt nữ Nho giáo.
4. Tác giả luận án phân biệt hai khái niệm đồng âm "Liệt nữ 列女" và "Liệt nữ 烈女" như thế nào?
"Liệt nữ 列女" (chữ Liệt mang bộ Đao) vốn chỉ tập hợp, danh sách các người phụ nữ tiêu biểu nói chung (như trong sách của Lưu Hướng gồm cả mục Mẫu nghi, Hiền minh, Nghiệt bế); trong khi "Liệt nữ 烈女" (chữ Liệt mang bộ Hỏa) chỉ người phụ nữ cương trinh, hi sinh tính mạng để bảo toàn tiết hạnh hoặc tuẫn tiết theo chồng. Luận án tập trung khảo sát khái niệm "Liệt nữ 烈女".
5. Sự phân hóa lý tưởng Nho gia cuối thế kỉ XVIII được thể hiện như thế nào qua hai trường hợp Thúy Kiều và Đặng Thị Huệ?
Thúy Kiều (Truyện Kiều) đại diện cho sự xung đột giữa chữ Trinh đạo đức và hoàn cảnh thực tế, mở rộng nội hàm chữ trinh sang phương diện phẩm giá tâm hồn; trong khi Đặng Thị Huệ (Hoàng Lê nhất thống chí) bị coi là "vưu vật khuynh quốc" gây rối loạn triều chính nhưng lại có hành vi tuẫn tiết theo chúa Trịnh Sâm, tạo nên một kết cục tiết liệt nằm ngoài dự liệu đạo đức thông thường của nhà nho.
Kết luận
Luận án đã phục dựng toàn diện diện mạo và quy luật vận động của nhân vật liệt nữ trong văn học Việt Nam trung đại từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX thông qua phương pháp tiếp cận liên ngành Văn - Sử và góc nhìn giới. Công trình làm rõ sự chuyển hóa từ sự kiện lịch sử sang hình tượng nghệ thuật, phản ánh quá trình Nho giáo hóa, những giới hạn của đạo đức phong kiến phụ quyền cũng như sự trỗi dậy của cảm quan nhân đạo. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tư liệu chuẩn xác và cách tiếp cận khoa học cho việc nghiên cứu lịch sử văn học, thi pháp nhân vật và lịch sử tư tưởng Việt Nam thời trung đại.