Luận án tiến sĩ nông nghiệp tuyển chọn giống lúa ngắn ngày và xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp ở tỉnh quảng bình

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tuyển chọn giống lúa ngắn ngày và xác định biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp tại Quảng Bình, nâng cao năng suất lúa.

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

182
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về giống lúa ngắn ngày

Giống lúa ngắn ngày là một trong những yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp tại Quảng Bình. Các giống lúa này có thời gian sinh trưởng ngắn, thích hợp với điều kiện khí hậu khắc nghiệt của vùng. Nghiên cứu đã xác định các giống lúa như SV181SVN1 có khả năng thích ứng cao, năng suất ổn định và chất lượng tốt. Những giống này giúp giảm thiểu rủi ro do biến đổi khí hậu và tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân.

1.1. Đặc điểm giống lúa ngắn ngày

Các giống lúa ngắn ngày như SV181SVN1 có thời gian sinh trưởng từ 85 đến 100 ngày, phù hợp với cả vụ Đông Xuân và Hè Thu. Chúng có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện thời tiết bất lợi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các giống này có năng suất cao, đạt từ 5.5 đến 6 tấn/ha, và chất lượng gạo tốt, đáp ứng nhu cầu thị trường.

1.2. Tuyển chọn giống lúa

Quá trình tuyển chọn giống lúa được thực hiện qua các thí nghiệm trên nhiều vùng khác nhau tại Quảng Bình. Các giống lúa được đánh giá dựa trên các tiêu chí như năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh và thích nghi với điều kiện địa phương. Kết quả cho thấy SV181SVN1 là hai giống lúa triển vọng, được công nhận và bảo hộ giống cây trồng mới.

II. Kỹ thuật canh tác hiệu quả

Kỹ thuật canh tác đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất lúa. Nghiên cứu đã xác định các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho giống lúa ngắn ngày tại Quảng Bình, bao gồm lượng giống gieo sạ, phân bón và quản lý nước. Các biện pháp này giúp tối ưu hóa năng suất và giảm thiểu chi phí sản xuất.

2.1. Lượng giống gieo sạ

Nghiên cứu chỉ ra rằng lượng giống gieo sạ thích hợp cho giống lúa ngắn ngày là 80 kg/ha. Điều này giúp đảm bảo mật độ cây trồng hợp lý, tăng khả năng đẻ nhánh và tích lũy chất khô, từ đó nâng cao năng suất lúa.

2.2. Phân bón và quản lý dinh dưỡng

Tổ hợp phân bón thích hợp cho giống lúa ngắn ngày là 90 kg N + 80 kg P2O5 + 80 kg K2O trên nền bón 10 tấn phân chuồng/ha và 500 kg vôi bột/ha. Phương pháp này giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất và tăng hiệu quả sử dụng phân bón, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng lúa.

III. Ứng dụng và phát triển nông thôn

Nghiên cứu không chỉ tập trung vào tuyển chọn giống lúakỹ thuật canh tác mà còn hướng đến phát triển nông thôn bền vững. Việc áp dụng các giống lúa mới và kỹ thuật canh tác hiệu quả giúp cải thiện đời sống nông dân, tăng thu nhập và giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.

3.1. Xây dựng mô hình trình diễn

Các mô hình trình diễn được xây dựng tại các huyện như Lệ Thủy, Quảng Ninh, và Bố Trạch nhằm giới thiệu và phổ biến các giống lúa mới và kỹ thuật canh tác hiệu quả. Kết quả cho thấy các mô hình này đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, thu hút sự quan tâm và tham gia của nông dân.

3.2. Bảo vệ môi trường

Nghiên cứu cũng đề cao vai trò của bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp. Các biện pháp kỹ thuật canh tác được đề xuất giúp giảm thiểu việc sử dụng hóa chất, bảo vệ đất và nguồn nước, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững tại Quảng Bình.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nông nghiệp tuyển chọn giống lúa ngắn ngày và xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp ở tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về cây lúa 1. Nguồn gốc cây lúa Đến nay, có nhiều giả thiết khác nhau về nguồn gốc của chi Lúa trên trái đất, nhưng hầu hết đều thừa nhận rằng các loài lúa hoang dại đã xuất hiện từ thời tiền sử của trái đất (thời Gondwana).

Theo công bố của Chang và cs (1984) [74], O.sativa xuất hiện đầu tiên ở dãy Himalaya, Miến Điện, Lào, Việt Nam và Trung Quốc. Từ các trung tâm trên lúa Indica phát tán đến lưu vực sông Hoàng Hà và sông Dương Tử rồi sang Nhật Bản, Triều Tiên và từ đó biến thành chủng Japonica. Lúa được hình thành ở Indonesia và là sản phẩm của quá trình chọn lọc từ Indica. Ở Việt Nam, theo kết quả khảo sát nguồn gen cây lúa những năm gần đây tìm thấy các loài lúa dại mọc nhiều ở vùng Tây Bắc, Nam Trung bộ, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên là các loài O.

Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam cũng có thể là cái nôi hình thành cây lúa nước. Từ lâu, cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế và xã hội của nước ta. Lúa trồng hiện nay có nguồn gốc từ lúa dại. Việc xác định trực tiếp tổ tiên của cây lúa trồng ở Châu Á (Oryza sativa) vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.

Một số tác giả như Đinh Dĩnh, Bùi Huy Đáp, Đinh Văn Lữ…cho rằng: Oryza fatua là loài lúa dại gần nhất và được coi là tổ tiên của lúa trồng hiện nay. Phân loại cây lúa Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) trước đây đã nghiên cứu và xếp lúa trồng ở châu Á (Oryza sativa) thuộc họ hòa thảo (graminae), có bộ nhiễm sắc thể 2n = 24. Theo Trần Văn Đạt (2005) [29], Kato là người đầu tiên xây dựng các luận cứ khoa học về phân loại dưới loài của lúa trồng châu Á dựa trên các đặc điểm hình thái. Tùy theo các đặc điểm và tiêu chí khác nhau mà các nhà khoa học phân loại cây lúa theo các quan điểm khác nhau, phân loại cây lúa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng nguồn gen để phục vụ cho mục tiêu chọn tạo giống cây trồng.

Nhiều tư liệu đưa ra cơ sở tiến hóa của các loài lúa trồng hiện nay, tuy nhiên theo Khush (1997) [88], sự tiến hóa của hai loại lúa trồng phổ biến hiện nay trên thế giới được thể hiện trong sơ đồ, như sau: 6 Tổ tiên chung Nam và Đông Nam Á Tây Phi Châu Lúa dại đa niên O. longistaminata Lúa dại hàng niên O. glaberrima Indica Japonica Ôn đới Nhiệt đới Hình 1. Sự phân bố lúa trồng trên thế giới Hakim MA và cs (2013) [82] a, Phân loại theo quan điểm canh tác học Quá trình thuần hóa và thích nghi với điều kiện sống và điều kiện canh tác khác nhau, cây lúa trồng được phân thành các nhóm: 7 Lúa có tưới: Lúa được trồng trên những cánh đồng có công trình thủy lợi, chủ động về nước tưới trong suốt thời gian sinh trưởng, phát triển.

Lúa nước sâu: Lúa được trồng trên những cánh đồng thấp, không có khả năng rút nước sau mưa hoặc lũ. Tuy nhiên, nước không ngập quá 10 ngày và nước không cao quá 50 cm. Lúa nổi: Lúa được gieo trồng trước mùa mưa; khi mưa lớn, cây lúa đã đẻ nhánh; khi nước lên cao cây lúa vươn khỏi mặt nước khoảng 10 cm/ngày để ngoi theo. Ở Việt Nam tồn tại cả 4 nhóm lúa như nêu trên.

Lúa cạn: Lúa được trồng trên đất cao, không có khả năng giữ nước, cây lúa sống hoàn toàn nhờ nước trời trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển. Theo Nguyễn Văn Hoan (2006) [42], cho đến nay phân loại lúa theo hệ thống phân loại học thực vật của loài lúa trồng Oryza sativa L. đã đạt được sự thống nhất. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu: loài Oryza sativa L.

gồm 3 loại phụ, 8 nhóm biến chủng và 284 biến chủng. Theo cấu tạo của tinh bột còn phân biệt lúa nếp (glutinosa) và lúa tẻ (utilissma). Tuy nhiên theo định luật về dãy biến dị tương đồng của Vavilov. I thì cây lúa vẫn tiếp tục tiến hóa và nhiều biến chủng mới vẫn tiếp tục xuất hiện.

Vì vậy, các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu, tập hợp và bổ sung thêm cho hệ thống phân loại này. b, Phân loại theo điều kiện sinh thái Lúa trồng thành hai nhóm lớn là Japonica (lúa cánh) và Indica (lúa tiên). Lúa tiên thường phân bố ở vĩ độ thấp như: Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia. là loại hình cây to, lá nhỏ xanh nhạt, bông xòe, hạt dài, vỏ trấu mỏng, cơm khô nở nhiều, chịu phân kém, dễ lốp đổ nên có năng suất thấp.

Lúa cánh thường phân bố ở vĩ độ cao như: Nhật Bản, Triều Tiên, Bắc Trung Quốc, châu Âu. là loại hình cây có lá to, xanh đậm, bông chụm, hạt ngắn, vỏ trấu dày, cơm thường dẻo, ít nở, thích nghi với điều kiện thâm canh, chịu phân tốt, thường thu hoạch cho năng suất cao. c, Phân loại theo địa lý Theo Nguyễn Văn Hoan (2006) [42], phân chia lúa trồng thành các nhóm sinh thái địa lý, như sau: Nhóm Đông Á: Bao gồm Triền Tiên, Nhật Bản, phía Bắc Trung Quốc. Đặc trưng của nhóm là chịu lạnh rất tốt và hạt khó rụng.

Nhóm Trung Á: Bao gồm các nước Trung Á. Đặc điểm nổi bật của lúa vùng này là hạt to, khối lượng 1000 hạt đạt trên 32 gam, chịu lạnh và chịu nóng khá. Nhóm Iran: Gồm toàn bộ các nước Trung Đông xung quanh Iran. Đây là nhóm sinh thái địa lý với các loại hình chịu lạnh tốt, hạt gạo to, đục, cơm dẻo.

Nhóm Nam Á: Bắt đầu từ Pakistan sang vùng bờ biển phía Nam Trung Quốc đến Bắc Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của nhóm sinh thái địa lý này là chịu lạnh kém, phần lớn có hạt dài và nhỏ. 8 Nhóm Philippin: Nhóm lúa điển hình nhiệt đới không chịu lạnh. Toàn bộ vùng Đông Nam Á, miền Nam Việt Nam nằm trong nhóm này.

Nhóm châu Âu: Bao gồm các nước trồng lúa ở châu Âu như: Nga, Italia, Bungaria. Đây là nhóm sinh thái với các loại hình japonica chịu lạnh, hạt to, cơm dẻo, chịu nóng kém. Nhóm châu Phi: Nhóm lúa trồng thuộc loại Oryza glaberrima. Nhóm châu Mỹ La Tinh: Gồm các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ.

Nhóm lúa cao cây, thân to, hạt gạo lớn, gạo trong và dài, chịu ngập và chống đổ tốt. Cơ sở khoa học của tuyển chọn giống lúa ngắn ngày 1. Nghiên cứu về những đặc điểm nông học của cây lúa Lúa là cây trồng đa dạng kiểu hình, mỗi giống có những đặc điểm riêng mà ta có thể dựa vào đó để nhận biết, đó là: thời gian sinh trưởng, cao cây, kích thước lá, màu sắc thân lá, dạng bông, dạng hạt, màu sắc hạt. Công tác chọn tạo và khảo nghiệm giống lúa, các nhà khoa học cần có những thông tin đầy đủ về các đặc điểm nguồn vật liệu khởi đầu của giống.

Do đó, việc nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc điểm nông học, khả năng chống chịu của các giống lúa đã thu được nhiều kết quả có ý nghĩa. * Thời gian sinh trưởng của cây lúa: Theo Yosida (1981) [115], TGST cây lúa được tính từ lúc nảy mầm cho đến khi chín có thời gian từ 80 ngày đến 180 ngày, tùy theo giống và điều kiện ngoại cảnh. Trong canh tác lúa hiện đại, các nhà nông học hết sức quan tâm đến thời gian sinh trưởng của các giống lúa, vì đây là yếu tố có tương quan chặt đến năng suất và bố trí thời vụ cơ cấu thời vụ sản xuất của người nông dân. Theo Yosida (1981) [115], khi nghiên cứu về thời gian sinh trưởng các giống lúa cho rằng những giống lúa có thời gian sinh trưởng quá ngắn thì không thể cho năng suất cao do sinh trưởng dinh dưỡng bị hạn chế.

Ngược lại, những giống lúa có thời gian sinh trưởng quá dài thì cũng cho năng suất thấp vì dễ bị lốp đổ, và chịu nhiều tác động của điều kiện ngoại cảnh bất lợi, các giống có thời gian trong khoảng 120 ngày có khả năng cho năng suất cao. Như vậy, thời gian sinh trưởng ngắn đến mức nào thì không phương hại đến tiềm năng năng suất. Theo Yosida (1981) [115], đối với lúa gieo thẳng cần khoảng 90 ngày và 100 ngày đối với lúa cấy. Thời gian sinh trưởng ở cây lúa chia làm 2 giai đoạn chính là giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực.

Tuy nhiên, có thể chia thành 3 giai đoạn là sinh trưởng dinh dưỡng, sinh thực và chín. Thời gian sinh trưởng của cây lúa thường từ 90 - 180 ngày từ khi nảy mầm cho đến khi chín, thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào giống và môi trường sinh trưởng. Trong điều kiện nhiệt đới, giai đoạn sinh trưởng sinh thực (thời kỳ làm đòng) cần khoảng 30 ngày, thời kỳ chín 30 ngày và thời gian còn lại dành cho giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng. Theo Uga Y và cs (2007) [112], các locus liên quan đến phản ứng quang chu kỳ có tác động cộng tính.

9 Nguyễn Minh Công và Nguyễn Tiến Thăng (2007) [22] đã nghiên cứu di truyền của các đột biến làm mất tính cảm ứng quang chu kỳ ở một số giống lúa thơm đặc sản miền Bắc, cho biết: các đột biến làm mất tính cảm ứng quang chu kỳ là các đột biến lặn, khả năng biểu hiện ở F1 không phụ thuộc vào hướng lai; các đột biến gây ra chín sớm trong vụ mùa là các đột biến lặn không hoàn toàn, di truyền theo định luật Mendel trong lai đơn. Thời gian sinh trưởng của cây lúa còn phụ thuộc vào tính cảm quang hay cảm ôn của giống. Khi gieo cấy vào thời vụ khác nhau với điều kiện ngoại cảnh khác nhau tùy theo giống sẽ có thời gian sinh trưởng dài, ngắn khác nhau. Trong điều kiện ở miền Bắc nước ta, do ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ thấp, thời gian sinh trưởng của cùng một giống lúa nếu gieo cấy vào vụ Xuân sẽ dài hơn gieo cấy trong vụ Mùa.

Nếu năm nào thời vụ gieo cấy ở vụ Đông Xuân nhiệt độ thấp, cây lúa sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng và trỗ muộn; năm nào nắng ấm, nhiệt độ cao thì ngược lại. Trong vụ Hè Thu, nhiệt độ thường ít biến đổi nên thời gian sinh trưởng cây lúa tương đối ổn định. Theo Nguyễn Văn Luật (2008) [49], giống lúa có thời gian sinh trưởng cực ngắn đã được chọn tạo nhằm bổ sung vào cơ cấu sản xuất và góp vào thị phần xuất khẩu ở miền Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Tuyển chọn giống lúa ngắn ngày và kỹ thuật canh tác hiệu quả tại Quảng Bình" tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các giống lúa ngắn ngày phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai của tỉnh Quảng Bình. Tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về quy trình tuyển chọn giống lúa mà còn đề xuất các kỹ thuật canh tác hiệu quả, giúp nông dân nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các phương pháp này, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp địa phương.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và phát triển nông thôn, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình nông thôn mới ở xã Hải Đường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, nơi bàn về vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu tiêu chí phân vùng đất đai ứng dụng công nghệ cao cho sản xuất lúa và rau màu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, giúp bạn hiểu rõ hơn về các mô hình phát triển nông thôn hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề nông nghiệp và phát triển bền vững.