Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài “Tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết liên văn hóa” của nghiên cứu sinh Lê Thị Bích Hạnh (người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Sâm và PGS.TS Thái Phan Vàng Anh, thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế) tiếp cận mảng văn xuôi của các cây bút nữ di dân Việt Nam dưới hệ hình lý thuyết liên văn hóa.
- Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và giải lãnh thổ hóa, sự giao lưu, tiếp xúc, va chạm và tiếp biến văn hóa trở thành hiện thực mang tính toàn cầu. Liên văn hóa (Interculturel) đã dịch chuyển từ phạm trù triết học sang nghiên cứu văn hóa và sáng tác văn học. Văn học Việt Nam ở hải ngoại là một bộ phận của văn học dân tộc, trong đó các nhà văn nữ mang đến những đặc điểm riêng biệt về cảm quan giới, ý thức lưu vong và sự giao thoa văn hóa. Tuy nhiên, tại Việt Nam, lý thuyết liên văn hóa chưa được nghiên cứu hệ thống và quy mô; việc áp dụng lý thuyết này vào khảo sát mảng tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại vẫn còn là một khoảng trống học thuật cần được nghiên cứu toàn diện.
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Khái quát và hệ thống hóa khung lý thuyết liên văn hóa cùng các phạm trù công cụ của lý thuyết này.
- Vận dụng lý thuyết liên văn hóa để phân tích, giải mã các giá trị tư tưởng, nội dung và các bình diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại Việt Nam đương đại.
- Nhận diện diện mạo, đặc trưng và khẳng định vị trí của tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam trong tiến trình văn học dân tộc và văn học di dân thế giới thời kỳ hội nhập.
- Đối tượng nghiên cứu: Tính chất liên văn hóa trong tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam đương đại.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Làm rõ cơ sở lý thuyết liên văn hóa; khảo cứu diện mạo tiểu thuyết nữ hải ngoại; phân tích tác phẩm qua các phạm trù liên văn hóa (đa dạng, bình đẳng, đối thoại, tương đồng, kiến tạo bản ngã) và các phương diện nghệ thuật (chủ thể trần thuật, không - thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu).
- Về ngữ liệu khảo sát: Khảo sát tập trung vào tiểu thuyết và tiểu thuyết mang tính chất tự truyện của các tác giả: Thuận (Paris 11 tháng 8, Made in Vietnam, Chinatown, T mất tích, Thang máy Sài Gòn, Thư gửi Mina), Linda Lê (Vu khống), Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau), Lê Minh Hà, Lý Lan, Hiệu Constant, Lê Ngọc Mai, Lê Thị Thấm Vân. Mở rộng tham chiếu đến các thể loại phi hư cấu (du ký, hồi ký, tự truyện) và sáng tác của các tác giả có mối liên hệ mật thiết với Việt Nam như Doan Bui, Kim Thúy, Phan Hà Anh, Phan Việt, Nuage Rose, Isabelle Muller.
- Về thời gian: Tập trung khảo sát các tác phẩm thuộc thời kỳ đương đại, đặc biệt là giai đoạn từ năm 1991 đến nay. Luận án giới hạn khảo sát ở phương diện văn chương, loại trừ các quan điểm chính trị cực đoan.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu trên hai trục lớn: lý thuyết liên văn hóa và tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam đương đại, chia thành các nhánh nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước.
1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn hóa
- Ở nước ngoài:
- Nền tảng triết học: Sự phân cực giữa chủ nghĩa tương đối văn hóa (the cultural relativism) và chủ nghĩa phổ quát văn hóa (the cultural universalism). Ludwig Wittgenstein giữ quan điểm trung lập, thừa nhận sự tương đồng trong nền tảng tư duy nhân học đồng thời bảo vệ tính đa dạng của các thế giới quan văn hóa; mức độ hiểu biết tùy thuộc vào sự tương đồng hay dị biệt. Geert Hofstede xây dựng Lý thuyết văn hóa đa chiều qua khảo sát IBM (1967–1973), xác lập 6 chiều kích: chủ nghĩa cá nhân - chủ nghĩa tập thể, mức độ e ngại rủi ro, khoảng cách quyền lực, định hướng công việc - định hướng cá nhân (nam tính - nữ tính), định hướng dài hạn, và sự tự thỏa mãn so với tự kiềm chế. Nicolas Journet trong Đa văn hoá như là một lý thuyết xã hội hiện đại phân tích nỗ lực dung hòa và giảm bớt khác biệt văn hóa. Samuel P. Huntington trong tác phẩm Sự đụng độ giữa các nền văn minh (Clash of Civilizations) nhận định xung đột tương lai bắt nguồn từ ranh giới văn hóa. Choe Hyundok trong Triết học liên văn hóa: khái niệm và lịch sử phân biệt đa văn hóa và liên văn hóa, xác lập các phạm trù “cái khác biệt”, “tính đối thoại”, “thông diễn học tương đồng”.
- Trong nghiên cứu văn học và truyền thông: Hans-Jürgen Lüsebrink nghiên cứu giao tiếp liên văn hóa qua truyền thông. Françoise Tétu de Labsade chủ biên công trình Văn học và đối thoại liên văn hoá (1997), xác định văn học là địa hạt tiêu biểu của liên văn hóa và tha tính (l'altérité). Thuy Aurélie Nguyen và François Cormier phân tích văn học di cư gắn với nguồn gốc huyết thống (Ru của Kim Thúy, L’Énigme du retour của Dany Laferrière). Ghislain Nickaise Liambou (2015) nghiên cứu tính liên văn bản và phát ngôn trong tiểu thuyết di cư châu Phi. Marie-Hélène Urro (Đại học Ottawa) nghiên cứu bước chuyển từ lối viết di cư sang lối viết liên văn hóa qua tác phẩm của Kim Thúy (Ru, À toi, Mãn).
- Ở trong nước:
- Nguyễn Vũ Hảo (2009) giới thiệu quan điểm triết học của L. Wittgenstein về giao tiếp liên văn hóa. Hồ Sĩ Quý đối thoại lại quan điểm của S. Huntington, khẳng định đối thoại văn hóa là quy luật của tiến bộ xã hội. Nguyễn Vân Dung phân tích hướng tiếp cận liên văn hóa trong dạy học văn học Pháp. Bùi Văn Nam Sơn và Thái Kim Lan nghiên cứu tính liên văn hóa từ giác độ triết học và trải nghiệm giáo dục Đức - Việt.
- Vận dụng vào nghiên cứu văn học: Trần Huyền Sâm (2016) trong Tiểu thuyết phương Tây hiện đại và các hướng tiếp cận phân tích Lévi-Strauss, Mathias Énard và Phạm Văn Ký; Bửu Nam (2014) khảo sát xu hướng tiểu thuyết liên văn hóa; Thái Phan Vàng Anh (2014) nghiên cứu tính liên văn hóa trong văn xuôi Việt Nam đương đại qua các tác giả như Nam Lê, Linda Lê, Thuận, Đoàn Minh Phượng; cùng các luận văn, luận án của Hồ Thị Thanh Loan (2014), Huỳnh Thị Nga (2015), Nguyễn Thị Bích Thủy (2016).
2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam
- Ở nước ngoài: A. Sokolov trong công trình Văn học Việt Nam ở hải ngoại, những vấn đề của sự phát triển hiện nay phân chia văn học hải ngoại thành 5 thời kỳ; nhà phê bình Jean-Marie (2009) nhận định về tiểu thuyết Chinatown của Thuận trên báo La Marseillaise; Nguyễn Vy Khanh với bài viết Nhìn lại 30 năm văn học hải ngoại.
- Ở trong nước: Trần Lê Hoa Tranh với chuyên khảo Văn học di dân phác thảo diện mạo nữ nhà văn Việt Nam tại Hoa Kỳ; Vũ Thị Hạnh (2016) với luận án tiến sĩ về Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại; các đề tài luận văn thạc sĩ của Đỗ Minh Phúc (2008), Lê Thị Hoàng Anh (2011), Hà Thị Thanh Huế (2012), Nguyễn Thị Thu Lành (2013), Nguyễn Thị Thu Trang (2014); các bài nghiên cứu chuyên sâu của Lê Tú Anh về tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng và đề tài tha hương, Lý Hoài Thu - Nguyễn Thu Trang về thân phận tha hương.
3. Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận tiểu thuyết hải ngoại dưới góc độ thi pháp học, lý thuyết thể loại, chủ nghĩa hiện sinh hoặc lý thuyết hậu thuộc địa; các phân tích liên văn hóa mới dừng ở mức nhận diện ban đầu, phân tán trong các bài báo nhỏ lẻ hoặc khảo sát đơn lẻ một vài tác giả. Luận án của Lê Thị Bích Hạnh là công trình chuyên biệt đầu tiên vận dụng hệ thống phạm trù lý thuyết liên văn hóa để khảo sát toàn diện, có hệ thống đối với loại hình tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại Việt Nam đương đại trên cả bình diện nội dung tư tưởng và cấu trúc hình thức nghệ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết liên văn hóa thông qua các công trình nền tảng của Françoise Tétu de Labsade (1997), Choe Hyundok (2008), Nguyễn Vũ Hảo (2009), Nicolas Journet (2011), Samuel P. Huntington (2011), Hans-Jürgen Lüsebrink (2011), Geert Hofstede (2014).
Khung phân tích được xây dựng dựa trên 4 phạm trù lý thuyết trọng tâm:
- Sự đa dạng văn hóa: Khẳng định sự tồn tại phong phú của các thế giới quan và hệ giá trị, phản ánh nỗ lực khẳng định bản sắc của các nền văn hóa nhỏ trước nguy cơ đồng nhất hóa.
- Sự bình đẳng văn hóa: Xem xét các nền văn hóa như các chủ thể bình đẳng, loại bỏ tư duy trung tâm luận (Eurocentrism, Sinocentrism...).
- Tính đối thoại văn hóa: Tiến trình tiếp xúc, trao đổi, tương tác và thâu hóa giữa các chủ thể văn hóa trên cơ sở tôn trọng và khoan dung.
- Thông diễn học tương đồng: Khái niệm do Ram Adhar Mall đề xuất, nhằm nắm bắt cấu trúc trùng khớp giữa các nền văn hóa, vượt qua hai thái cực: đồng nhất hóa hoàn toàn (tính thông ước) và dị biệt tuyệt đối không thể giao tiếp (tính vô thông ước).
Bên cạnh đó, luận án tiếp thu các khái niệm về văn học di dân (emigrant literature), văn chương vô xứ (literature of displacement), và trạng thái “lưu vong kép”.
2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính trong nghiên cứu văn học:
- Phương pháp loại hình: Tiếp cận tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam như một loại hình tác giả/tác phẩm cụ thể; truy tìm nguồn gốc, quá trình vận động và biến đổi để xác lập bản chất và đặc trưng loại hình.
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Khảo sát văn bản từ cấp độ vi mô (ngôn từ, chi tiết) đến vĩ mô (kết cấu, hình tượng, tư tưởng), hệ thống hóa các biểu hiện liên văn hóa thành các luận điểm.
- Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu giữa tiểu thuyết với các thể loại phi hư cấu (tự truyện, hồi ký); so sánh giữa tác phẩm viết bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài (tiếng Pháp, tiếng Anh); so sánh giữa các thế hệ tác giả.
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức văn hóa học, lý thuyết nữ quyền (feminism), và lý thuyết diễn ngôn (discourse theory) để phân tích văn bản nghệ thuật.
- Phương pháp bổ trợ: Thống kê, phân loại văn bản và tác phẩm.
3. Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
- Văn bản tiểu thuyết của các tác giả nữ hải ngoại: Thuận, Linda Lê, Đoàn Minh Phượng, Lê Minh Hà, Lý Lan, Hiệu Constant, Lê Ngọc Mai, Lê Thị Thấm Vân.
- Văn bản phi hư cấu và tác phẩm mở rộng: Sáng tác của Doan Bui, Kim Thúy, Phan Việt, Phan Hà Anh, Nuage Rose, Isabelle Muller.
- Tài liệu lý luận phê bình, các công trình dịch thuật triết học và văn hóa học liên quan đến liên văn hóa, văn học di dân trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tổng thuật toàn diện hai mảng tư liệu nghiên cứu: lý thuyết liên văn hóa (quá trình hình thành từ triết học đến văn học, truyền thông ở nước ngoài và tình hình tiếp nhận tại Việt Nam) và tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam đương đại (các công trình của A. Sokolov, Trần Lê Hoa Tranh, Vũ Thị Hạnh, Lê Tú Anh...). Tác giả chỉ ra rằng việc nghiên cứu tiểu thuyết nữ hải ngoại từ hệ hình liên văn hóa vẫn là một hướng đi giàu tiềm năng và chưa có công trình nào khảo sát quy mô, hệ thống.
Chương 2: Giới thuyết về lý thuyết liên văn hoá và tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam đương đại
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ và phân kỳ lịch sử văn học di dân Việt Nam:
- Khái niệm: Phân tích phạm trù văn hóa, đa văn hóa và liên văn hóa; nhấn mạnh tính tương tác, biến đổi và bình đẳng giữa các thực thể văn hóa.
- Khái niệm văn học di dân: Tiếp thu quan điểm mở rộng của Trần Lê Hoa Tranh, xác định văn học di dân bao gồm cả những tác giả định cư lẫn tạm cư nhưng mang tâm thế tha hương và phản ánh các va chạm văn hóa.
- Phân kỳ lịch sử văn học di dân Việt Nam: Dựa trên các nghiên cứu của A. Sokolov và Trần Lê Hoa Tranh, luận án xác lập 3 thời kỳ phát triển chính:
| Thời kỳ |
Mốc thời gian |
Đặc điểm không gian & Tác giả tiêu biểu |
Cảm quan nghệ thuật & Nội dung chính |
| Thời kỳ thứ nhất |
1975 – 1980 |
Định cư chủ yếu tại Mỹ, Pháp, Úc, Canada. Tác giả: Mặc Đỗ, Nhật Tiến, Bình Nguyên Lộc, Nhã Ca, Duyên Anh, Túy Hồng... |
Giai đoạn khởi đầu; mang nặng tâm trạng nhớ nhung quê hương, đối diện cú sốc văn hóa ban đầu; tác phẩm mang tính thể nghiệm, chưa nhiều thành tựu lớn. |
| Thời kỳ thứ hai |
1981 – 1990 |
Tác giả: Thế Giang, Trần Vũ, Vũ Quỳnh Hương, Nguyễn Mộng Giác, Lê Thị Thấm Vân, Thụy Khuê, Mai Ninh... Có sự hỗ trợ của các báo/tạp chí (Văn, Văn học, Thế kỷ 21...). |
Phản ánh khốc liệt cú sốc tinh thần và bi kịch vượt biên/di cư; số lượng đầu sách và nhà xuất bản chuyên nghiệp gia tăng, xác lập đời sống văn học thực thụ. |
| Thời kỳ thứ ba |
1991 – nay |
Tác giả: Thuận, Linda Lê, Đoàn Minh Phượng, Lê Minh Hà, Lý Lan, Hiệu Constant, Lê Ngọc Mai, Doan Bui, Phan Việt... |
Nở rộ và thăng hoa, đặc biệt là các cây bút nữ; song hành viết bằng tiếng Việt và tiếng sở tại; chuyển dịch từ cảm thức hoài niệm quá khứ sang cảm thức hội nhập hiện tại; xuất hiện xu hướng hồi hương và kết nối xuất bản trong nước. |
- Tính chất liên văn hóa: Thế hệ nhà văn nữ đương đại sáng tạo dòng “văn chương vô xứ” (Literature of Displacement). Nhân vật trong tác phẩm của họ chịu trạng thái “lưu vong kép” (như trong tiểu thuyết Vu khống của Linda Lê) - vừa lưu vong khỏi quê hương bản quán, vừa lưu vong trong chính ngôn ngữ và xã hội sở tại. Tác phẩm ít than vãn về quá khứ mà tập trung vào hành trình nhọc nhằn tìm kiếm căn cước, giải quyết xung đột văn hóa và nỗ lực hòa nhập.
Chương 3: Tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam đương đại nhìn từ các phạm trù liên văn hoá
Chương này đi sâu phân tích nội dung tư tưởng của các tiểu thuyết qua 3 nhóm phạm trù liên văn hóa:
- Phạm trù đa dạng và bình đẳng:
- Sự đa dạng văn hóa - khát vọng của văn hóa tiểu nhược: Phản ánh sự phản kháng của các nền văn hóa nhỏ trước áp lực đồng hóa của các trung tâm phương Tây; khẳng định căn tính Việt qua ẩm thực, phong tục, ký ức.
- Khác biệt để bình đẳng - tự tôn và hòa nhập: Nhân vật nữ không chấp nhận vị thế bị đặt ra bên lề mà chủ động xác lập vị thế bình đẳng thông qua sự tự nhận thức và năng lực cá nhân.
- Phạm trù tính đối thoại và tương đồng:
- Tính đối thoại giữa các giá trị văn hóa: Thể hiện qua các cuộc đối thoại Đông - Tây, sự thương thỏa giữa các hệ giá trị truyền thống Việt Nam và tư duy duy lý phương Tây.
- Tính tương đồng phổ quát của văn hóa: Dựa trên thông diễn học tương đồng của Ram Adhar Mall, chỉ ra những điểm giao thoa phổ quát về nhân tính, tình mẫu tử, nỗi đau mất mát vượt qua biên giới sắc tộc.
- Phạm trù kiến tạo và khẳng định bản ngã:
- Sự lai ghép văn hóa và cảm thức lưu vong: Phân tích nhân vật lai ghép về mặt văn hóa, sống giữa các lằn ranh địa lý và tâm thức.
- Hành trình tìm kiếm bản ngã: Khát vọng trả lời câu hỏi “Tôi là ai?” của những người phụ nữ xa xứ, nỗ lực tự định vị bản thân trong không gian đa văn hóa.
Chương 4: Biểu hiện liên văn hoá trong tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam đương đại nhìn từ phương diện nghệ thuật
Chương 4 khảo sát các phương thức thi pháp thể hiện tính liên văn hóa:
- Phương diện chủ thể trần thuật:
- Chủ thể trần thuật với cái tôi tự thuật: Sử dụng ngôi kể thứ nhất mang tính chất tự truyện, tạo sự pha trộn giữa trải nghiệm thực tế của tác giả và thế giới hư cấu.
- Sự đa dạng hóa chủ thể trần thuật: Kết hợp nhiều điểm nhìn trần thuật, sự phân thân và hoán đổi ngôi kể để thể hiện cái nhìn đa chiều về các va chạm văn hóa.
- Phương diện không gian và thời gian nghệ thuật:
- Sự dịch chuyển biên độ không gian: Không gian nghệ thuật mở rộng và phân mảnh (Hà Nội, Sài Gòn, Paris, Berlin, Munich...), tạo nên cấu trúc không gian liên văn hóa, không gian dịch chuyển và quá cảnh.
- Sự thay đổi chiều kích thời gian: Thời gian đồng hiện, đan cài giữa hiện tại nơi xứ người và quá khứ hồi ức nơi quê nhà; thời gian tâm lý thay thế cho trật tự thời gian tuyến tính.
- Phương diện ngôn ngữ và giọng điệu:
- Tính đối thoại và lai ghép trong ngôn ngữ: Đan xen từ ngữ đa ngôn ngữ (Việt - Pháp - Anh), sử dụng các kết cấu câu lai ghép diễn đạt tư duy liên văn hóa.
- Sự đa thanh trong giọng điệu: Giọng điệu giễu nhại, hoài nghi, trăn trở xen lẫn giọng trữ tình sâu lắng, phản ánh phức cảm tâm lý của con người di dân.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Cung cấp cái nhìn hệ thống về lý thuyết liên văn hóa và các phạm trù công cụ (đa dạng, bình đẳng, đối thoại, thông diễn học tương đồng), làm rõ khả năng ứng dụng của hệ hình lý thuyết này trong nghiên cứu văn học tại Việt Nam.
- Khẳng định triển vọng của hướng tiếp cận liên văn hóa trong việc giải mã các hiện tượng văn học mang tính dịch chuyển và lai ghép trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Phác thảo diện mạo văn học di dân Việt Nam qua các thời kỳ, tập trung làm rõ bước chuyển biến tư duy nghệ thuật của các nhà văn nữ từ thập niên 1990 đến nay.
- Nhận diện các đặc trưng nội dung (cảm thức lưu vong kép, hành trình tìm kiếm căn cước, sự đối thoại Đông - Tây) và đặc trưng nghệ thuật (trần thuật tự thuật, không gian dịch chuyển, ngôn ngữ lai ghép, giọng điệu đa thanh) của tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam.
- Kiến nghị và đề xuất:
- Đề xuất tiếp tục dịch thuật và giới thiệu các công trình lý thuyết liên văn hóa nền tảng vào Việt Nam.
- Gợi mở việc đưa mảng văn học hải ngoại vào chương trình giảng dạy và nghiên cứu chính khóa như một bộ phận hữu cơ của văn học dân tộc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Luận án tập trung khảo sát chủ yếu ở thể loại tiểu thuyết và tiểu thuyết mang tính tự truyện; các thể loại khác như truyện ngắn, thơ, tản văn của tác giả nữ hải ngoại chưa được bao quát toàn diện.
- Nguồn tư liệu dịch thuật về lý thuyết liên văn hóa tại Việt Nam còn hạn chế, phần lớn dựa trên các tài liệu tiếng nước ngoài.
- Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào các tác giả ở châu Âu (Pháp, Đức) và Bắc Mỹ (Mỹ, Canada), chưa mở rộng sang các khu vực có người Việt di dân khác như Đông Âu hay châu Á.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng ứng dụng lý thuyết liên văn hóa để khảo sát các thế hệ nhà văn gốc Việt thứ hai, thứ ba viết hoàn toàn bằng tiếng bản địa.
- Khảo sát so sánh liên văn hóa giữa văn học nữ hải ngoại Việt Nam với văn học nữ di dân của các quốc gia châu Á khác (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn học so sánh: Cung cấp khung lý thuyết liên văn hóa và phương pháp phân tích văn bản văn học di dân.
- Nhà nghiên cứu văn hóa học và nhân học: Nguồn tham khảo về sự tiếp biến, xung đột và hòa nhập văn hóa của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
- Các phần nội dung đáng tham khảo:
- Hệ thống hóa các phạm trù lý thuyết liên văn hóa (Chương 2).
- Bảng phân kỳ và phân tích lịch sử văn học di dân Việt Nam qua 3 thời kỳ (Chương 2).
- Khung phân tích thi pháp liên văn hóa về không gian, thời gian và ngôn ngữ nghệ thuật (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân kỳ lịch sử phát triển của văn học hải ngoại Việt Nam thành những giai đoạn nào?
Luận án chia lịch sử văn học hải ngoại Việt Nam thành 3 thời kỳ chính:
- Thời kỳ thứ nhất (1975–1980): Giai đoạn khởi đầu tại Mỹ, Pháp, Úc, Canada; mang nặng cú sốc văn hóa và tâm trạng nhớ quê; sáng tác mang tính thể nghiệm.
- Thời kỳ thứ hai (1981–1990): Phản ánh khốc liệt cú sốc tinh thần di cư; hình thành các tờ báo, tạp chí chuyên nghiệp và xác lập đời sống văn học thực thụ.
- Thời kỳ thứ ba (1991 đến nay): Giai đoạn phát triển mạnh của các cây bút nữ; chuyển từ hoài niệm quá khứ sang cảm thức hội nhập hiện tại; xuất hiện xu hướng in ấn, xuất bản và giao lưu với độc giả trong nước.
2. Các phạm trù lý thuyết liên văn hóa then chốt nào được luận án sử dụng làm khung phân tích?
Luận án vận dụng 4 phạm trù lý thuyết liên văn hóa:
- Sự đa dạng văn hóa: Tôn trọng bản sắc đặc thù của các nền văn hóa nhỏ.
- Sự bình đẳng văn hóa: Loại bỏ thái độ trung tâm luận, xem các nền văn hóa là những chủ thể bình đẳng.
- Tính đối thoại văn hóa: Tương tác, chia sẻ và thâu hóa giữa các cộng đồng văn hóa trên cơ sở khoan dung.
- Thông diễn học tương đồng: Khái niệm của Ram Adhar Mall nhằm tìm kiếm các cấu trúc trùng khớp, tương đồng giữa các nền văn hóa để thấu hiểu lẫn nhau mà không đồng nhất hóa hay cô lập hóa.
3. Sự khác biệt căn bản trong cảm quan nghệ thuật giữa thế hệ nhà văn hải ngoại thời kỳ đầu và thế hệ nữ đương đại là gì?
Thế hệ thời kỳ đầu mang nặng cảm thức hoài hương, đau buồn vì sự ly tán, trĩu nặng ký ức chiến tranh và bế tắc trước cú sốc văn hóa nơi đất khách. Ngược lại, thế hệ nhà văn nữ đương đại (từ 1991 đến nay) rời quê hương khi còn trẻ hoặc sinh ra ở nước ngoài, ít chịu gánh nặng quá khứ; họ hướng vào thì hiện tại, phản ánh các mâu thuẫn văn hóa cụ thể, hành trình mưu sinh, nỗ lực hòa nhập và khát vọng tự định vị bản ngã trong xã hội đa văn hóa.
4. Khái niệm “lưu vong kép” được luận án dẫn giải qua tác phẩm nào và mang ý nghĩa gì?
Khái niệm “lưu vong kép” được dẫn giải qua phát biểu của nhà văn Linda Lê về tiểu thuyết Vu khống. Ý nghĩa của trạng thái này chỉ người di dân vừa chịu sự lưu vong về mặt địa lý/nguồn cội (bị bứng khỏi quê hương), vừa chịu sự lưu vong về mặt ngôn ngữ và tâm thức (viết bằng ngôn ngữ sở tại nhưng không được xem là người bản địa, đồng thời đã quên dần tiếng mẹ đẻ, sống trong cảm giác xa lạ ở cả hai nơi).
5. Những phương diện nghệ thuật nào được luận án chọn để phân tích biểu hiện liên văn hóa?
Luận án tập trung khảo sát tính chất liên văn hóa qua 3 phương diện nghệ thuật chính:
- Chủ thể trần thuật: Sự kết hợp giữa cái tôi tự thuật và sự đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật.
- Không gian và thời gian nghệ thuật: Sự dịch chuyển biên độ không gian (không gian liên văn hóa, không gian phân mảnh) và sự thay đổi chiều kích thời gian (thời gian đồng hiện, tâm lý).
- Ngôn ngữ và giọng điệu: Tính đối thoại và lai ghép trong ngôn ngữ cùng sự đa thanh trong giọng điệu trần thuật.
Kết luận
Luận án “Tiểu thuyết nữ hải ngoại Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết liên văn hóa” của tác giả Lê Thị Bích Hạnh là công trình nghiên cứu văn học định tính có cấu trúc hoàn chỉnh. Luận án đã hệ thống hóa khung lý thuyết liên văn hóa và vận dụng để giải mã diện mạo, nội dung tư tưởng và thi pháp nghệ thuật của mảng tiểu thuyết nữ hải ngoại từ năm 1991 đến nay. Kết quả nghiên cứu làm rõ các vấn đề về căn cước, sự lưu vong kép và đối thoại Đông - Tây trong tác phẩm của các tác giả như Thuận, Linda Lê, Đoàn Minh Phượng, qua đó khẳng định vị trí của bộ phận văn học này trong dòng chảy văn học dân tộc thời kỳ hội nhập.