Luận án tiến sĩ văn học tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía bắc sau 1986 từ góc nhìn văn hóa

Luận án tiến sĩ văn học nghiên cứu văn học tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía bắc sau 1986 từ góc nhìn văn hóa, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

164
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về tiểu thuyết dân tộc thiểu số miền Bắc sau 1986 còn khá khiêm tốn. Các công trình hiện có chủ yếu mang tính tổng quát, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB. Một số tác phẩm như "Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại" đã chỉ ra những nét nổi bật trong nội dung và nghệ thuật của các nhà văn như Triều Ân, Nông Minh Châu, Vi Hồng. Tuy nhiên, những hạn chế trong nghệ thuật như cốt truyện đơn giản và nhân vật thiếu cá tính vẫn được nhấn mạnh. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra sự cần thiết phải có những tác phẩm có giá trị cao hơn, đồng thời khẳng định vai trò của văn học DTTS trong sự nghiệp văn học chung của cả nước.

1.1. Những nghiên cứu có tính chất tổng quát

Các nghiên cứu về tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB chủ yếu tập trung vào những tác giả nổi bật như Vi Hồng và Cao Duy Sơn. Những công trình như "Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại" đã phác thảo diện mạo nền văn học hiện đại của các DTTS, chỉ ra những ảnh hưởng của văn học dân gian và những nét riêng biệt trong sáng tác của từng tác giả. Tuy nhiên, việc thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về từng tác phẩm cụ thể vẫn là một hạn chế lớn.

1.2. Nghiên cứu về một số hiện tượng tiêu biểu

Gần đây, một số bài nghiên cứu đã bắt đầu tìm hiểu về các tác giả cụ thể trong mảng tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB. Vi Hồng là tác giả được quan tâm nhiều nhất, với nhiều luận văn và bài viết phân tích về sự nghiệp sáng tác của ông. Các nghiên cứu này đã chỉ ra sự kết hợp giữa bản sắc văn hóa dân tộc và nghệ thuật viết của Vi Hồng, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học.

II. Những tiền đề tự nhiên lịch sử văn hóa xã hội và diện mạo tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986

Khu vực MNPB là nơi có sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người như Tày, Thái, Mông, Nùng. Những đặc trưng văn hóa này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tiểu thuyết của các nhà văn DTTS. Các tác phẩm không chỉ phản ánh đời sống văn hóa mà còn thể hiện những giá trị nhân văn sâu sắc. Sự phát triển của văn học DTTS sau 1986 đã tạo ra một diện mạo mới, phong phú và đa dạng hơn, với nhiều tác phẩm tiêu biểu như "Muối lên rừng" của Nông Minh Châu, đánh dấu bước tiến quan trọng trong thể loại tiểu thuyết của các DTTS.

2.1. Những tiền đề tự nhiên lịch sử văn hóa xã hội

Đời sống văn hóa của các tộc người DTTS MNPB đã tạo ra những tiền đề vững chắc cho sự phát triển của tiểu thuyết. Các yếu tố tự nhiên, lịch sử và xã hội đã hình thành nên bản sắc văn hóa độc đáo, từ đó ảnh hưởng đến tư duy sáng tạo của các nhà văn. Những tác phẩm văn học không chỉ là sản phẩm nghệ thuật mà còn là sự phản ánh chân thực về đời sống, phong tục tập quán của các tộc người.

2.2. Diện mạo tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986

Diện mạo tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986 thể hiện sự phong phú và đa dạng. Các tác phẩm không chỉ mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc mà còn thể hiện những vấn đề xã hội, nhân sinh quan của các tộc người. Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong sáng tác đã tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam.

III. Hệ biểu tượng trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986

Hệ thống biểu tượng trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB là một phần quan trọng trong việc thể hiện bản sắc văn hóa. Các biểu tượng thiên nhiên, con người và văn hóa xã hội không chỉ mang ý nghĩa nghệ thuật mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa sâu sắc. Việc phân tích hệ thống biểu tượng giúp hiểu rõ hơn về tư duy nghệ thuật và tâm lý của các nhà văn, từ đó khám phá những đặc trưng văn hóa của từng tộc người.

3.1. Giới thuyết về biểu tượng

Biểu tượng trong tiểu thuyết không chỉ là hình ảnh mà còn là những giá trị văn hóa, tâm linh của các tộc người. Các nhà văn DTTS MNPB đã khéo léo sử dụng biểu tượng để thể hiện những thông điệp sâu sắc về cuộc sống, con người và văn hóa. Việc nghiên cứu biểu tượng giúp làm rõ hơn mối liên hệ giữa văn học và văn hóa, đồng thời khẳng định vai trò của văn học trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

3.2. Hệ biểu tượng về thiên nhiên

Thiên nhiên trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB không chỉ là bối cảnh mà còn là một phần không thể thiếu trong việc thể hiện bản sắc văn hóa. Các hình ảnh thiên nhiên thường gắn liền với đời sống, phong tục tập quán của các tộc người, từ đó tạo nên những biểu tượng mang tính biểu trưng cao. Sự kết hợp giữa thiên nhiên và con người trong tác phẩm đã tạo ra những giá trị nghệ thuật độc đáo, phản ánh sâu sắc tâm hồn và bản sắc văn hóa của các tộc người.

IV. Một số phương thức biểu đạt văn hóa trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB sau 1986

Các nhà văn DTTS MNPB đã sử dụng nhiều phương thức nghệ thuật để biểu đạt văn hóa trong tiểu thuyết của họ. Nghệ thuật sử dụng huyền thoại, motif và ngôn ngữ là những phương thức chủ yếu giúp thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo. Những phương thức này không chỉ làm phong phú thêm nội dung tác phẩm mà còn tạo ra những giá trị nghệ thuật sâu sắc, góp phần khẳng định vị trí của văn học DTTS trong nền văn học Việt Nam.

4.1. Nghệ thuật sử dụng huyền thoại

Huyền thoại trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB không chỉ là yếu tố nghệ thuật mà còn là phương tiện để truyền tải những giá trị văn hóa, tâm linh của các tộc người. Việc sử dụng huyền thoại giúp tạo ra những không gian nghệ thuật phong phú, đồng thời khẳng định bản sắc văn hóa độc đáo của từng tộc người. Những câu chuyện huyền thoại thường mang tính giáo dục, phản ánh những triết lý sống và giá trị nhân văn sâu sắc.

4.2. Nghệ thuật sử dụng các motif

Các motif trong tiểu thuyết của các nhà văn DTTS MNPB thường gắn liền với đời sống, phong tục tập quán của các tộc người. Việc sử dụng các motif không chỉ làm phong phú thêm nội dung tác phẩm mà còn tạo ra những giá trị nghệ thuật độc đáo. Các motif thường mang ý nghĩa biểu trưng, phản ánh những giá trị văn hóa và tâm linh của các tộc người, từ đó tạo nên sự kết nối giữa văn học và văn hóa.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ văn học tiểu thuyết của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía bắc sau 1986 từ góc nhìn văn hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề nghiên cứu văn học trong văn hóa từ rất sớm. Ông coi chủng tộc (gien của tộc người), môi trường (địa lí và xã hội) và thời điểm (sự tiến hóa của lịch sử) là ba động lực đầu tiên để giải thích sự xuất hiện của văn học. Taine đã chỉ ra vai trò của chủ thể sáng tạo văn học với những đặc điểm hình thành bởi yếu tố có tính quy định là tố chất bên trong của tộc người, đó là “các giới hạn của hình thức đầu tiên” mà ông gọi là “cấu trúc tinh thần của một chủng tộc”, nó chứa đựng các đặc tính di truyền mang tính sinh học. Chủng tộc – trong quan niệm của Taine, không đơn thuần chỉ là các vấn đề về màu da, tiếng nói (ngôn ngữ).

mà còn là vấn đề tâm thức tộc người – cái căn cốt để tạo nên diện mạo, lịch sử và vị thế của một dân tộc, là yếu tố đầu tiên và vô cùng quan trọng làm nên bản sắc văn hóa cho mỗi quốc gia. Taine cũng chỉ ra sự hình thành đặc tính tinh thần của tộc người là môi trường sống của họ (hoàn cảnh địa lí, hoàn cảnh chính trị, các điều kiện tôn giáo, xã hội). Môi trường ở đây bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội (môi trường văn hóa). Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên sẽ dẫn đến sự hình thành và phát triển của những cộng đồng khác nhau và những cá nhân khác nhau.

Bên cạnh đó, Taine đặc biệt chú ý tới thời điểm. Nếu hai yếu tố trên được ông chú ý ở đặc tính sinh học và những tác động ngoại cảnh thì yếu tố thứ ba này Taine chú ý đến bản chất của quá trình kế thừa và sáng tạo văn học. Về thời điểm, ông giải thích quá trình kế thừa và sáng tạo của văn học “đặc điểm dân tộc và hoàn cảnh bên ngoài đặt dấu ấn không phải lên “nền trắng” mà lên một bề mặt đã có hình, tùy từng thời điểm khác nhau mà bức tranh này khác nhau, vì vậy, chúng ta có 14 các kết quả khác nhau” [113; tr. Taine đã đặt văn học trong quan hệ phức tạp ba chiều của đời sống văn hóa con người.

Tuy vậy, ông mới chú ý đến sự tác động của hoàn cảnh môi trường chủ yếu về mặt tinh thần (hoàn cảnh chính trị, các điều kiện xã hội, tôn giáo và hoàn cảnh địa lí), chưa đề cập tới mặt cơ bản nhất có ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ tới đời sống con người đó là cơ sở kinh tế xã hội” [113; tr. Tuy nhiên theo đánh giá của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy, “trường phái văn hóa – lịch sử vẫn tìm giá trị của văn chương không phải ở bản thân văn chương, mà ở đối tượng đã in dấu vào văn chương, tức là văn hóa, lịch sử. Như vậy nó đã có phần đồng nhất văn chương với thực tại xã hội mà văn chương phản ánh. Bởi vậy, lịch sử văn chương mà Taine muốn tạo dựng thực chất là lịch sử văn minh, lịch sử tư tưởng xã hội.

Mối quan hệ biện chứng, chân thực giữa các quá trình xã hội và văn học chưa được giải thích rõ”. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, đóng góp đáng ghi nhận của trường phái này đó là đã chỉ ra mối quan hệ giữa văn học và văn hóa qua chủ thể sáng tạo văn học (tác giả). Một tác giả văn học luôn thuộc về một dân tộc nào đó, chịu ảnh hưởng của văn hóa lịch sử của dân tộc mình để rồi những ảnh hưởng đó ít nhiều được phản chiếu vào tác phẩm của họ bằng con đường kế thừa, kết tinh và sáng tạo. Sang thế kỉ XX, nhà triết học người Đức E.

Casirer nghiên cứu văn học từ góc độ huyền thoại học như một kiểu tư duy cổ xưa nhất của con người. Ông phát triển quan niệm coi hoạt động tinh thần của con người (trong đó tiêu biểu nhất là sự sáng tạo huyền thoại với tư cách là dạng cổ xưa nhất của hoạt động ấy) như là một hoạt động mang tính cách biểu trưng. Trong cuốn “Tư duy huyền thoại” (tập thứ hai trong một công trình nghiên cứu ba tập nhan đề “Triết học về các hình thức biểu trưng”) ông đã miêu tả một số đặc điểm cơ bản về dạng thức cũng như về cấu trúc của tư duy huyền thoại, và về tính ẩn dụ biểu trưng của huyền thoại. Ông cho rằng văn hóa là một hệ thống kí hiệu và nghiên cứu văn học là nghiên cứu biểu tượng của nó.

Từ góc độ kí hiệu học, Iu.Lotman – người sáng lập trường phái nghiên cứu Tartu – Moskva (trường phái nghiên cứu bao trùm nhiều lĩnh vực như văn học, kí hiệu học, văn hóa học, ngôn ngữ học) đã nhận ra sự tương tác của các kênh thông tin như một phạm trù xã hội.Lotman là người có công lớn trong việc đề xướng giải mã văn bản văn học bằng kí hiệu. Tất cả những công trình về ký hiệu học của ông đều dành vào việc tiếp tục phát triển lý thuyết ký hiệu học văn hoá, hoặc phân tích những tư liệu văn hoá cụ thể từ giác độ ký hiệu học. Văn bản văn học giờ đây đã được xem xét như một văn bản văn hóa. Đời sống của một tác phẩm văn học không chỉ được nhìn nhận bằng ngôn ngữ (kí tự) mà phải được xem xét như một chỉ dấu văn hóa mang tính đặc thù.

Quan điểm về ngôn ngữ văn hóa, kí hiệu học văn hóa đã góp phần đưa đến một bước đột phá trong nghiên cứu văn học. Công trình nghiên cứu của Lotman về 15 kí hiệu học văn hóa có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nghiên cứu văn học. Theo quan điểm của ông, bản thân văn hóa cũng là một đối tượng kí hiệu học và do đó, bất cứ một hiện tượng văn hóa nào cũng đều có những đặc điểm kí hiệu. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, nghiên cứu kí hiệu không thể phân rã nhỏ lẻ mà phải được nhìn nhận trong một chỉnh thể, một tổ chức nhất định.

Kí hiệu phải đặt vào chỉnh thể thì nó mới trở thành kí hiệu đang hoạt động, nói cách khác, đưa kí hiệu ra khỏi chỉnh thể thì nó chỉ là một kí hiệu khô cứng mà thôi. Theo hướng đi của Lotman, nghiên cứu các hình thức của văn học cũng đồng thời là nghiên cứu các hình thức của văn hóa. Bên cạnh ngôn ngữ, các yếu tố như biểu tượng, cổ mẫu, không gian, thời gian, con người (nhân vật). đều có thể xem như là những kí hiệu văn hóa.

Trường phái Phân tâm học mà người đặt nền móng là Sigmund Freud cũng có những đóng góp đáng kể trong việc xác nhận và khẳng định vai trò của văn hóa đối với văn học. Sigmund Freud là người có công lớn trong việc hình thành lí thuyết về vô thức cá nhân với những ham muốn bị lãng quên, dồn nén. Theo ông, sáng tạo nghệ thuật là sự thăng hoa của cái vô thức cá nhân bị dồn nén, cụ thể hơn là sự thăng hoa của bản năng tính dục trong vô thức. Tiếp đó, người học trò của Freud là Card Gustav Jung trên cơ sở vừa kế thừa vừa phê phán lí thuyết của người thầy, đã sáng lập ra tâm lí học phân tích với một phát hiện có giá trị là lí thuyết về vô thức tập thể.

Jung là người đầu tiên vẽ ra sơ đồ về con đường di truyền văn hóa trong nghệ thuật: vô thức tập thể là tài sản chung của nhân loại, được cấu trúc hóa thành các archétyphe (dịch là siêu mẫu, cổ mẫu hay mẫu gốc) là những đồ hình vĩnh cửu của kinh nghiệm loài người được thể hiện bằng những hình ảnh tượng trưng tập thể. Sự xuất hiện trở đi trở lại của chúng khiến cho văn hóa được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Văn học, theo sự phân loại của Jung gồm 2 loại: Loại hình tâm lí và loại hình ảo giác. Nếu loại hình tâm lí thường viết về những bài học cuộc đời, số phận con người với những niềm vui, nỗi buồn… con người ý thức được và giải thích được thì loại hình ảo giác được khơi nguồn từ vô thức tập thể có nguồn gốc sâu xa từ thời tiền sử.

Ông đánh giá cao loại thứ hai vì cho rằng tác phẩm sáng tác từ ý thức hay vô thức cá nhân vẫn là vấn đề trong phạm vi hẹp của cá nhân chứ chưa vươn ra tầm nhân loại. Jung cho rằng, muốn nhận biết hình tượng văn học phải hiểu được con đường hình thành biểu tượng. Trong mỗi con người đều tồn tại vô thức tập thể được kế thừa từ thời xa xưa dưới một dạng thức nhất định của những hình ảnh được ghi nhớ. Siêu mẫu (cổ mẫu, mẫu gốc) được sử dụng lặp lại trong suốt chiều dài lịch sử ở bất kì nơi đâu có trí tưởng tượng sáng tạo tự do hoạt động.

Vì vậy, theo ông, quá trình sáng tạo nghệ thuật là phải “hà hơi sống cho siêu mẫu từ trong vô thức, là trải nó ra và tạo hình nó cho đến khi thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh” [116; tr. Bên cạnh vai trò của vô thức cá nhân, Jung đặc biệt nhấn mạnh đến ý nghĩa to lớn của vô thức tập thể trong quá trình sáng tạo nghệ 16 thuật “một cá nhân riêng rẽ không thể phát huy được hết sức mạnh tập thể, nếu một trong các biểu tượng tập thể, những cái được gọi là lí tưởng, không hiện ra giúp nó và không tháo cởi những sức mạnh bản năng của nó” [116; tr. Như vậy, có thể nhận thấy, Jung là người có công lớn trong việc khẳng định vai trò của cổ mẫu trong sáng tạo nghệ thuật. Xu hướng vận dụng các quan điểm và thành tựu văn hóa để lí giải văn học ở Nga xuất hiện vào khoảng giữa thế kỉ XX mà người khởi xướng là M.

Bakhtin, giáo sư văn học người Nga thuộc Đại học Saransk. Bakhtin quan niệm “Trước hết, khoa nghiên cứu văn học cần phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn học. Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài cái bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại”.

Công trình nghiên cứu quan trọng của ông có thể coi là một bước ngoặt trong nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa: Sáng tác của F.Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng (1960). Công trình đặc biệt của M.Bakhtin không đơn thuần là công trình lí thuyết nhưng những khảo cứu của ông về sáng tác của F.Rabelais có ý nghĩa như một tuyên ngôn lí thuyết nghiên cứu văn học từ văn hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Luận án tiến sĩ về tiểu thuyết của nhà văn dân tộc thiểu số miền Bắc sau 1986 từ góc nhìn văn hóa" là một nghiên cứu chuyên sâu, khám phá sự phát triển và đặc điểm của tiểu thuyết viết bởi các nhà văn dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam sau năm 1986. Từ góc nhìn văn hóa, luận án không chỉ làm nổi bật những giá trị nghệ thuật mà còn phân tích sâu sắc cách các tác phẩm phản ánh bản sắc văn hóa, tâm lý và lịch sử của các cộng đồng thiểu số. Điều này giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự đa dạng văn hóa và sự đóng góp của văn học dân tộc thiểu số vào nền văn học Việt Nam hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về văn hóa và văn học, bạn có thể tham khảo thêm Khóa luận tốt nghiệp không gian văn hóa mường trong quá trình hội nhập tại xã phú mãn quốc oai hà nội, nghiên cứu về sự biến đổi và bảo tồn văn hóa Mường trong bối cảnh hội nhập. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ văn hóa tâm linh trong truyện kiều và văn chiêu hồn của nguyễn du cung cấp góc nhìn sâu sắc về yếu tố tâm linh trong văn học cổ điển. Cuối cùng, Luận văn tìm về cội nguồn quan họ sẽ giúp bạn khám phá thêm về di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam. Mỗi tài liệu là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào các chủ đề liên quan, mở rộng hiểu biết về văn hóa và văn học dân tộc.