Chương I 10 Kinh Bắc, không gian văn hoá của quê hương quan họ. Chương II Từ những truyền thuyết về nguồn gốc và thời điểm ra đời của dân ca quan họ. Chương III Chân dung sinh hoạt văn hoá quan họ xưa. Chương IV Âm nhạc và ca hát quan họ.
Chương V Văn học quan họ Chương VI Trang phục quan họ. Chương VII Thực trạng và giải pháp bảo tồn và phát huy văn hoá quan họ. Đây là một nhiệm vụ nghiên cứu rất khó khăn, phức tạp, có những đòi hỏi cao về lý luận và thực tiễn đối với các thành viên nghiên cứu. Tuy được tận hưởng thành tựu phong phú của các nhà nghiên cứu đi trước và có nhiều cố gắng tổng hợp, phát triển cũng như mạnh dạn nêu ra những phát hiện, chiêm nghiệm, những kiến giải và đề xuất mới theo đòi hỏi của thực tiễn, nhưng do trình độ và thời gian có hạn, chắc chắn công trình còn nhiều thiếu sót, bất cập, mong nhận được những bổ sung chỉ giáo của các bậc tiền bối cùng đồng nghiệp gần xa quan tâm tới dân ca quan họ.
11 Chuơng Một KINH BẮC KHÔNG GIAN VĂN HOÁ CỦA QUÊ HƯƠNG QUAN HỌ I. Kinh Bắc - quê hương quan họ. Dù thường được gọi là dân ca quan họ Bắc Ninh nhưng quê hương dân ca quan họ không chỉ thuộc địa phận Bắc Ninh mà còn bao gồm cả một số địa phương của Bắc Giang. Từ trước cách mạng tháng Tám, hai nhà nghiên cứu Minh Trúc và Toan Ánh trên báo Trung Bắc tân văn từ năm 1937 và trong sách Phong tục Việt Nam năm 1943, cho biết các làng Thổ Hà, Mật Ninh, Nội Ninh và một số làng khác ở Lục Ngạn, Việt Yên, Bắc Giang cũng biết hát và lập hội hát quan họ nhộn nhịp vào mùa xuân như các làng ở Võ Giàng, Tiên Du, Yên Phong, Bắc Ninh.
Trong 49 làng quan họ truyền thống như mọi người thường nhắc, ngoài 44 làng thuộc ba huyện Bắc Ninh thì có 5 làng thuộc huyện Việt Yên, Bắc Giang. Trong các đợt điền dã gần đây để nghiên cứu dân ca quan họ tại các địa phương Bắc Giang trong năm 2005, hai nhà nghiên cứu trẻ của Viện Văn hoá Thông tin Bùi Quang Thanh và Phạm Nam Thanh cho biết đã phát hiện thêm 15 làng quan họ cổ truyền nữa tại các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hoà với hàng chục nghệ nhân có tuổi đời từ 75 đến 95 và hàng trăm liền anh, liền chị các thế hệ. Như vậy, ta càng có căn cứ để khẳng định dân ca quan họ đã hình thành và phát triển trên một cùng rộng lớn cả hai bờ nam bắc sông Cầu thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay và trấn Kinh Bắc xưa. Kinh Bắc qua các thời kỳ lịch sử.
Kinh Bắc là một trong Tứ trấn quanh kinh đô Thăng Long xưa, cùng với trấn Sơn Nam, trấn Hải Đông và trấn Hưng Hóa (tức trấn Đoài, Đoài có nghĩa cổ là phía tây, hướng tây). Trong dân gian có câu: Làm trai cho đáng nên trai, Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên. Tục ngữ có câu: Ăn Bắc, mặc Kinh Nhiều người cho đến giờ phút này vẫn hiểu lầm Bắc ở đây là Bắc Bộ - châu thổ sông Hồng, còn Kinh là Kinh thành Huế - Phú Xuân thời Nguyễn. Hiểu như thế rất sai! Bắc ở đây là trấn Kinh Bắc, xứ Kinh Bắc.
Còn Kinh ở đây là kinh đô hay kinh kỳ Thăng Long, là Đông Kinh, là Kẻ Chợ, nay là Hà Nội thân yêu của chúng ta. Mặc Kinh nghĩa là dân kinh đô thì mặc đẹp, trưng diện… còn ăn Bắc tức là dân Kinh Bắc ăn ngon, ăn nhiều, đánh chén lu bù. Kinh Bắc là địa danh xuất hiện từ Lý triều. Khi đó họ Lý lên làm vua, nắm binh quyền ở Thăng Long.
Họ Lý phát tích từ Kinh Bắc. Nhưng đất Kinh Bắc thì không phải từ đời Lý mới có mà nó hiện diện từ rất sớm, ngay trong thời Hùng Vương dựng nước. Vào thời vua Hùng dựng nước, vùng Kinh Bắc quê hương quan họ thuộc về bộ Vũ Ninh, một bộ lâu đời và quan trọng của người Lạc Việt. Vào thời nước Âu Lạc của An Dương Vương - Thục Phán thì Kinh Bắc thuộc về lãnh địa của đất Long Biên (Bộ lạc Long Biên, tức bộ lạc Rồng) trong khi đất Tây Vu (Bộ Tây Vu) thuộc bộ lạc Rùa.
Thời kỳ Hán triều (Tây Hán) diệt nước Nam Việt của dòng họ Triệu, chiếm luôn nước ta (Giao Chỉ, Âu Lạc) thì lúc này vùng Kinh Bắc thuộc huyện Long Biên, Giao Chỉ quận. 13 Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (1827 – 1910), tác giả Sử học bị khảo, cho rằng: thời Hán, thành Long Biên ở Quế Dương, Võ Giàng (nay thuộc Bắc Giang). Trong sách Đất nước Việt Nam qua các đời (1964) thì học giả Đào Duy Anh lại quan niệm rằng: thành Long Biên chính là thị xã Bắc Ninh ngày nay hoặc nằm ở phía bắc thị xã Bắc Ninh. Thế kỷ VI Lý Bý (tức Lý Bôn) khởi nghĩa và lập nên vương quốc Vạn Xuân.
Long Biên là kinh đô của vương quốc Vạn Xuân. Nhưng triều đại của họ Lý (Lý Bôn – Lý Phật Tử) tồn tại không lâu. Vào thời Tùy và Đường đất Kinh Bắc thuộc huyện Long Biên, Giao Châu. Thời kỳ Loạn 12 sứ quân, Kinh Bắc thuộc vùng kiểm soát của một sứ quân là Nguyễn Thủ Tiệp.
Thời Lý, vùng Kinh Bắc thuộc địa hạt của Bắc Giang Lộ. Thời Trần tình hình vẫn như vậy. Thời Lê Thánh Tông, đất nước được chia thành 12 Thừa Tuyên. Danh từ, danh xưng hay địa danh Kinh Bắc xuất hiện ở thời kỳ Lê Thánh Tông.
Khi Nguyễn Ánh lên làm vua (1802), chia Bắc Bộ làm 11 trấn thì Kinh Bắc là một trong số 11 trấn đó, và là một trong 5 Nội trấn. Năm 1822 vua Minh Mạng đổi trấn Kinh Bắc thành trấn Bắc Ninh. Năm 1831 ông ta lại đổi một lần nữa từ trấn Bắc Ninh thành ra tỉnh Bắc Ninh. Năm 1895 viên toàn quyền người Pháp ở Đông Dương là Arousseau ký nghị định tách tỉnh Bắc Ninh thành 2 tỉnh là: Bắc Giang và Bắc Ninh.
Sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, địa giới hành chính hai tỉnh vẫn giữ nguyên. Trong gần ba thập kỷ 1960-1990, Bắc Ninh - Bắc Giang được hợp nhất thành tỉnh Hà Bắc và đến cuối những năm 1990 thì chia lại như cũ. 14 a/Kinh Bắc thời Đông Sơn – Hùng Vương Cách đây 6000 năm thì biển còn vào tới tận Việt Trì. Cách đây 4000 năm thì biển vào tới tận nơi mà bây giờ là thị xã Sơn Tây.
Sự hình thành đồng bằng sông Hồng là một quá trình lịch sử trường kỳ. Nhưng vùng đất Kinh Bắc (Bắc Ninh - Bắc Giang) thì đã xuất hiện từ rất lâu đời, ngay từ thời Hùng Vương dựng nước. Bắc Giang là một vùng đất cổ với sự hiện diện của văn hóa Sơn Vi với niên đại cách đây khoảng từ 2 đến 3 vạn năm (20000 năm đến 30000 năm), với 14 địa điểm (14 di chỉ, di chỉ văn hóa). Thời Hùng Vương và An Dương Vương, Bắc Giang có 7 làng cổ và địa điểm khảo cổ học.
Bắc Ninh có tới 33 làng cổ và khu mộ cổ. Tại đây đã mọc lên nhiều xóm làng của tổ tiên người Việt. Cũng đã xuất hiện tại Kinh Bắc nền văn hóa trồng lúa nước và nền văn minh, nền kỹ nghệ luyện kim (màu) phát triển, nâng cao cùng các nghề thủ công và cả một nền nghệ thuật thể hiện trên trống đồng Đông Sơn của người Việt cổ. Trên trống đồng ta thấy hiện diện đầy đủ các nhạc cụ dân tộc: khèn bè, sáo, trống, sênh, chũm, chọe… Tại Luy Lâu, năm 1997 người ta phát hiện ra được mảnh khuôn đúc trống đồng.
Điều này khẳng định rõ rệt trống Đông Sơn có nguồn gốc bản địa Giao Chỉ (Bắc Bộ). Luy Lâu nói riêng và Kinh Bắc nói chung là nơi mà ngày xưa trống đồng Đông Sơn được sản xuất. Kinh Bắc vào thời Hùng Vương là bộ Vũ Ninh, một trong 15 bộ của nước Văn Lang - Lạc Việt của người Việt cổ. Hùng Vương là thủ lĩnh của bộ Văn Lang, bộ lớn nhất, quan trọng nhất về dân số, binh lực, về kinh tế và văn hóa trong tổng số 15 bộ của nước Văn Lang.
Chính vì Văn Lang là bộ quan yếu nhất mà thủ lĩnh bộ này được tập thể các thủ lĩnh bầu làm quân trưởng (nghĩa là quốc trưởng) của nước Văn Lang; nghĩa là liên minh bộ lạc của người Việt cổ. 15 Kinh Bắc là quê hương của nhiều bộ lạc cổ như bộ lạc Trâu, bộ lạc Dâu (Luy Lâu), bộ lạc Rồng (Long Biên). Còn Tây Vu trong đó có Cổ Loa thì lại là quê hương bộ lạc Rùa. Bộ lạc của thủ lĩnh Hùng Vương chính là bộ lạc Chim (M’ling – Mê Linh), nó cũng có tên Văn Lang.
Ta nhớ Lang của để chỉ khái niệm chim hay chim chóc. Từ lang trong lang sói nghĩa là chim ác. Truyền thuyết của ta có nói tới Gà trắng (Bạch Kê). Gà thì cũng chỉ là một loài chim, vốn là chim rừng (gà rừng) có nguồn gốc Đông Nam Á.
Thời trước sách giáo khoa có nói gà rừng có cội nguồn Mã Lai. Gà rừng được nuôi thành gà nhà, gia cầm, cũng như vịt, ngan, ngỗng nhà… Gia cầm thì hoặc không biết bay hoặc chỉ vỗ cánh bay được tầm ngắn. vài mét… Truyền thuyết An Dương Vương xây thành Cổ Loa có nói tới tinh trắng. Tại xã Yên Phụ, huyện Yên Phong còn có miếu Bạch Kê.
Như thế Bộ Văn Lang là Bộ Chim, nó cũng có tên gọi khác là M’linh (chim m’linh), sau này Hán ngữ phiên âm M’linh thành Mê Linh - huyện Mê Linh, quê gốc của Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị. b/Kinh Bắc thời Bắc thuộc Giai đoạn Âu - Lạc trong Việt sử chỉ diễn ra trong một thời gian nắng ngủi (-258 đến -180). Từ -258 Thục Phán – là thủ lĩnh người Âu Việt – đã chiến thắng Hùng Vương, thủ lĩnh Lạc Việt. Hai bộ phận cư dân này kết hợp làm một sức mạnh, một quốc gia, có tên Âu - Lạc.
Từ -180 nước Âu - Lạc của Thục Phán – An Dương Vương bị mất vào tay Triệu Đà - người gốc Hán ở Chân Định – làm quan cai trị nước Việt. Nước Việt này thuộc Hoa Nam, trung tâm là Quảng Đông. Triệu Đà đã bị Việt hóa, gần như quên mất tiếng nói của Trung Hoa, theo tục lệ phương Nam, thích coi gà chọi, búi tó củ hành và đặc biệt là Đà thích ngồi xổm. Khi tiếp sứ Hán là Lục Gia, Đà tự xưng là già làng của người phương Nam (Nam 16 man đại trưởng lão phu).
Rõ ràng muốn làm vua của dân phương Nam Bách Việt. Đã không có cách nào khác ngoài việc phải Việt hóa, sống theo phong cách tập tục, văn hóa Bách Việt.