Luận án tiến sĩ luật học về thủ tục phá sản các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam

Luận án tiến sĩ luật học phân tích thủ tục phá sản các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam, đánh giá quy định và thực tiễn áp dụng.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2015

204
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ 'Thủ tục phá sản tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam' tập trung vào việc phân tích và đánh giá các quy định pháp luật liên quan đến thủ tục phá sản các tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của tính đặc thù trong thủ tục phá sản TCTD, so sánh với các quy định phá sản doanh nghiệp thông thường. Luận án cũng đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật để đáp ứng nhu cầu phát triển ổn định và bền vững của hệ thống TCTD.

1.1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của tính đặc thù trong thủ tục phá sản TCTD. Nghiên cứu này hệ thống hóa và phân tích các quy định pháp luật hiện hành, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Nhiệm vụ cụ thể bao gồm: làm rõ cơ sở lý luận, so sánh kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam, và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục phá sản TCTD. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các quy định can thiệp khi TCTD có dấu hiệu mất khả năng thanh toán, không bao gồm các vấn đề giám sát và bảo đảm an toàn TCTD. Luận án cũng so sánh với kinh nghiệm của các quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, và Nga.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phá sản TCTD

Luận án phân tích các khái niệm cơ bản về phá sản và thủ tục phá sản, đặc biệt là sự khác biệt giữa phá sản TCTD và phá sản doanh nghiệp thông thường. Nghiên cứu nhấn mạnh tính đặc thù của TCTD trong nền kinh tế, với vai trò là trung tâm trung chuyển vốn và ảnh hưởng lớn đến an ninh tài chính quốc gia.

2.1. Khái niệm và đặc điểm của TCTD

TCTD là các định chế tài chính trung gian, hoạt động như doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đặc biệt. Đặc điểm của TCTD bao gồm việc nhận tiền gửi, cho vay, và cung cấp dịch vụ thanh toán. Sự mất khả năng thanh toán của TCTD có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.

2.2. Khái niệm phá sản và thủ tục phá sản TCTD

Phá sản TCTD được hiểu là quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán. Thủ tục phá sản TCTD cần có các quy định đặc thù, khác biệt so với phá sản doanh nghiệp thông thường, do tính chất đặc biệt của TCTD trong nền kinh tế.

III. Thực trạng pháp luật Việt Nam về phá sản TCTD

Luận án đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về thủ tục phá sản TCTD, chỉ ra các hạn chế và bất cập. Nghiên cứu nhấn mạnh sự thiếu đồng bộ giữa các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và nợ xấu gia tăng.

3.1. Quy định đặc thù về thủ tục phá sản TCTD

Pháp luật Việt Nam quy định các thủ tục đặc thù cho phá sản TCTD, bao gồm việc nộp đơn, thụ lý, và quản lý tài sản phá sản. Tuy nhiên, các quy định này còn thiếu chi tiết và chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.

3.2. Hạn chế và bất cập trong pháp luật hiện hành

Một số hạn chế bao gồm thiếu quy định cụ thể về thủ tục rút gọn, quản lý tài sản phá sản, và thứ tự thanh toán. Ngoài ra, việc áp dụng pháp luật còn gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm và năng lực của các cơ quan thực thi.

IV. Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất hoàn thiện pháp luật

Luận án so sánh kinh nghiệm của các quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, và Nga trong việc xử lý phá sản TCTD. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam, bao gồm việc xây dựng mô hình pháp lý phù hợp và tăng cường năng lực thực thi.

4.1. Kinh nghiệm quốc tế về phá sản TCTD

Các quốc gia như Hoa Kỳ và Anh có hệ thống pháp luật phá sản TCTD khá hoàn thiện, với các quy định rõ ràng về thủ tục phục hồi và thanh lý. Nga, với nền kinh tế chuyển đổi, cũng có nhiều bài học kinh nghiệm trong việc xử lý phá sản TCTD.

4.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Luận án đề xuất hoàn thiện mô hình pháp lý, tăng cường quy định về thủ tục rút gọn, và cải thiện năng lực của các cơ quan thực thi. Ngoài ra, cần xây dựng các quy định đặc thù để xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của TCTD một cách hiệu quả.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ luật học thủ tục phá sản các tổ chức tín dụng theo pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong điều kiện của nền kinh tế thị trƣờng, dƣới tác động của cạnh tranh, phá sản doanh nghiệp xảy ra nhƣ một hiện tƣợng tất yếu. Qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, thái độ ứng xử của công chúng lẫn Nhà nƣớc đối với hiện tƣợng phá sản các doanh nghiệp có nhiều sự khác biệt1: từ việc đứng về bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ, xem thủ tục phá sản chỉ đơn thuần là một thủ tục thanh toán nợ đặc biệt kèm với việc trừng phạt chủ doanh nghiệp bị phá sản đến việc bảo vệ quyền lợi cho nhiều chủ thể khác nhau trong vụ việc phá sản, xem phá sản nhƣ là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán và tìm những giải pháp phục hồi doanh nghiệp trƣớc khi quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Ngày nay, ngƣời ta coi phá sản nhƣ là một hiện tƣợng cần đƣợc đối xử phù hợp hơn thay vì quay lƣng với nó 2.

Trong nền kinh tế thị trƣờng, các TCTD, với tƣ cách là các định chế tài chính trung gian, hoạt động nhƣ những doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ đặc biệt. Là doanh nghiệp kinh doanh, các TCTD tất yếu cũng đối mặt với cạnh tranh, rủi ro, phá sản nhƣ bất kỳ doanh nghiệp nào khác. Tuy nhiên, những đặc thù trong ngành nghề kinh doanh tạo cho các TCTD không chỉ là các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm lợi nhuận nhƣ doanh nghiệp thông thƣờng mà hơn thế, nó còn đảm nhận những vai trò đặc biệt cho nền kinh tế. TCTD là định chế tài chính trung gian, nhận tiền gửi để cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán nên TCTD đƣợc biết đến nhƣ là những trung tâm trung chuyển vốn quan trọng bậc nhất cho nền kinh tế, thậm chí, nó đƣợc ví nhƣ những mạch máu giúp cho cơ thể - nền kinh tế vận hành một cách hiệu quả.

Một TCTD có trục trặc có thể ảnh hƣởng tiêu cực đến hoạt động bình thƣờng của từng thành tố của nền kinh tế, từ doanh nghiệp lớn, nhỏ cho đến những ngƣời dân và tổ chức khác trong xã hội. Đồng thời, sự cộng hƣởng và lan truyền từ TCTD có trục trặc này đến các TCTD khác có thể tác động đến an ninh tài chính quốc gia và toàn bộ nền kinh tế. Thực tế ở nhiều nƣớc cho thấy khi TCTD mất khả năng thanh toán, Nhà nƣớc thƣờng sử dụng các biện pháp nhằm phục hồi, tái cơ cấu, hỗ trợ tài chính để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán để ƣu tiên áp dụng trong giai đoạn tiền phá sản và vì thế thanh lý và đóng cửa TCTD, có thể là những tuyên bố công khai hay ngầm định tại nhiều nƣớc, là điều không thể hoặc rất hiếm xảy ra. 1 Tô Nguyễn Cẩm Anh (2002), Quan niệm về phá sản và luật phá sản qua các giai đoạn lịch sử, Tạp chí Tài chính số tháng 11, trang 34.

2 Jukka Kilpi (1998), The ethics of bankruptcy, Routledge, trang 9. 2 Tuy vậy, có thể trong thực tiễn hiếm có tuyên bố một TCTD phá sản nhƣ điều này không có nghĩa là TCTD mất khả năng thanh toán không bị thực hiện các thủ tục phá sản hoặc hay TCTD không bao giờ bị phá sản. Ngƣợc lại, khi một TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán thì đã đặt ra vấn đề giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán cho các TCTD đó. Tiếp cận thủ tục phá sản nhƣ là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán thì TCTD mất khả năng thanh toán đã phải bắt đầu thủ tục phá sản.

Chỉ có điều là thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán (thủ tục phá sản) đối với TCTD cần phải có cơ chế pháp lý đặc thù đƣợc xây dựng trên cơ sở tính toán đến những điểm riêng của các tổ chức kinh doanh này. Tự do hóa tài chính trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam hiện nay đã chứng kiến sự phát triển nhanh về số lƣợng, đa dạng về quy mô của các TCTD. Thị trƣờng tài chính phát triển tất yếu đặt TCTD vào môi trƣờng cạnh tranh gay gắt hơn. Đã có cạnh tranh thì sẽ có phá sản.

Các TCTD hiện đã và đang bị đặt vào môi trƣờng cạnh tranh gay gắt thì sẽ không thể tránh đƣợc việc có những TCTD sẽ đi đến mất khả năng thanh toán, phá sản. Ở Việt Nam, vấn đề phá sản từ lâu đã đƣợc đề cập trong luật pháp của các chế độ cũ trƣớc đây3. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, cạnh tranh kinh doanh không đƣợc thừa nhận do vậy không có hiện tƣợng phá sản - “kinh tế bao cấp không cần tới luật phá sản”4. Khi Việt Nam thực hiện chuyển đổi cơ chế kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng, Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 có thể đƣợc xem là văn bản pháp luật đầu tiên về phá sản đƣợc ban hành sau khi Việt Nam thực hiện chính sách “đổi mới”.

Sau hơn 10 năm thi hành, Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 đã đƣợc thay thế bằng Luật Phá sản 2004. Điều thống nhất là cả hai văn bản này đều xem TCTD là doanh nghiệp đặc biệt. Điều này cũng thể hiện đƣợc nhận thức của các nhà lập pháp là cần những quy định đặc thù khi áp dụng Luật Phá sản cho các TCTD. Vì vậy, cả hai đạo luật này đều quy định Chính phủ có thẩm quyền quy định riêng về phá sản các doanh nghiệp đặc biệt – trong đó có TCTD.

Tuy nhiên, cho đến năm 2010, một Nghị định nhƣ thế mới đƣợc ban hành – Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ngày 18/01/2010 của Chính phủ về áp dụng luật phá sản đối với các TCTD. Tuy vậy, trên thực tế chƣa có một vụ việc nào liên quan đến giải quyết phá sản TCTD theo cả hai đạo luật này. 3 Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật kinh tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, trang 701-705. 4 Phạm Duy Nghĩa (2003), Đi tìm triết lý của Luật Phá sản, Nghiên cứu Lập pháp số 11 (34), tháng 11 năm 2003, tr.

35 – 46 3 Năm 2014, Quốc hội đã thông qua một văn bản pháp luật mới thay thế cho Luật Phá sản 2004. Đặc biệt, với Luật Phá sản 2014, vấn đề phá sản TCTD đã đƣợc đƣa thành một chƣơng riêng. Mặc dù chỉ với 8 điều nhƣng các quy định của Luật Phá sản 2014 đã thể hiện quan điểm khá rõ về việc coi vấn đề phá sản các TCTD với tƣ cách là một doanh nghiệp đặc biệt cần có các quy định có tính cách đặc thù để xử lý phá sản đối với TCTD. Trong khi đó, dƣới tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, hoạt động trong hệ thống ngân hàng Việt Nam gần đây đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng.

Một loạt vấn đề mà hệ thống ngân hàng Việt Nam phải giải quyết để duy trì sự ổn định và phát triển, trong đó có vấn đề nợ xấu, đƣợc coi nhƣ “cục máu đông” làm cản trở quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình xử lý tình trạng khó khăn của các TCTD, cơ quan quản lý Nhà nƣớc không ủng hộ áp dụng phá sản đối với các TCTD yếu kém. Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” khẳng định “không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn trong hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của Nhà nƣớc”. Trong phiên trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội chiều 21/8/2012 về vấn đề kiểm soát rủi ro, xử lý nợ xấu hiệu quả… Thống đốc NHNN Việt Nam, một lần nữa nhắc lại chủ trƣơng của Chính phủ là “không để ngân hàng nào bị phá sản trong giai đoạn này”.

Việc Chính phủ Việt Nam có chính sách nhƣ vừa trình bày ở trên liệu có đi ngƣợc lại với quy luật thị trƣờng? Không để xảy ra phá sản ngân hàng thì phải có cơ chế giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của các TCTD nhƣ thế nào để hạn chế những tác động tiêu cực đến doanh nghiệp, ngƣời dân, hệ thống tài chính và nền kinh tế. Đó là bối cảnh chính sách và pháp luật đã thúc đẩy tác giả lựa chọn đề tài “Thủ tục phá sản các TCTD theo pháp luật Việt Nam” để thực thực hiện đề tài Luận án tiến sĩ luật học. Từ bối cảnh nghiên cứu đó, Luận án tiến sĩ này của tác giả đƣợc thực hiện để trả lời những câu hỏi chính dƣới đây: 1. Các TCTD có những đặc điểm gì đặc biệt so với các doanh nghiệp kinh doanh thƣơng mại thông thƣờng? Phải chăng các điểm đặc biệt trong tổ chức và hoạt động của các TCTD đã làm cho việc phá sản TCTD là không thể thực hiện theo cách thức giải quyết phá sản các doanh nghiệp thông thƣờng? 2.

Ở các nƣớc khác, việc giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các TCTD đƣợc thực hiện nhƣ thế nào? Những điểm giống nhau và những khác biệt trong xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán các TCTD ở các nƣớc là gì? Nếu có 4 sự khác biệt thì những hệ thống pháp luật khác nhau đó dựa trên những cơ sở lý luận gì để xây dựng các quy định về xử lý phá sản TCTD? 3. Pháp luật về giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các TCTD ở Việt Nam hiện nhƣ thế nào, có hạn chế, bất cập gì? đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển ổn định, lành mạnh và bền vững của hệ thống các TCTD? Cần có những thay đổi gì để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế ở Việt Nam? Sự thay đổi đó dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nào? 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích của Luận án là làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của tính đặc thù về thủ tục phá sản áp dụng đối với TCTD; hệ thống hóa và phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục phá sản đối với các TCTD; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản các TCTD ở Việt Nam.

Luận án sẽ nghiên cứu các lý thuyết pháp luật áp dụng để xác định điều kiện TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng thanh thanh toán, các thủ tục đặc thù và các biện pháp can thiệp đặc biệt để xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các TCTD.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Thủ tục phá sản tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và các quy định pháp lý liên quan đến việc phá sản các tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các bước cần thiết trong thủ tục phá sản mà còn nêu rõ những khó khăn và thách thức mà các tổ chức tín dụng có thể gặp phải trong quá trình này. Đặc biệt, luận án còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện quy trình phá sản, từ đó giúp các tổ chức tín dụng hoạt động hiệu quả hơn và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực tài chính ngân hàng, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn tốt nghiệp một số vấn đề cơ bản về vốn và kế toán huy động vốn tại chi nhánh nhnn ptnn quận tây hồ, nơi cung cấp thông tin về quản lý vốn trong các tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ của agribank chi nhánh thành phố vinh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chất lượng tín dụng trong bối cảnh hiện nay. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nâng cao chất lượng tín dụng đối với ngành công nghiệp hỗ trợ tại các ngân hàng thương mại việt nam cũng là một tài liệu hữu ích để tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trong ngành ngân hàng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề tài chính ngân hàng tại Việt Nam.