Tổng quan luận án

Công trình luận án tiến sĩ với đề tài "Thiết lập cấu trúc quy hoạch Hành lang xanh thành phố Hà Nội" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Tuyên thực hiện tại Trường Đại học Xây dựng dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Hùng Cường, thuộc chuyên ngành Quy hoạch Vùng và Đô thị (mã số: 62.05), bảo vệ năm 2018.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tiễn phát triển của Thủ đô Hà Nội — trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước với quy mô dân số trên 7,5 triệu người. Quá trình đô thị hóa nhanh cùng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng. Hà Nội là đô thị đầu tiên tại Việt Nam áp dụng mô hình hành lang xanh (HLX) trong đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26 tháng 07 năm 2011). Tuy nhiên, giải pháp HLX trong đồ án năm 2011 mới dừng lại ở mức độ đề xuất có tính thực hành, chưa được chứng minh đầy đủ về mặt khoa học và thực tiễn.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là tại Việt Nam, các khái niệm về không gian xanh (KGX), HLX và cấu trúc quy hoạch hành lang xanh (CTQH HLX) chưa được nhận thức đầy đủ và thiếu hệ thống cơ sở khoa học để thiết lập. Trong khu vực dự kiến hình thành HLX theo đồ án năm 2011 (chiếm gần 70% diện tích tự nhiên của Thủ đô), thực tế đang tồn tại dày đặc các dự án bất động sản, hệ thống làng xã mật độ cao, các cơ sở sản xuất công nghiệp và làng nghề. Sự phát triển đô thị tự phát lan tỏa dọc theo các trục giao thông hướng tâm đang làm suy giảm các hệ sinh thái tự nhiên và thu hẹp diện tích cây xanh, mặt nước. Các đồ án quy hoạch chuyên ngành (như quy hoạch phân lũ sông Đáy, quy hoạch xây dựng vùng huyện, quy hoạch phân khu GS, GN, GNA, quy hoạch nông thôn mới) chỉ giải quyết các vấn đề mang tính cục bộ ngành, chưa có nghiên cứu tổng thể, hệ thống và bền vững về CTQH HLX cho thành phố Hà Nội.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp thiết lập CTQH HLX thành phố Hà Nội phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa, kinh tế - xã hội của Thành phố, đảm bảo phát triển đô thị theo hướng bền vững.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Tổng quan lý luận và thực tiễn thiết lập CTQH HLX trên thế giới và Việt Nam;
    2. Hình thành các cơ sở khoa học để thiết lập CTQH HLX thành phố Hà Nội;
    3. Đề xuất giải pháp thiết lập CTQH HLX thành phố Hà Nội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc quy hoạch hành lang xanh (CTQH HLX) thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ ranh giới hành chính thành phố Hà Nội, trong đó trọng tâm nghiên cứu tập trung vào khu vực ngoại thành.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn phát triển của thành phố Hà Nội từ thời điểm nghiên cứu đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến cấu trúc đô thị (CTĐT) gắn với khung tự nhiên, cấu trúc quy hoạch không gian xanh và hành lang xanh.

Về nguồn gốc và sự phát triển của các khái niệm:

  • Khái niệm HLX khởi nguồn từ đồ án hệ thống công viên Emerald Necklace của Frederick Law Olmsted thiết kế cho thành phố Boston (Mỹ). HLX được hiểu là các dải không gian mở, công viên cây xanh, đất nông nghiệp hoặc vùng tự nhiên đan xen bên trong hoặc bao bọc bên ngoài đô thị nhằm bảo tồn môi trường và cảnh quan.
  • Khái niệm Vành đai xanh (VĐX - Greenbelt) được khởi xướng bởi Ebenezer Howard (1898) với mô hình Thành phố vườn nhằm giới hạn sự mở rộng đô thị, bảo tồn nông nghiệp và lâm nghiệp. Sau đó, Benton MacKaye (2006) tiếp tục phát triển VĐX như công cụ ngăn chặn sự lan tỏa đô thị tự phát.
  • Khái niệm Tuyến xanh (Greenway) được Hellmund & Smith (1993, 2006) định nghĩa là các dải cảnh quan tuyến tính liên kết các yếu tố tự nhiên (sông ngòi) và nhân tạo (đường giao thông, kênh mương, đường sắt) để duy trì tính liên tục của hệ sinh thái và khôi phục tính toàn vẹn cảnh quan.
  • Khái niệm Nêm xanh (Green wedge) được Bộ Cộng đồng và Chính quyền địa phương Anh (Department for Communities and Local Government, 2001) và Ståhle A. nghiên cứu như giải pháp linh hoạt thay thế VĐX, phân tách các cụm đô thị dọc theo các trục giao thông hướng tâm và tăng cường kết nối đô thị - nông thôn.
  • Khái niệm KGX đô thị được Thompson (2002) và Shafer (1999) phân tích dưới góc độ hệ sinh thái tổng hợp gồm 16 loại hình, trong đó VĐX, tuyến xanh và công viên đô thị giữ vai trò chủ đạo.

Về các công trình nghiên cứu cấu trúc quy hoạch đô thị gắn với khung thiên nhiên:

  • Nghiên cứu cơ cấu đô thị gắn với sinh thái cảnh quan và sinh thái học đô thị.
  • Các nghiên cứu thực tiễn thiết lập HLX, VĐX tại các vùng đô thị lớn trên thế giới: Luân Đôn (Anh) với chính sách Vành đai xanh năm 1935, 1955 và Hướng dẫn chính sách công số 2 (PPG2); Bắc Kinh (Trung Quốc) với mô hình hai lớp VĐX trong các quy hoạch năm 1958, 1983, 2003; Seoul (Hàn Quốc) với chính sách VĐX năm 1971, 1976 theo Luật Quy hoạch Thủ đô (TPA); Tokyo (Nhật Bản) với sự chuyển đổi từ VĐX (quy hoạch 1958) sang Khu vực kiểm soát đô thị hóa (1968) và mạng lưới điểm xanh công viên (1977).
  • Các nghiên cứu quy hoạch KGX và HLX tại các đô thị Việt Nam: Hải Phòng (quy hoạch chung năm 2001, 2010), Đà Nẵng (quy hoạch chung năm 2002, 2013), Thành phố Hồ Chí Minh (quy hoạch chung năm 1993, 1998, 2010).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Làm rõ sự phân định khoa học giữa các khái niệm KGX, HLX, VĐX, nêm xanh; khắc phục tính cơ học, thiếu khả thi của mô hình HLX chiếm gần 70% diện tích tự nhiên trong đồ án Quy hoạch chung Hà Nội 2011; xây dựng phương pháp luận và các tiêu chí định lượng (diện tích quy đổi, trọng số mật độ xanh) để thiết lập một cấu trúc HLX hoàn chỉnh, liên kết đa chức năng và phù hợp với thực trạng đô thị hóa tại Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích của luận án dựa trên sự tích hợp của các trào lưu và học thuyết quy hoạch:

  • Tiến trình phát triển lý thuyết cơ cấu đô thị từ Chủ nghĩa công năng đến Tư tưởng phát triển bền vững.
  • Lý thuyết Thành phố vườn (Ebenezer Howard).
  • Lý thuyết Sinh thái học đô thị và Sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology).
  • Khung khái niệm về cấu trúc quy hoạch (Structure Planning) và cấu trúc không gian đô thị (Urban space structure).
  • Khung pháp lý và quy chuẩn: Luật Quy hoạch đô thị, Luật Xây dựng, Luật Di sản văn hóa, các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, đồ án Điều chỉnh Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội và các đồ án Quy hoạch chung Hà Nội qua các thời kỳ.

Luận án định nghĩa: "HLX là hệ thống hành lang KGX đan xen bên trong và bao bọc bên ngoài đô thị trung tâm, bao gồm nhiều chức năng như rừng tự nhiên, khu vực du lịch - vui chơi giải trí, nông nghiệp, làng xã mật độ thấp... được tạo lập từ con sông, hồ và diện tích điền trũng, nhằm tạo lập môi trường thiên nhiên tốt cho đô thị, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển bền vững du lịch, nông nghiệp và làng xã."

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp, chuẩn đoán: Hệ thống hóa lý luận, văn bản pháp quy, các công trình nghiên cứu đã công bố để chẩn đoán các mô hình phát triển.
  • Phương pháp quan sát và khảo sát thực tiễn: Khảo sát thực địa theo điểm và tuyến điển hình:
    • Khảo sát theo 3 điểm đặc thù: Khu vực nội đô phát triển đô thị (phường Cổ Nhuế, Thụy Phương, Tây Tựu thuộc quận Bắc Từ Liêm); khu vực ven đô (phường Đồng Mai, quận Hà Đông); khu vực ngoại thành.
    • Khảo sát theo tuyến: Tuyến hướng tâm từ trung tâm ra ngoại thành (dọc Quốc lộ 32, tuyến sông Nhuệ) và tuyến bao quanh không gian đô thị trung tâm (dọc hành lang sông Đáy).
  • Phương pháp tiếp cận hệ thống: Phân tích các mối tương tác đa chiều giữa yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa và hạ tầng kỹ thuật tác động đến cấu trúc HLX.
  • Phương pháp đối chiếu so sánh: So sánh đối chiếu kinh nghiệm quy hoạch HLX của Hà Nội với 4 đô thị quốc tế (Luân Đôn, Bắc Kinh, Seoul, Tokyo) và 3 đô thị trong nước (Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM).
  • Phương pháp chồng lớp bản đồ (GIS): Sử dụng phần mềm ArcGIS 10 để tích hợp các lớp dữ liệu không gian (địa hình, thủy văn sông hồ, rừng núi, công viên, đất nông nghiệp) và phi không gian (di sản văn hóa, làng nghề, điểm dân cư, khu công nghiệp) nhằm xác định khung hình thái cấu trúc tự nhiên và mật độ điểm xanh.
  • Phương pháp dự báo và kịch bản: Xây dựng các kịch bản phát triển cấu trúc HLX tương ứng với 3 khu vực: đô thị trung tâm, ven đô và ngoại thành.
  • Phương pháp thực nghiệm, kiểm chứng: Áp dụng đề xuất giải pháp quy hoạch cụ thể tại khu vực hành lang sông Đáy để đánh giá tính khả thi.

Nguồn tư liệu, dữ liệu phục vụ nghiên cứu: Số liệu từ đồ án Quy hoạch chung Hà Nội 2011 (Quyết định 1259/QĐ-TTg); dữ liệu quan trắc môi trường không khí và mặt nước; số liệu ngập lụt trận mưa lịch sử năm 2008 (gần 900 mm); dữ liệu kiểm kê di tích lịch sử dọc sông Đáy (21 chùa, 12 nhà thờ đã xếp hạng); dữ liệu điều tra thực trạng biến đổi thảm thực vật (đoạn sông Tô Lịch - đường Láng).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1 - Tổng quan thiết lập cấu trúc quy hoạch hành lang xanh đô thị trên thế giới và Việt Nam

Chương 1 tập trung phân tích thực tiễn thiết lập HLX tại các đô thị quốc tế, các đô thị tại Việt Nam và lịch sử quy hoạch KGX của Thủ đô Hà Nội.

Tại các đô thị trên thế giới:

  • Luân Đôn (Anh): VĐX hình thành từ năm 1935 và 1955, được quản lý qua Hướng dẫn chính sách công 2 (PPG2). Quy mô HLX đạt 4.860 km2 (chiếm 76,5% diện tích tự nhiên), cấu trúc VĐX bao bọc toàn bộ ngoại thành, thành phần chủ đạo là đất nông nghiệp, đất rừng và mặt nước.
  • Bắc Kinh (Trung Quốc): Đề xuất từ năm 1958, hoàn thiện năm 1983 và 2003. Cấu trúc gồm 2 lớp VĐX: VĐX 1 nằm giữa đường vành đai 4 và vành đai 5 (diện tích 140 km2), VĐX 2 nằm giữa đường vành đai 5 và vành đai 6 (diện tích 1.620 km2, chiều rộng 0,5 - 1 km); tổng diện tích 1.760 km2 (chiếm 10,4% diện tích tự nhiên). Quản lý thông qua các Pháp lệnh trồng cây xanh bắt buộc.
  • Seoul (Hàn Quốc): Thiết lập năm 1971, mở rộng qua 4 giai đoạn đến năm 1976 với tổng diện tích 1.566,8 km2 (chiếm 27,5% diện tích tự nhiên), bán kính xa nhất cách trung tâm 40 km. Quản lý nghiêm ngặt theo Luật Quy hoạch Thủ đô (TPA) do Tổng thống chỉ đạo trực tiếp. Dân số trong HLX chỉ chiếm 1,66%. Đến năm 2002, chính quyền đã phải điều chỉnh loại bỏ 123,86 km2 do áp lực đô thị.
  • Tokyo (Nhật Bản): Năm 1958 đề xuất VĐX rộng 13.730 ha (137,3 km2), 40 công viên lớn (1.695 ha) và 591 công viên nhỏ (674 ha). Do mâu thuẫn lợi ích đất đai và thiếu chính sách kiểm soát, năm 1968 Tokyo chuyển sang mô hình "Khu vực kiểm soát đô thị hóa", và từ năm 1977 chuyển đổi thành cấu trúc mạng xanh gồm các điểm xanh công viên phân tán.
Đô thị Vị trí HLX Diện tích (km2) Tỉ lệ so với diện tích tự nhiên (%) Loại hình cấu trúc Thành phần chức năng chủ đạo Cơ chế quản lý
Luân Đôn Bao bọc toàn bộ vùng ngoại thành 4.860 76,5% VĐX toàn bộ vùng ngoại thành Nông nghiệp, rừng, mặt nước, công viên Hướng dẫn chính sách công 2 (PPG2)
Bắc Kinh VĐX 1 (giữa VĐ 4-5); VĐX 2 (giữa VĐ 5-6) 1.760 10,4% VĐX hai lớp Rừng, công viên, nông nghiệp, trang trại Pháp lệnh phát triển cây xanh
Seoul Không gian mở bao bọc ngoài đô thị lõi 1.566,8 27,5% VĐX một lớp Rừng, đồi núi, sông hồ, nông nghiệp Luật Quy hoạch Thủ đô (TPA), chính sách quốc gia
Tokyo Điểm xanh và công viên đan xen đô thị 137,3 6,3% Chuyển từ VĐX sang Mạng xanh Công viên đô thị, rừng, đất nông nghiệp, mặt nước Quy hoạch công viên và KGX đô thị

Tại các đô thị ở Việt Nam:

  • Hải Phòng: Quy hoạch chung 2001 và điều chỉnh 2010 đề xuất HLX dọc sông Tam Bạc, Lạch Tray, sông Cấm, Bạch Đằng, sông Giá (phía Bắc) và sông Đa Độ (phía Nam với chiều rộng 1 - 5 km). Quy mô đạt 345 km2 (chiếm 22,6% diện tích tự nhiên). Cấu trúc kết hợp VĐX ngoại thành phía Bắc và VĐX một lớp phía Nam.
  • Đà Nẵng: Quy hoạch 2013 xác định hệ thống KGX dọc sông Hàn, vùng đệm sinh thái Bà Nà, Sơn Trà, Non Nước, Phước Tường với diện tích 1.750 ha (chiếm 1,3% diện tích tự nhiên), cấu trúc dạng tuyến.
  • Thành phố Hồ Chí Minh: Quy hoạch 2010 - 2025 đề xuất HLX ven sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Nhà Bè (7.000 ha, chiều rộng 50 - 800 m); 3 tuyến vành đai sinh thái (rộng 2 - 5 km); khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ (75.000 ha), rừng Bình Chánh (1.500 ha), Củ Chi (2.250 ha); tổng diện tích 857,5 km2 (chiếm 40,9% diện tích tự nhiên).
Đô thị Vị trí HLX Diện tích (km2) Tỉ lệ so với diện tích tự nhiên (%) Loại hình cấu trúc Thành phần chức năng chính
Hải Phòng Phía Bắc: sông Cấm, Bạch Đằng, Giá; Phía Nam: sông Đa Độ 345 22,6% VĐX ngoại thành (Bắc) và VĐX một lớp (Nam) Rừng núi, sông hồ, dân cư nông thôn, nông nghiệp
Đà Nẵng Hành lang sông Hàn, ven biển, rừng Sơn Trà, Bà Nà 17,5 (1.750 ha) 1,3% Dạng tuyến bám trục đường chính, sông và ven biển Cây xanh cách ly, cây xanh đường phố, cây xanh sinh thái
TP. Hồ Chí Minh Ven sông Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè; Rừng Cần Giờ, Củ Chi, Bình Chánh 857,5 (85.750 ha) 40,9% Dạng tuyến (nội đô) kết hợp VĐX sinh thái ngoại thành Mặt nước cảnh quan, du lịch, nông nghiệp, rừng ngập mặn

Hệ thống KGX, HLX thành phố Hà Nội:

  • Lịch sử quy hoạch KGX Hà Nội qua các thời kỳ: Năm 1961 (HLX phía Tây Nam nối Hồ Tây với ngoại thành); Năm 1974 (VĐX ngoại thành cung cấp thực phẩm và bảo vệ môi trường); Năm 1981 (hệ thống công viên hồ lớn); Năm 1992 (cấu trúc nêm xanh kết hợp điểm xanh); Năm 1998 (VĐX ven đô rộng 1 - 4 km); Năm 2011 (Quyết định 1259/QĐ-TTg phân chia 4 thành phần: HLX sông Đáy - sông Tích - Ba Vì - Hương Tích - Đền Sóc; VĐX sông Nhuệ; Nêm xanh; Công viên chuyên đề).
  • Thực trạng môi trường và cây xanh Hà Nội: Nồng độ bụi lơ lửng nội thành vượt tiêu chuẩn cho phép từ 5 - 6 lần, có nơi trên 10 lần. Nước của 4 con sông thoát nước nội thành và các hồ nội thành bị ô nhiễm nghiêm trọng. Trận ngập lụt năm 2008 có lượng mưa kỷ lục gần 900 mm gây ngập úng diện rộng. Tỉ lệ cây xanh bình quân nội thành chỉ đạt 2,4 m2/người (độ che phủ đạt 12%), thấp hơn nhiều so với Paris (10 m2/người) hay Moskva (40 m2/người). Mật độ cây xanh đoạn sông Tô Lịch - đường Láng (từ Cống Vị đến Ngã Tư Sở) suy giảm từ 33% (năm 2000) xuống còn 5% (năm 2015).
  • Khảo sát thực địa trong phạm vi HLX Hà Nội: Tuyến sông Nhuệ (tuyến 1) bị ô nhiễm nước nặng; tuyến sông Đáy (tuyến 3) có 14 đoạn bị ngăn chặn dòng chảy, mặt nước đoạn qua phường Đồng Mai (điểm 2) ô nhiễm nghiêm trọng. Toàn tuyến sông Đáy có 21 ngôi chùa và 12 nhà thờ đã xếp hạng di tích, có 1 cụm du lịch lớn, 14 khu du lịch và 3 điểm du lịch (như hồ Quan Sơn, Hương Sơn, Ba Vì, Đền Sóc). Khu vực Cổ Nhuế, Thụy Phương, Tây Tựu (điểm 1) tập trung nhiều cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và vườn ươm. Dân cư nông thôn dọc Quốc lộ 32 (tuyến 1) phát triển dày đặc bám theo trục giao thông.
  • Những bất cập của HLX trong Quy hoạch chung Hà Nội 2011: Khái niệm còn lẫn lộn giữa KGX, HLX, VĐX, nêm xanh; quy mô chiếm gần 70% diện tích tự nhiên là quá rộng và thiếu khả thi; cấu trúc VĐX mang tính áp đặt cơ học; tồn tại nhiều dự án bất động sản, làng nghề, cụm công nghiệp (chức năng xám); hạ tầng kỹ thuật xanh chưa hình thành liên kết đồng bộ; thiếu quy chế quản lý khả thi.

Chương 2 - Các cơ sở khoa học thiết lập cấu trúc quy hoạch thành phố Hà Nội

Chương 2 thiết lập hệ thống luận cứ khoa học để định hình cấu trúc HLX Hà Nội:

  • Cơ sở lý thuyết: Vận dụng lý thuyết Sinh thái học đô thị và Sinh thái học cảnh quan, xác định các mảng sinh thái (patches), hành lang sinh thái (corridors) và nền cảnh quan (matrix) để xây dựng bộ khung tự nhiên cân bằng sinh thái.
  • Khung quy hoạch và hiện trạng phát triển đô thị Hà Nội:
    • Khung tự nhiên: Địa hình dốc từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông; hệ thống núi Ba Vì, Hương Tích, Sóc Sơn; hệ thống sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích, sông Cà Lồ; các khu vực thoát lũ sông Đáy và sông Tích.
    • Đánh giá các dạng phát triển lan tỏa đô thị: Phân tích sự bành trướng không gian đô thị theo các trục giao thông hướng tâm chính (Quốc lộ 32, Đại lộ Thăng Long, Quốc lộ 6, Quốc lộ 1A) và sự phân bố của các dự án bất động sản vùng ven đô.
    • Nhận diện các chức năng cần kiểm soát: Các điểm dân cư nông thôn chuyển đổi nhanh, làng nghề gây ô nhiễm, các khu cụm công nghiệp phân tán và các dự án đô thị hóa tự phát.
  • Phương pháp luận thiết lập CTQH HLX: Luận án xây dựng phương pháp luận tích hợp thông qua việc lồng ghép 4 nhóm hành động thiết lập cấu trúc:
    1. Bảo vệ và khôi phục khung thiên nhiên (rừng núi, lưu vực sông, hồ điều hòa);
    2. Kiểm soát ngưỡng phát triển đô thị và nén không gian xây dựng;
    3. Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống và làng nghề;
    4. Phát triển kinh tế sinh thái (nông nghiệp công nghệ cao, du lịch sinh thái - văn hóa).
  • Ứng dụng công nghệ GIS (ArcGIS 10): Phân tích mật độ điểm xanh, đánh giá khả năng lưu trữ carbon của thảm thực vật theo các sinh cảnh và mô phỏng giảm thiểu hiệu ứng đảo nhiệt đô thị (Urban Heat Island - UHI).
  • Bài học kinh nghiệm quốc tế rút ra cho Hà Nội: Cần chính sách quốc gia đủ mạnh (bài học Seoul); phải có giải pháp kiểm soát chức năng cụ thể thay vì chỉ khoanh vùng trên bản đồ (bài học Tokyo); cần cơ chế điều chỉnh linh hoạt để giải quyết mâu thuẫn sử dụng đất (bài học Bắc Kinh); xác lập thể chế quản lý chặt chẽ gắn liền với quy hoạch vùng (bài học Luân Đôn).

Chương 3 - Đề xuất giải pháp thiết lập cấu trúc quy hoạch hành lang xanh thành phố Hà Nội, kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm điều chỉnh và hoàn thiện CTQH HLX Thủ đô Hà Nội đến năm 2030:

Quan điểm và mục tiêu phát triển:

  • Xác định HLX là bộ khung sinh thái bảo vệ môi trường đô thị, phân tách không gian giữa đô thị trung tâm với chuỗi đô thị vệ tinh (Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên, Sóc Sơn).
  • Chuyển đổi tư duy từ "ngăn cấm thụ động" sang "kiểm soát phát triển chủ động", tích hợp hài hòa giữa bảo tồn cảnh quan tự nhiên, bảo tồn di sản văn hóa với phát triển kinh tế nông nghiệp và du lịch.

Khái niệm diện tích HLX quy đổi và trọng số chức năng xanh:

  • Luận án đưa ra công thức và bảng trọng số mật độ xanh cho từng loại hình sử dụng đất trong HLX (đất rừng tự nhiên, mặt nước sông hồ, đất nông nghiệp sinh thái, đất du lịch công viên, đất làng xóm mật độ thấp, đất công trình hạ tầng).
  • Tính toán diện tích xanh quy đổi nhằm bảo đảm diện tích xanh thực chất thay vì tính toán cơ học theo ranh giới hành chính.

Mô hình CTQH HLX thành phố Hà Nội:

  • Luận án đề xuất mô hình cấu trúc phân cấp theo 3 khu vực không gian:
    1. Khu vực đô thị trung tâm: HLX dạng dải tuyến tính bám theo hệ thống sông hồ nội đô (sông Tô Lịch, sông Nhuệ) kết hợp hệ thống công viên và quảng trường;
    2. Khu vực ven đô: HLX dạng nêm xanh và vùng đệm phân tách đô thị trung tâm với chuỗi đô thị vành đai 4;
    3. Khu vực ngoại thành: HLX dạng dải hành lang sinh thái quy mô lớn gắn với lưu vực sông Đáy, sông Tích và hệ thống rừng núi Ba Vì, Hương Sơn, Sóc Sơn.

Phát triển hệ thống Hạ tầng kỹ thuật xanh:

  • Thiết lập 3 mạng lưới liên kết chủ đạo:
    • Mạng liên kết môi trường, không gian cảnh quan: Kết nối các mảng rừng tự nhiên, hành lang thoát lũ sông Đáy - sông Tích và hệ thống hồ đầm thành chuỗi sinh thái liên tục.
    • Mạng liên kết di sản văn hóa: Chuỗi kết nối các di tích lịch sử ven sông Đáy, sông Nhuệ, cụm di tích Đền Sóc, Hương Sơn, chùa Thầy, chùa Tây Phương.
    • Mạng liên kết kinh tế sinh thái: Phát triển các tuyến du lịch đường thủy, du lịch làng nghề truyền thống và các vùng nông nghiệp công nghệ cao.

Phân vùng kiểm soát và thể chế quản lý:

  • Phân chia HLX thành các phân vùng kiểm soát phát triển: Vùng bảo tồn nghiêm ngặt (rừng đặc dụng, hành lang bảo vệ nguồn nước, lòng thoát lũ); Vùng hạn chế phát triển (khu vực nông nghiệp năng suất cao, làng xóm hiện hữu); Vùng phát triển có kiểm soát (khu du lịch sinh thái, cơ sở đào tạo - nghiên cứu).
  • Đề xuất Khung quy chế quản lý quy hoạch HLX quy định cụ thể về mật độ xây dựng gộp tối đa, tầng cao công trình và tỉ lệ đất cây xanh mặt nước cho từng phân vùng.

Thực nghiệm điều chỉnh quy hoạch và ứng dụng tại hành lang sông Đáy:

  • Đề xuất điều chỉnh CTQH HLX trong đồ án Quy hoạch chung Hà Nội (Quyết định 1259/QĐ-TTg): Thay thế hình thái VĐX bao bọc khép kín bằng cấu trúc hành lang mở linh hoạt, cắt giảm diện tích khoanh vùng danh nghĩa gần 70% xuống quy mô thực chất dựa trên diện tích xanh quy đổi.
  • Thiết kế thực nghiệm cho hành lang sông Đáy: Khơi thông 14 đoạn tắc nghẽn dòng chảy để phục hồi chức năng thoát lũ và cải thiện chất lượng nước sinh thái; kết nối không gian cảnh quan cho 21 ngôi chùa và 12 nhà thờ xếp hạng; tổ chức không gian cụm du lịch hồ Quan Sơn - Hương Sơn.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới của luận án được tác giả tự xác định bao gồm 3 nội dung cốt lõi:

  1. Nhận diện được các thách thức về sự phát triển không bền vững của thành phố Hà Nội trước mắt và tương lai, từ đó chứng minh chiến lược "Thiết lập CTQH HLX" là cần thiết và là giải pháp quan trọng đảm bảo đô thị phát triển bền vững.
  2. Nghiên cứu hình thành cơ sở khoa học và phương pháp luận thiết lập CTQH HLX cho các thành phố lớn của Việt Nam nói chung và cho thành phố Hà Nội nói riêng.
  3. Hình thành quan điểm, mục tiêu, các nguyên tắc và giải pháp thiết lập CTQH HLX thành phố Hà Nội đến năm 2030, từ đó điều chỉnh lại HLX đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26 tháng 07 năm 2011.

Về mặt giải pháp và kiến nghị thực tiễn:

  • Đề xuất mô hình cấu trúc HLX tích hợp 3 cấp độ không gian (nội đô, ven đô, ngoại thành) kết hợp hệ thống hạ tầng kỹ thuật xanh đa liên kết.
  • Kiến nghị phương pháp tính toán diện tích HLX quy đổi dựa trên trọng số xanh nhằm thay thế phương pháp tính toán diện tích xanh thuần túy theo quy mô dân số.
  • Đề xuất khung pháp lý và quy chế quản lý kiểm soát phát triển HLX phân vùng theo chức năng sinh thái, làm cơ sở để các cơ quan quản lý điều chỉnh các đồ án quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế và phạm vi mở rộng của nghiên cứu:

  • Luận án tập trung nghiên cứu trên phạm vi địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội với mốc thời gian đến năm 2030, trọng tâm thực nghiệm tại khu vực ngoại thành và dải không gian sông Đáy; chưa đi sâu vào việc giải quyết chi tiết thiết kế đô thị cho toàn bộ các tiểu phân khu trong chuỗi đô thị vệ tinh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng kiểm chứng mô hình cấu trúc HLX trên các lưu vực sông khác của Hà Nội (như sông Tích, sông Nhuệ, sông Cà Lồ) và mở rộng phạm vi kết nối khung sinh thái xanh trên toàn Vùng Thủ đô Hà Nội với các tỉnh lân cận (Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên thuộc các chuyên ngành Quy hoạch Vùng và Đô thị, Quản lý Đô thị, Kiến trúc Cảnh quan, Địa lý Đô thị và Môi trường Đô thị. Phần phương pháp luận thiết lập cấu trúc và bảng trọng số diện tích xanh quy đổi là tài liệu có giá trị học thuật cao.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước và viện nghiên cứu quy hoạch (Bộ Xây dựng, Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội, Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Quốc gia, Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội) trong việc rà soát, điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội và xây dựng quy chế quản lý không gian kiến trúc cảnh quan.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm Hành lang xanh (HLX) trong luận án được định nghĩa như thế nào và có mối quan hệ gì với Vành đai xanh (VĐX)? Trong luận án, HLX là hệ thống hành lang không gian xanh đan xen bên trong và bao bọc bên ngoài đô thị trung tâm, bao gồm rừng tự nhiên, khu du lịch, đất nông nghiệp, làng xã mật độ thấp... được tạo lập từ sông, hồ, vùng trũng nhằm tạo lập môi trường sống, bảo tồn di sản và phát triển bền vững. HLX được xác định là khái niệm bao trùm rộng nhất; còn VĐX là một biến thể hình thái cấu trúc của HLX có dạng vành đai khép kín bao bọc đô thị nhằm ngăn chặn sự mở rộng đô thị lan tỏa.

2. Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội năm 2011 (Quyết định 1259/QĐ-TTg) bộc lộ những bất cập gì về HLX mà luận án chỉ ra? Đồ án năm 2011 còn lẫn lộn giữa các khái niệm KGX, HLX, VĐX, nêm xanh; xác định diện tích HLX quá lớn (chiếm gần 70% diện tích tự nhiên của Thủ đô), thiếu tính khả thi; áp dụng cấu trúc VĐX mang tính cơ học, chưa tính đến sự tồn tại của các chức năng xám dày đặc (dự án bất động sản, làng nghề, làng xóm mật độ cao, cụm công nghiệp); hạ tầng kỹ thuật xanh chưa hình thành chuỗi liên kết và việc phân vùng quản lý chưa gắn với mục tiêu phát triển cụ thể.

3. Mật độ cây xanh và thực trạng ô nhiễm môi trường tại Hà Nội được văn bản ghi nhận qua những số liệu nào? Văn bản nêu rõ: Tỉ lệ cây xanh trung bình nội thành Hà Nội chỉ đạt 2,4 m2/người (mật độ che phủ cây xanh nội thị đạt 12%), thấp hơn nhiều so với Paris (10 m2/người) và Moskva (40 m2/người). Nồng độ bụi lơ lửng vượt chuẩn 5 - 6 lần, có nơi trên 10 lần. Nước của 4 con sông thoát nước nội thành ô nhiễm nặng. Đoạn sông Tô Lịch - đường Láng (từ Cống Vị đến Ngã Tư Sở) có mật độ bao phủ cây xanh giảm từ 33% (năm 2000) xuống còn 5% (năm 2015). Trận lụt năm 2008 có lượng mưa lịch sử gần 900 mm.

4. Bài học kinh nghiệm quốc tế nào được rút ra từ 4 đô thị Luân Đôn, Bắc Kinh, Seoul và Tokyo? Luận án chỉ ra: Luân Đôn cho thấy việc duy trì diện tích VĐX rộng lớn (76,5% diện tích) rất phức tạp và cần chính sách quốc gia chặt chẽ (PPG2); Seoul cho thấy cần chính sách pháp lý nghiêm ngặt (Luật TPA) để giữ tỷ lệ dân số trong HLX ở mức thấp (1,66%); Bắc Kinh cho thấy sự cần thiết của các pháp lệnh trồng cây và việc bổ sung linh hoạt các chức năng kinh tế sinh thái trong VĐX 2; Tokyo cho thấy nếu chỉ khoanh vùng mà không có giải pháp kiểm soát chức năng và xử lý mâu thuẫn lợi ích đất đai thì cấu trúc VĐX sẽ bị phá vỡ và buộc phải chuyển đổi sang dạng mạng xanh điểm phân tán.

5. Luận án đã lựa chọn địa bàn nào để thực nghiệm kiểm chứng giải pháp quy hoạch? Luận án lựa chọn hành lang sông Đáy để thực nghiệm kiểm chứng giải pháp: đề xuất khơi thông 14 đoạn sông bị chia cắt, khôi phục dòng chảy thoát lũ kết hợp cải tạo môi trường nước; bảo tồn và kết nối không gian cảnh quan cho 21 ngôi chùa và 12 nhà thờ đã xếp hạng di tích; tổ chức liên kết phát triển du lịch cho cụm du lịch hồ Quan Sơn - Hương Sơn.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Thiết lập cấu trúc quy hoạch Hành lang xanh thành phố Hà Nội" của tác giả Nguyễn Văn Tuyên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quy hoạch hành lang xanh đô thị trong nước và quốc tế. Công trình đã làm rõ những hạn chế thực tiễn của giải pháp hành lang xanh trong đồ án Quy hoạch chung Hà Nội năm 2011, đồng thời xây dựng phương pháp luận xác định cấu trúc quy hoạch hành lang xanh dựa trên công cụ GIS và diện tích xanh quy đổi. Các đề xuất cấu trúc phân vùng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật xanh và khung quy chế quản lý cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội theo hướng phát triển bền vững.