Chương 1: Tổng quan CTQH HLX trên thế giới và tại Việt Nam; Chương 2: Các cơ sở khoa học để thiết lập CTQH HLX thành phố Hà Nội; 6 Chương 3: Đề xuất giải pháp thiết lập CTQH HLX thành phố Hà Nội, kết quả nghiên cứu và bàn luận. Sơ đồ cấu trúc nghiên cứu được trình bày cụ thể trong Hình 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài a. Ý nghĩa khoa học: Vận dụng lý luận, thực tiễn thiết lập CTQH HLX trên thế giới và tại Việt Nam, luận án xây dựng lý thuyết quy hoạch HLX tại các đô thị ở Việt Nam theo hướng bền vững.
Ý nghĩa thực tiễn: Hình thành các cơ sở khoa học để thiết lập CTQH HLX các đô thị Việt Nam, cụ thể tại thành phố Hà Nội. Luận án đề xuất quan điểm, mục tiêu, các nguyên tắc, quy mô và giải pháp thiết lập CTQH HLX thành phố Hà Nội đến năm 2030, từ đó điều chỉnh và hoàn thiện CTQH HLX trong quy hoạch chung Thủ đô đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26 tháng 07 năm 2011. Các thuật ngữ khái niệm 8. Các khái niệm KGX, HLX a.
Không gian xanh (Green space) KGX là không gian mở. KGX trong đô thị tồn tại chủ yếu dưới dạng các khu vực bán tự nhiên, có vai trò quan trọng cho phát triển bền vững và chất lượng môi trường sống của đô thị. KGX có 16 loại hình như: Hành lang sinh học, Hành lang bảo tồn, Hành lang sinh thái, mạng lưới sinh thái, Kết cấu hạ tầng xanh, Trái tim xanh, VĐX, Hành lang môi trường, Cấu trúc xanh, Tim mạch xanh, Hành lang giải trí, Hành lang lang cảnh quan, Khung xanh, Không gian mở, Tuyến công viên, Hành lang động thực vật hoang dã, Vùng đệm. [104] Đất đai thiết lập KGX được xem như là một HST, trong đó xác định khu vực chứa sinh vật, môi trường vật lý và sự tương tác trao đổi giữa sinh vật với môi trường.
KGX là một thành phần trong HST tổng hợp của đô thị (Thompson, 2002). [105] VĐX, tuyến xanh và các công viên đô thị là ba thành phần chức năng chính trong KGX đô thị. KGX đô thị cung cấp các hoạt động mang lại lợi ích sinh thái, xã hội và vui chơi giải trí cho người dân đô thị (Shafer,1999). [105] Khái niệm KGX thành phố Hà Nội được định nghĩa trong quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội năm 2011: “gồm bao gồm hành lang xanh, vành đai xanh dọc sông Nhuệ, các nêm xanh và các công viên đô thị.
Hành lang xanh (Green corridor) Khái niệm HLX được bắt đầu xuất hiện với quy hoạch dải công viên Emerald Necklace của Law Olmsted cho Boston. HLX là các không gian mở, công viên cây xanh, 7 đất nông nghiệp hoặc các khu vực tự nhiên được hình thành dưới dạng các dải đan xen bên trong hoặc bao bọc bên ngoài đô thị vì các mục đích bảo tồn môi trường và cảnh quan. Khái niệm HLX được sử dụng nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên nó được biến đổi theo hoàn cảnh khác nhau: HLX Thương mại - Green Trade Corridor (Mỹ, Mexico, Canada); HLX Công nghệ - Green Technology Corridor (California, Mỹ); HLX công viên đô thị - Green Urban Park Corridor (Singapore); HLX cảnh quan - Green Landscape Transformation Corridor (Anh); HLX Giao thông vận tải - Green Transport Corridor (Châu Âu). [111] Khái niệm HLX thành phố Hà Nội được định nghĩa trong quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội năm 2011: “Bao gồm khu vực nông thôn, hệ thống sông hồ, đồi núi, rừng tự nhiên, vùng nông nghiệp… được bảo vệ nghiêm ngặt để trở thành khu hậu cần phục vụ đô thị, giữ gìn cảnh quan và đảm bảo môi trường sống đô thị.
Vành đai xanh (Greenbelt) - VĐX là một vành đai vùng nông thôn nơi đô thị hóa sẽ bị hạn chế trong tương lai gần, việc duy trì một khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và giải trí ngoài trời dự kiến sẽ chiếm ưu thế (Howard, 1898). [105] - Đề xuất hệ thống không gian mở nhiều cây xanh trong đó đã xác định hình thành một khu vực tuyến tính hoặc vành đai xung quanh thành phố và tới các địa phương. Mục đích của ông là xây dựng KGX là để bao quanh thành phố như một phương tiện để ngăn cản sự mở rộng đô thị (MacKaye Benton, 2006). [105] Như vậy VĐX là một biến thể của HLX, là không gian mở bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và các khu vực giải trí ngoài trời.
VĐX có nhiệm vụ chính là ngăn cản sự mở rộng đô thị. Tuyến xanh (Green way) Một khái niệm tương tự như VĐX là tuyến xanh, trong đó có một đối tượng tuyến tính và có thể chạy qua một khu vực đô thị thay vì bao xung quanh nó. Tuyến xanh là một thuật ngữ tổng quát hơn ở Mỹ. Mục đích của tuyến xanh là liên kết các yếu tố cảnh quan để tạo thành một hệ thống mạng lưới tuyến tính, thường gắn liền với các tính năng địa hình như tự nhiên (ví dụ: sông) và nhân tạo (ví dụ như đường giao thông, kênh 8 mương và đường sắt).
Các tuyến xanh sinh thái theo chức năng cảnh quan tự nhiên, trong khi các loại tuyến xanh khác thường được xác định ở cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan thay đổi bởi các mục đích khác nhau (Hellmund & Smith, 1993). [105] Tuyến xanh là "các dải gắn với phong cảnh", là "hành lang của đất và nước, và mạng lưới của các hành lang của chúng” được xác định với những tính chất tuyến tính và kết nối. Tuyến xanh thúc đẩy tính bền vững và giúp khôi phục "tính toàn vẹn cảnh quan" (Hellmund & Smith, 2006). Mạng xanh (Green network) Mạng xanh "là các liên kết của các khu vực tự nhiên, bán tự nhiên và không gian mở nhân tạo (có thể bao gồm các hoạt động vui chơi giải trí hoặc các công trình phục vụ) để tạo ra một mạng lưới liên kết với nhau nhằm tạo cơ hội cho các hoạt động thể chất, tăng khả năng tiếp cận trong các khu định cư và các vùng nông thôn xung quanh, đồng thời tăng cường đa dạng sinh học và chất lượng của môi trường đô thị".
[113] Khái niệm mạng xanh có sự tương đồng, có thể hoán đổi nhau với khái niệm hạ tầng xanh (Green infrastructure) ở mục tiêu môi trường xã hội, sinh học và vật lý. Mạng xanh hình thành từ các kết nối và đường dẫn nhằm tăng khả năng tiếp cận tới các hoạt động vui chơi giải trí và tiện nghi thị giác cho cư dân thành phố. Nêm xanh (Green wedge) - Nêm xanh là một mô hình thay thế của mô hình VĐX, nêm xanh có mục đích bảo vệ các vùng không gian mở, giúp định hình sự phát triển hình thái đô thị đã được quy hoạch; Giữ gìn và tăng cường liên kết giữa các khu vực đô thị và nông thôn; tạo thuận lợi cho việc quản lý tích cực đất đô thị. Tại Anh, mô hình nêm xanh như là một chính sách đô thị, tuy nhiên chính sách VĐX vẫn là chính.
Nêm xanh chỉ là chính sách đô thị ở cấp địa phương (Department for Communities and Local Government, 2001). [105] - Mặc dù nêm xanh đã gây ra những tranh cãi nhưng vẫn cho thấy vai trò vượt trội của nó. Các mô hình nêm xanh ở các nước Bắc Âu có thể là cách tiếp cận hiệu quả hơn trong việc bảo tồn KGX và đồng thời định hình sự phát triển đô thị. Nó không hạn chế phát triển đô thị một cách tuyệt đối như VĐX và cho phép mở rộng các khu đô thị dọc theo một số hướng (Stahle, A.
[105] Nhìn chung, các khái niệm có các điểm tương đồng: Đều định nghĩa về KGX đô thị, có mục tiêu và chức năng tương tự nhau. Bên cạnh đó, các khái niệm cũng có những sự khác biệt về hình thái và vị trí KGX trong CTĐT (kết quả phân tích được trình bày trong Bảng 1. Như vậy, khái niệm HLX được xác định là khái niệm rộng nhất, bao trùm các khái niệm VĐX, nêm xanh, tuyến xanh, mạng xanh. VĐX là một dạng hình thái cấu trúc của HLX.
Khái niệm HLX trong luận án được xác định như sau: 9 HLX là hệ thống hành lang KGX đan xen bên trong và bao bọc bên ngoài đô thị trung tâm, bao gồm nhiều chức năng như rừng tự nhiên, khu vực du lịch - vui chơi giải trí, nông nghiệp, làng xã mật độ thấp. được tạo lập từ từ con sông, hồ và diện tích điền trũng, nhằm tạo lập môi trường thiên nhiên tốt cho đô thị, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển bền vững du lịch, nông nghiệp và làng xã. Bảng so sánh các loại hình cấu trúc HLX Khái niệm Mạng HLX VĐX Nêm xanh Tuyến xanh xanh Đặc trưng Loại hình Hình thành dưới dạng Vành đai Hệ thống Hệ thống Hệ thống các dải đan bao bọc điểm KGX tuyến KGX phân Vị trí trong đô xen bên xung xanh liên tính, gắn tách khu thị trong hoặc quanh đô kết thành liền với địa vực phát bao bọc bên thị trung mạng hình tự triển đô thị ngoài đô thị tâm xanh nhiên trung tâm Adelaide Luân Đôn Singapore Copenhagen Đô thị áp dụng Singapore Seoul Roma New York Stockhom Bắc Kinh Franfurt 8. Khái niệm CTQH, CTQH KGX đô thị a.
Khái niệm cấu trúc (Structure): Mỗi thực thể tồn tại đều có cấu trúc. Cấu trúc là “một sự sắp xếp và tổ chức các yếu tố bên trong một vật hay hệ thống” [100]. Vật liệu tạo thành cấu trúc bao gồm các yếu tố “do con người chế tạo ra như tòa nhà hay máy móc” [100] và cũng có thể được hình thành từ “tự nhiên như sinh vật, các khoáng chất và hóa chất”. Khái niệm cấu trúc không gian (Structure Space):“là dạng vật thể hóa của các mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành trong đô thị”.
Hình thái đô thị “lý giải được cấu trúc không gian đô thị”, qua đó “xác định ranh giới phát triển đô thị, trung tâm đô thị, các tuyến chính, mật độ xây dựng…”. Khái niệm CTQH (Structure Plannings): Đô thị là một thực thể phức tạp, sự chồng lớp của hoạt động cư trú, hoạt động sản xuất và hoat động “thể hiện quyền lực chính trị” [33]. Cấu trúc của đô thị được kết cấu bởi các chức năng "công nghiệp, các khu nhà ở, khu các công trinh đô thị, giao thông, KGX và các khu vực chức năng khác” [36]. CTQH là khái niệm rộng, bao gồm từ khung pháp lý quản lý phát triển đô thị đến 10 giải pháp tổ chức không gian đô thị.
i) CTQH được đinh nghĩa như một khung pháp lý (Structure Plan) dài hạn (10 ÷ 15 năm) được sử dụng để hướng dẫn quản lý phát triển hoặc tái phát triển đô thị.