Chương 1: Tổng quan: 28 trang. Chương 2: Đối tượng, địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 14 trang. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 78 trang. Kết luận và kiến nghị: 2 trang 4 CHƢƠNG I.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các nghiên cứu v giáp xác nƣớc ngọt ở trên th giới 1. C c nghiên cứu v phân i học nh gi p c nước ngọt Những nghiên cứu về phân loại học giáp xác nước ngọt đã được tiến hành từ khá sớm ở trên thế giới. Trong tổng số khoảng 11.990 loài giáp xác đã biết cho đến nay thì bộ giáp xác mười chân (Decapoda) có khoảng 1.900 loài, phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) có khoảng 2.800 loài, phân bộ râu chẻ (Cladocera) có khoảng 620 loài, lớp có vỏ (Ostracoda) có khoảng 2.000 loài, bộ chân đều (Isopoda) có khoảng 950 loài, bộ chân khác (Amphipoda) có khoảng 1.870 loài và tổng bộ Syncarida (khoảng 240 loài) [8,9,10,11,12].
Trong thời gian gần đây, nhiều loài mới trong nhóm giáp xác nước ngọt vẫn được các tác giả tiếp tục nghiên cứu và ghi nhận.Giáp xác chân ch o n c ngọt (Copepoda) Các tác giả Müller (1776), Jurine (1820), Milne-Edwards (1840), Brady (1883), Giesbrecht (1892) đã có các nghiên cứu về phân loại học đối với nhóm giáp xác chân chèo nước ngọt (Copepoda) dựa trên các đặc điểm hình thái. Hệ thống phân loại của Sars (1903-1913) về cơ bản vẫn được sử dụng trong thời gian dài sau đó [13,14,15,16]. Trong nửa cuối thế kỷ XX, đã bổ sung nhiều taxon mới về phân loại học của nhóm này. Hệ thống phân loại giáp xác của Boxshall & Halsey (2004) được hầu hết các nhà nghiên cứu chấp nhận và sử dụng rộng rãi, theo đó Copepoda được chia làm 9 bộ, các loài sống tự do ở nước ngọt hầu hết nằm trong 3 bộ: Calanoida, Cyclopoida và Harpacticoida [17].
Theo Boxshall & Halsey (2004), Boxshall & Defaye (2008), hiện đã ghi nhận khoảng 2.800 loài giáp xác Copepoda sống ở các thuỷ vực nước ngọt nội địa trên thế giới [8,17]. Các nghiên cứu về thành phần loài giáp xác Copepoda nước ngọt đã được tiến hành ở hầu hết các nước thuộc khu vực Đông Nam Á. Ở Mã lai và In-đô-nê-xia, có các công trình của Douwe (1901, 1907), Daday (1906), Chappuis (1928, 1931, 1933) ở Java và Sumatra; Fernando (1978), Fernando và Ponyi (1981) về khu hệ Copepoda ở Mã lai. Brehm (1951, 1954), Lindberg (1952) nghiên cứu về thành phần loài ở Căm Pu Chia.
Trong thời gian gần đây thành phần 5 loài Copepoda nước ngọt của Thái Lan được điều tra kỹ lưỡng từ các nghiên cứu của các tác giả Boonsom (1984), Dumont và Reddy (1994), Dumont et al. (1996); Reddy et al. (1998, 2000); Sanoamuang (1999, 2001a, 2001b); Sanoamuang và Athibai (2002), Chullasorn et al. Trong số đó có khoảng 10 loài Copepoda được mô tả ở Thái Lan [8] Ở Trung Quốc, Shen và Tai (1962, 1963, 1964) có các nghiên cứu về giáp xác Copepoda ở các hồ và sông lớn, trong đó có nhiều loài và giống mới cho khoa học đã được mô tả.
Theo Shen et al (1979) có 206 loài giáp xác Copepoda trong các thuỷ vực nước ngọt nội địa Trung Quốc [23,24,25,26,27]. Giáp xác râu ch r u ng nh (Diplostraca: Cladocera) Giáp xác râu chẻ (Diplostraca: Cladocera) được các tác giả Müller (1776, 1777, 1785), De Geer (1778) nghiên cứu với một số giống đầu tiên được công bố. Theo đó, các tác giả dùng các tên gọi khác nhau và không phân biệt với các nhóm giáp xác nhỏ khác (Conchostraca, Ostracoda, Copepoda). Năm 1829, Latreille đề xuất bộ Cladocera vào cùng với một hệ thống phân loại với 10 bộ khác của lớp giáp xác Crustacea.
Tuy nhiên, vị trí phân loại của phân bộ Cladocera thay đổi rất nhiều trong hệ thống chung của lớp giáp xác cũng như các taxon trong bộ này bởi các công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại của nhiều tác giả như Milne-Edwards (1840); Dana, (1853); Sars (1861, 1862); Claus (1868); Richard (1895, 1896); Lilljeborg (1901) đã mô tả và vẽ hình minh hoạ của 102 loài cùng với một hệ thống các taxon trong bộ Cladocera [28]. Hệ thống của Lilljeborg đã được sử dụng rộng rãi cho các nghiên cứu sau này. Tuy vậy, hạn chế của hệ thống phân loại này và nhiều công trình về sau là còn có sự nhầm lẫn về vị trí phân loại của một số taxon trong lớp giáp xác chân mang (Branchiopoda). Dưới sự hỗ trợ của kỹ thuật của kính hiển vi điện tử quyét (SEM) và phân tích ADN, các tác giả như Frey (1973, 1980, 1982, 1987, 1991, 1995), Fryer (1963, 1968, 1974, 1987), Olesen (1996, 2000) đã có những phân tích sâu hơn và làm sáng tỏ mối quan hệ phát sinh chủng loại của các taxon trong nhóm Branchiopoda.
Hiện nay, giáp xác râu chẻ phân bộ Cladocera được xếp trong bộ Diplostraca cùng với các phân bộ khác là Laevicaudata, Spinicaudata và Cyclestherida thuộc phân lớp giáp xác chân lá (Phyllopoda), trong lớp giáp xác chân mang (Branchiopoda). 6 Theo Martin & Davis (2001), cho đến nay đã biết khoảng 620 loài giáp xác râu chẻ (Cladocera) sống ở nước ngọt xếp vào trong 4 thứ bộ: Anomopoda (537 loài), Ctenopoda (50 loài), Haplopoda (1 loài) và Onychopoda (32 loài) [29]. Song song với sự hoàn thiện về hệ thống phân loại, những nghiên cứu về thành phần loài của khu hệ ở các nước và khu vực khác nhau trên toàn thế giới gần như cũng được tiến hành đồng thời như ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Phi. Khu vực Châu Á được nghiên cứu muộn hơn, Đông Nam Á có các công trình tiêu biểu như: ở In-đô-nê-sia với công trình của các tác giả Richard (1891, 1895, 1896), Stingelin (1905), Grochmalicki (1915), Johnson (1956) được nghiên cứu ở các đảo Java, Sumatra.
Ở Ma-lay-sia, có các công trình nghiên cứu của các tác giả Johnson (1962, 1963, 1965, 1975), Fernando (1977, 1980), Idris (1983). Ở Thái Lan có các nghiên cứu của Boonsom (1984), Pholpunthin (1997), Sirimongkonthaworn (1997), Sanoamuang (1998), Pipatcharoenchai (2001), Sanoamuang et al. (2001), Maiphae et al. Ở Trung Quốc, Chiang và Du (1979) đã thống kê được 136 loài trong 45 giống và 10 họ.
Cho đến nay, ở khu vực Đông Nam Á đã có những nghiên cứu tương đối đầy đủ về thành phần loài giáp xác râu chẻ (Cladocera). Trong đó, thành phần loài phản ảnh tính chất phân bố rộng của nhóm giáp xác này với các đặc điểm chủ yếu là các loài ở vùng nhiệt đới và có phân bố rộng, các nhóm loài đặc hữu chiếm tỷ lệ rất thấp. Giáp xác c v (Ostracoda) Những năm 1777 và 1778, Müller đã có những nghiên cứu về phân loại học nhóm giáp xác Ostracoda: ông mô tả các loài trong giống Cypris và xếp chung với một số nhóm giáp xác nhỏ khác. Năm 1802, Latreille đề xuất thuật ngữ Ostracoda và được xem như một bộ ("Ostrachode") bao gồm cả một số giống trong nhóm Cladocera và Copepoda.
Sau đó, các tác giả Milne-Edwards (1840), Claus (1868) tách các nhóm này ra và thành lập các bộ riêng xếp trong Branchiopoda. Năm 1866, Sars chia bộ Ostracoda thành 4 nhóm: Podocopa, Myodocopa, Cladocopa và Platycopa. Müller (1900) xem 4 nhóm này là 4 phân bộ trong bộ Ostracoda. Hệ thống phân loại này gần như được duy trì trong suốt thời gian dài sau đấy, mặc dù có sự thay đổi của nhiều taxon bậc thấp hơn.
Năm 1961, Moore nâng 7 bộ Ostracoda thành một phân lớp trong lớp chân kìm (Maxillopoda) và chia làm 5 bộ Archaeocopida, Leperditicopida, Palaeocopida, Podocopida, Myodocopida. Năm 1982, Cohen tách phân lớp Ostracoda khỏi lớp Maxillopoda và nâng lên thành lớp giáp xác có vỏ (Ostracoda) gồm Myodocopa, Halocyprida, Platycopida và Podocopida xếp trong 2 phân lớp Myodocopa và Podocopa [30]. Theo thống kê của Martens et al.000 loài giáp xác Ostracoda nước ngọt nội địa đã được ghi nhận trên toàn thế giới, hầu hết chúng có đời sống tự do, chỉ có khoảng 12 loài sống bán ký sinh, tất cả đều thuộc bộ Podocopida [11]. Vùng Đông Phương (Oriental) có 199 loài trong 6 họ.
Trong đó, họ Cyprididae có số loài nhiều nhất với 154 loài. Khu vực Đông Nam Á có các nghiên cứu của Moniez (1892), Sars (1903), Tressler (1937) đã được kiểm tra bởi Victor & Fernando (1982). Các nghiên cứu của Victor & Fernando (1979, 1980, 1981, 1982), tập trung chủ yếu vào các đảo của Mã lai và In-đô-nê-sia. Theo Fernando (1982), có 87 loài thuộc 26 giống được ghi nhận ở Mã lai, In-đô-nê-sia và Phi-líp-pin.
Theo Martens & Savatenalinton (2010), đã có những nghiên cứu khá đầy đủ về thành phần loài của phân họ Cypricercinae và mô tả 6 loài mới cho khu vực này [31]. Tôm, cua (Decapoda) Từ những năm giữa thế kỷ XIX, những nghiên cứu về tôm, cua nước ngọt thế giới đã được tiến hành các nước ở Châu Âu, và Châu Á. Theo hệ thống phân loại trước đây, bộ mười chân (Decapoda) vẫn tồn tại bậc phân chia Natantia bao gồm nhóm tôm do Boas đề xuất từ 1880, theo đó ông chia bộ Decapoda thành hai phân bộ Natantia (tôm) và Reptantia (cua). Hệ thống này được hầu hết các tác giả thừa nhận về sau này, chỉ thay đổi ít nhiều về các thành phần của nhóm Natantia.
Năm 1963, Burkenroad chia lại bộ Decapoda thành 2 phân bộ mới: Dendrobranchiata (= Penaeidea) và Pleocyemata, bao gồm các nhóm còn lại của bộ Decapoda, số này được phân thành 2 liên nhóm (supersection) hoặc thứ bộ (infraorder) Natantia và Reptantia. Burkenroad (1981) xem xét lại cách phân chia nói trên và phân chia lại bộ Decapoda thành 4 phân bộ: Dendrobranchiata (= Penaeidea), Stenopodidea, Caridea và Reptantia. Cách phân chia mới này được nhiều tác giả sau này tiếp thu với ít nhiều thay đổi, theo xu hướng chia bộ Decapoda thành 3 phân bộ lớn: 8 Dendrobranchiata (= Penaeidea), Natantia (bao gồm các nhóm tôm khác ngoài Penaeidea) và Reptantia (Cua) [32]. Theo De Grave et al.500 loài tôm nhóm Caridea thuộc 31 họ, sống ở cả nước mặn, nước lợ và nước ngọt.
Trong đó, có khoảng 655 loài nước ngọt. Tôm Caridea nước ngọt thuộc 8 họ và phân họ, trong đó 2 họ Atyidae và Palaemonidae chiếm số loài đông nhất. Họ tôm diu (Atyidae) có 359 loài, họ tôm càng (Palaemonidae) với các giống phổ biến như Macrobrachium, Palaemon, Exopalaemon, Palaemonetes. Theo De Grave et al.
Theo các tác giả Ng et al. (2008), Yeo et al. Theo Cumberlidge et al.476 loài cua nước ngọt đã biết trên thế giới được phân bố ở mọi vùng địa lý động vật, trong đó có 1.306 loài thuần tuý nước ngọt. Hai họ có thành phần loài đông nhất là Potamidae (505 loài và 95 giống) và họ Gecarcinucidae (344 loài và 59 giống , các loài này chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam Á và Nam Á [9].
Theo Cumberlidge et al. Các nước khác, tuy việc thống kê cho tới nay còn chưa thật đầy đủ song cũng đã ghi nhận được số loài khá lớn, như: In-đô-nê-xia (83 loài), Phi-líp-pin (42 loài), Việt Nam (40 loài) [9].