Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm từ thực tiễn thành phố Hà Nội" của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hà là luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (Luật học). Luận án tiếp cận vấn đề theo phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích quy phạm, phân tích tài liệu thực tiễn và luật học so sánh, khảo sát thực tiễn xét xử các vụ án nhiều tội phạm tại Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
- Thứ nhất, từ thực tiễn kinh tế - xã hội: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế làm nảy sinh nhiều quan hệ xã hội phức tạp, kéo theo tình hình tội phạm gia tăng. Trong đó, nhóm tội phạm thực hiện nhiều tội, phạm tội từ 02 lần trở lên có chiều hướng gia tăng đáng kể. Về mặt nhận thức lý luận và áp dụng thực tiễn, việc xác định các yếu tố định tội danh cũng như căn cứ quyết định hình phạt đối với trường hợp nhiều tội phạm vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, đòi hỏi phải có nhận thức thống nhất để hoàn thiện hệ thống pháp luật.
- Thứ hai, từ tiến trình lập pháp hình sự: Qua các giai đoạn phát triển từ Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 đến Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), pháp luật hình sự Việt Nam đã có những bước chuyển biến quan trọng phục vụ cải cách tư pháp. Dẫu vậy, các quy định điều chỉnh hành vi định tội danh, căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm vẫn bộc lộ hạn chế, bất cập, cần tiếp tục được luận giải và đưa ra giải pháp hoàn thiện.
- Thứ ba, từ thực tiễn xét xử của Tòa án: Hoạt động quyết định hình phạt trong các vụ án nhiều tội phạm còn nhiều vướng mắc, sai sót như định tội danh sai, bỏ lọt tội phạm, áp dụng hình phạt không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội (quá nặng, quá nhẹ hoặc oan sai). Tỷ lệ các vụ án bị áp dụng hình phạt không chính xác trong trường hợp nhiều tội phạm chiếm tỷ lệ cao hơn so với các trường hợp đơn tội thông thường, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổng kết thực tiễn và bổ sung cơ sở khoa học.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm theo luật hình sự Việt Nam, trên cơ sở khảo sát thực trạng xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; qua đó tổng kết lý luận, phân tích thực tiễn chỉ ra kết quả, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng đắn.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Một là: Phân tích tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài về các công trình liên quan đến đề tài, xác định vấn đề lý luận sẽ kế thừa và vấn đề tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ.
- Hai là: Làm rõ những vấn đề chung về quyết định hình phạt, về nhiều tội phạm, về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm.
- Ba là: Đánh giá khái quát về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm; phân tích nội dung các quy định và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của luật hình sự hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm, chỉ ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi thứ nhất: Quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm là gì, có đặc điểm gì khác với quyết định hình phạt đối với vụ án đơn tội phạm?
- Câu hỏi thứ hai: Quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội đã được đảm bảo chưa? Có ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân gì?
- Câu hỏi thứ ba: Cần có giải pháp nào để Tòa án quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội đạt hiệu quả?
- Giả thiết nghiên cứu:
- Giả thiết thứ nhất: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trong những năm qua đã thụ lý nhiều vụ án nhiều tội phạm phức tạp nên việc quyết định hình phạt có nhiều lúng túng do thiếu nhận thức về lý luận và thực tiễn, đặt ra vấn đề cần nghiên cứu để tăng cường hiệu quả quyết định hình phạt.
- Giả thiết thứ hai: Pháp luật hình sự và tố tụng hình sự trong những năm qua đã được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, song quá trình quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm còn nhiều bất cập, thiếu căn cứ pháp lý, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật.
- Giả thiết thứ ba: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có nhiều biện pháp để tăng cường xét xử đối với vụ án nhiều tội phạm song hiệu quả chưa cao, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục tìm kiếm các giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam, bao gồm: các vấn đề lý luận chung; các điều luật, quy định và chế định cụ thể liên quan; thực trạng hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Các Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chế định nhiều tội phạm và quyết định hình phạt.
Tình hình nghiên cứu trong nước
- Các nghiên cứu về chế định nhiều tội phạm:
- Các bài viết tạp chí chuyên ngành: Mai Bộ (1995) với "Phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội"; Võ Khánh Vinh và Lê Văn Đệ (1999) với "Tổng hợp thực tế về phạm nhiều tội, một hình thức biểu hiện của chế định phạm nhiều tội"; Lê Cảm (2001) với "Chế định đa (nhiều tội phạm) và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt Nam"; Dương Tuyết Miên (2000) với "Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội"; TS. Lê Văn Đệ (2004) với "Các hình thức biểu hiện của chế định nhiều tội phạm trong luật hình sự Việt Nam".
- Sách chuyên khảo và giáo trình: GS. Nguyễn Ngọc Hòa (2008) với sách chuyên khảo "Tội phạm và cấu thành tội phạm"; TS. Lê Văn Đệ (2010) với "Chế định nhiều tội phạm, những vấn đề lý luận và thực tiễn" và "Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam" (2004); PGS. Trịnh Tiến Việt (2013) với "Tội phạm và trách nhiệm hình sự"; Đinh Thế Hưng và TS. Trần Văn Biên với "Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015"; GS. Võ Khánh Vinh (2006) với "Giáo trình Luật thi hành án hình sự Việt Nam", (2013) với "Lý luận chung về định tội danh" và (2021) với "Áp dụng pháp luật hình sự, những vấn đề lý luận và thực tiễn"; GS. Đào Trí Úc (1994) với "Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam"; Võ Khánh Vinh (1994) với "Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt Nam"; GS.TSKH. Lê Văn Cảm (2005) với sách chuyên khảo "Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự Việt Nam (Phần chung)"; Đinh Văn Quế (2000, 2010) với "Bình luận khoa học BLHS năm 1999" và "Tìm hiểu tội phạm và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam".
- Luận án và luận văn: Lê Văn Đệ (2003) với luận án tiến sĩ "Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam"; Cao Thị Oanh (2008) với luận án tiến sĩ "Nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự"; Võ Khánh Linh (2017) với luận án tiến sĩ "Xã hội học hình phạt. Những vấn đề lý luận và thực tiễn"; Nguyễn Đình Chiến (2003) với luận án tiến sĩ nghiên cứu quan hệ nhân quả trong phòng ngừa tội phạm kinh tế; Đặng Phú Lâm với luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế định phạm nhiều tội tại Vĩnh Phúc; Nguyễn Văn Quảng (2011) với luận án tiến sĩ về thủ tục rút gọn; Nguyễn Minh Quang (2014) với luận văn về chế định nhiều tội phạm; Đề tài cấp Bộ của Tòa án nhân dân tối cao do TS. Đặng Quang Phương làm chủ nhiệm (1996) về nâng cao hiệu quả các hình phạt không phải là tù và tử hình.
- Các nghiên cứu về quyết định hình phạt và hiệu quả hình phạt:
- Luận án tiến sĩ của Dương Tuyết Miên (2003) về "Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam"; luận án tiến sĩ của Nguyễn Sơn (2003) về "Các hình phạt chính trong LHS Việt Nam".
- Các bài viết tạp chí của Võ Khánh Vinh và Nguyễn Văn Hoàn (1994), PGS. Nguyễn Mạnh Kháng (2002), TS. Nguyễn Minh Khuê (2014, 2015) nghiên cứu về lý luận hình phạt, chi phí xã hội của hình phạt và bảo đảm hiệu quả các hình phạt chính không tước tự do.
Tình hình nghiên cứu quốc tế và pháp luật một số nước
- Các công trình lý luận và nghiên cứu thực nghiệm:
- Công trình của Kudrjavxev (1972) về "Lý luận chung về định tội danh" và tác phẩm "Nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa tội phạm" (do Xuân Yêm và Lưu Vinh dịch); Kurivov B.A (1965, 1984) về định tội danh và an toàn giao thông; Sue Titus Reid (1988); David Brown, David Farrier, Neal và David Weisbrot (1996); Edwin Sutherland và Donald Cressey; Larry J. Siegel (2001); Russil Durrant (2013) với "Giới thiệu tâm lý học hình sự" (An Introduction to Criminal Psychology).
- Jan de Keijser, Julian V. Roberts và Jesper Ryberg (2017) với công trình "Sentencing for Multiple Crimes" (Quyết định hình phạt nhiều tội phạm) do Nhà xuất bản Đại học Oxford ấn hành; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tháng 12 năm 2015 do Trung tâm Lý thuyết Tội phạm Cambridge, Trung tâm Tư pháp Hình sự Roskilde và Trung tâm Criminology Đại học Oxford tổ chức.
- Các công trình chuyên khảo xuất bản tại Canada (2008), Nhà xuất bản Đại học Mở (2005) và Willan (2002) về thái độ công chúng đối với tư pháp hình sự và triết học trừng phạt; công trình của G. Michel về Luật hình An Nam thi hành ở Bắc Kỳ.
- Báo cáo nghiên cứu "Sentencing and alternative punishment" so sánh 5 loại hình phạt không giam giữ tại 7 quốc gia (Đức, Nhật Bản, Sri Lanka, Jamaica, Nepal, Palestine, Guatemala); tài liệu Hội nghị quốc tế năm 2012 với các tham luận của Ugljesa Zvekic, Robert Harris, Joseph K. Gitau, Wolfgang Rau; Báo cáo tọa đàm 5 nước (Nhật Bản, Indonesia, Ấn Độ, Maldives, Nam Phi) về các biện pháp thay thế hình phạt tù.
- Khảo cứu quy định Bộ luật Hình sự của nhiều quốc gia: Liên bang Nga, Bulgaria, Cộng hòa Séc, Hungary, Thụy Điển, Đức, Slovenia, New Zealand, Thổ Nhĩ Kỳ, Australia, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh và xứ Wales, Hoa Kỳ, Canada, Pháp.
- Hai xu hướng tiếp cận hình phạt quốc tế đối với trường hợp phạm nhiều tội:
- Chiến lược thuần túy (Cộng dồn số học): Xác định mức độ nghiêm trọng và hình phạt của từng tội phạm riêng biệt, sau đó cộng dồn tổng thể các hình phạt cá nhân. Chiến lược này đơn giản nhưng ít được áp dụng tuyệt đối vì vi phạm nguyên tắc tương xứng (khiến người phạm nhiều tội ít nghiêm trọng bị phạt nặng ngang người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng).
- Chiến lược chiết khấu ("Giảm giá hàng loạt" / Chấp hành đồng thời hoặc tổng hợp có trần): Cho phép chấp hành đồng thời các hình phạt hoặc có quy định mức trần tổng hợp để giảm tổng thời gian chấp hành án, bảo đảm tính cân bằng giữa tính chất tội phạm và sự trừng phạt.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình trước đây chỉ xem xét quyết định hình phạt như một phán quyết riêng lẻ của Tòa án mà chưa nghiên cứu toàn diện như một giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự; việc tiếp cận xã hội học và triết học hình phạt chưa được quan tâm thỏa đáng; các khái niệm, đặc điểm và phân loại của chế định nhiều tội phạm còn nhiều tranh luận chưa ngã ngũ; đặc biệt, chưa có công trình nào đánh giá chuyên sâu và toàn diện thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
- Khái niệm tội phạm: Luận án tiếp cận tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội trong những giai đoạn lịch sử xã hội nhất định được quy định trong Bộ luật Hình sự đang có hiệu lực, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm phạm đến một hay nhiều quan hệ xã hội được Bộ luật Hình sự xác lập và bảo vệ.
- Khái niệm nhiều tội phạm: Luận án định nghĩa nhiều tội phạm là trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà mỗi hành vi cấu thành một tội phạm độc lập hoặc chỉ thực hiện một hành vi và hành vi đó cấu thành nhiều tội phạm khác nhau.
- Bốn hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm:
- Phạm nhiều tội: Trường hợp một người thực hiện từ hai tội phạm trở lên được định tội danh độc lập và chưa bị xét xử về bất kỳ tội nào trong số đó.
- Phạm tội nhiều lần (phạm tội từ 02 lần trở lên): Người phạm tội thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên cùng được quy định tại một điều luật cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, mỗi hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập, còn thời hiệu truy cứu và cùng bị đưa ra xét xử trong một vụ án.
- Tái phạm, tái phạm nguy hiểm: Quy định tại Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015, là trường hợp người đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới theo các điều kiện do luật định.
- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: Trường hợp phạm tội từ 05 lần trở lên trong một khoảng thời gian liên tục, chưa được xóa án tích hoặc chưa hết thời hiệu, xâm hại cùng một khách thể và lấy sản phẩm/lợi ích từ hành vi phạm tội làm phương tiện sinh sống hoặc phục vụ mục đích của người phạm tội.
- Khái niệm quyết định hình phạt: Luận án tổng hợp các quan điểm khoa học và xác định: Quyết định hình phạt là việc Tòa án, căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội, thông qua một bản án tuyên một người là có tội, xác định loại và mức hình phạt cụ thể để áp dụng cho người phạm tội đó.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người và chính sách hình sự.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp duy vật biện chứng: Tiếp cận vấn đề từ góc độ lý luận hình sự và tội phạm học để cắt nghĩa bản chất hiện tượng.
- Phương pháp phân tích quy phạm và mô tả luật: Phân tích cấu trúc các điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1985, 1999, 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Phương pháp phân tích khái niệm, diễn giải và quy nạp: Hệ thống hóa khái niệm, rút ra các kết luận lý luận sau mỗi nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp lịch sử: Đánh giá quá trình hình thành, phát triển của chế định nhiều tội phạm và quyết định hình phạt qua các thời kỳ lập pháp.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các mô hình quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm của Việt Nam với pháp luật hình sự quốc tế (Nhật Bản, Liên bang Nga, Đức, Canada...).
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn và thống kê: Khảo sát, thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu bản án, quyết định hình sự và báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản pháp luật hình sự thực định của Việt Nam qua các thời kỳ (BLHS 1985, BLHS 1999, BLHS 2015 sửa đổi 2017, BLTTHS 2015).
- Các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP, Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019, Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/04/2019).
- Dữ liệu thực tiễn xét xử, số liệu thống kê bản án hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2021.
- Các giáo trình, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học và luận án tiến sĩ liên quan trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
| Chương |
Tên chương trong văn bản |
Nội dung cốt lõi |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài |
Đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về nhiều tội phạm và quyết định hình phạt; xác định khoảng trống lý luận và thực tiễn cần giải quyết. |
| Chương 2 |
Những vấn đề lý luận và pháp luật của một số nước về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm |
Xây dựng khung lý thuyết về nhiều tội phạm, 4 hình thức biểu hiện, lý luận quyết định hình phạt, nguyên tắc tổng hợp hình phạt và kinh nghiệm pháp luật quốc tế. |
| Chương 3 |
Pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội |
Phân tích quy định thực định của BLHS Việt Nam; đánh giá thực trạng xét xử của TAND TP. Hà Nội giai đoạn 2012 - 2021; chỉ ra sai sót, hạn chế và nguyên nhân. |
| Chương 4 |
Các yêu cầu và các giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng trong trường hợp nhiều tội phạm |
Xác định các yêu cầu cải cách tư pháp và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực áp dụng pháp luật và điều kiện bảo đảm xét xử. |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 tập trung tổng thuật, phân loại và đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về nhiều tội phạm và quyết định hình phạt ở trong nước và quốc tế. Tác giả chỉ ra rằng trong khoa học luật hình sự Liên Xô và Liên bang Nga từng tồn tại 08 quan điểm khác nhau về khái niệm nhiều tội phạm (từ quan điểm của Iu. Aliev, A. Iakovlev, R. Florov, V. Kudriavtsev, V. Malkov, B. Kurinov, T. Kelina đến P. Daghely). Tại Việt Nam, tồn tại hai khuynh hướng chính: quan điểm của GS. Võ Khánh Vinh (đồng nhất với B. Kurinov) và quan điểm của PGS.TS. Lê Văn Đệ.
Chương này chỉ ra hạn chế của các công trình đi trước: chủ yếu tiếp cận quyết định hình phạt như một phán quyết tư pháp thuần túy mà chưa phân tích đầy đủ như một quy trình áp dụng pháp luật hình sự mang tính xã hội sâu sắc; các nghiên cứu mang tính thực chứng rời rạc, chưa làm rõ khía cạnh triết học và xã hội học hình phạt; đồng thời thiếu vắng công trình tổng kết thực tiễn xét xử toàn diện trên địa bàn trọng điểm là thành phố Hà Nội.
Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật của một số nước về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm
Chương 2 thiết lập khung lý luận toàn diện về chế định nhiều tội phạm và quyết định hình phạt:
- Đặc điểm và bản chất của nhiều tội phạm: Xâm phạm nhiều khách thể; hành vi có thể thực hiện cùng thời điểm hoặc các thời điểm khác nhau nhưng còn thời hiệu truy cứu; mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân người phạm tội cao hơn trường hợp phạm tội đơn nhất phức tạp. Bản chất thể hiện ở 5 trường hợp cấu thành hành vi cụ thể (hành vi độc lập nhằm mục đích khác nhau; các hành vi khác nhau nhằm cùng mục đích; một hành vi cấu thành hai tội; phạm tội kéo dài; chuỗi hành vi liên tục kế tiếp nhau theo Công văn 233/TANDTC-PC).
- Phân tích 4 hình thức của nhiều tội phạm:
- Phạm nhiều tội: Thực hiện từ 2 tội trở lên, định tội danh độc lập, chưa bị xét xử.
- Phạm tội từ 02 lần trở lên (phạm tội nhiều lần): Cùng điều luật, mỗi lần đủ yếu tố cấu thành độc lập, chưa hết thời hiệu, xử lý trong cùng bản án. Nếu có thiệt hại tài sản thì phải chịu trách nhiệm về tổng giá trị cộng lại (theo Công văn 64/TANDTC-PC).
- Tái phạm, tái phạm nguy hiểm: Căn cứ vào Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 trên cơ sở tình trạng án tích và tính chất lỗi.
- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: Tác giả phản biện tiêu chí "lấy việc phạm tội làm nghề sinh sống và nguồn sống chính" trong Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP và Nghị quyết 03/2019/NQ-HĐTP, chỉ rõ tiêu chí này không còn phù hợp trên thực tế đối với những người có nghề nghiệp ổn định nhưng vẫn phạm tội chuyên nghiệp để tăng thu nhập.
- So sánh phạm tội từ 02 lần trở lên và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp:
| Tiêu chí phân biệt |
Phạm tội từ 02 lần trở lên |
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp |
| Động cơ, mục đích |
Không bắt buộc quy định cụ thể động cơ, mục đích. |
Người phạm tội lấy hành vi phạm tội phục vụ mục đích tạo nguồn thu/lợi ích. |
| Hình thức lỗi |
Thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý. |
Bắt buộc thực hiện với lỗi cố ý. |
| Số lần thực hiện |
Từ 02 lần trở lên về cùng một tội. |
Từ 05 lần trở lên trong khoảng thời gian liên tục. |
| Ý nghĩa pháp lý |
Tình tiết tăng nặng (Điều 52 BLHS) hoặc tình tiết định khung tăng nặng. |
Tình tiết tăng nặng (Điều 52 BLHS) hoặc tình tiết định khung tăng nặng (ví dụ khoản 2 Điều 365 BLHS). |
- Lý luận về quyết định hình phạt: Phân tích bản chất quyết định hình phạt là việc hiện thực hóa quy phạm pháp luật hình sự vào vụ án cụ thể, thể hiện qua việc lựa chọn loại và mức hình phạt theo quy định của pháp luật.
- Pháp luật một số nước: Phân tích quy định tại Điều 45 Bộ luật Hình sự Nhật Bản về nhiều tội phạm; các chuẩn mực châu Âu và Quy tắc Tokyo về việc tăng cường các hình phạt không giam giữ; kinh nghiệm xử lý quyết định hình phạt tại Liên bang Nga, Đức, Canada, Anh, Mỹ trong việc giải quyết hài hòa giữa trừng phạt và phục hồi.
Chương 3: Pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội
Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn xét xử:
- Pháp luật thực định Việt Nam: Rà soát các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm, và đặc biệt là quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, phạm nhiều tội tại Điều 55 và Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Thực tiễn quyết định hình phạt tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2012 - 2021):
- Đánh giá kết quả đạt được của Tòa án hai cấp trong việc thụ lý, xét xử nghiêm minh các vụ án hình sự có tính chất nhiều tội phạm phức tạp.
- Phân tích các dạng sai sót, tồn tại phổ biến:
- Định tội danh sai dẫn đến quyết định hình phạt sai: Nhầm lẫn cấu thành tội phạm đơn nhất với trường hợp phạm nhiều tội (ví dụ: xác định tội giết người kết hợp cướp tài sản theo Điều 123 và Điều 168 BLHS).
- Bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội: Không xem xét đầy đủ chuỗi hành vi vi phạm độc lập.
- Áp dụng sai tình tiết tăng nặng và tình tiết định khung: Áp dụng lẫn lộn giữa phạm tội từ 02 lần trở lên, tái phạm, tái phạm nguy hiểm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
- Quyết định hình phạt không tương xứng: Tuyên hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ so với tính chất nguy hiểm của hành vi; sai sót trong phương pháp và kỹ thuật tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự.
- Nguyên nhân của hạn chế:
- Nguyên nhân khách quan: Hệ thống pháp luật hình sự và tố tụng hình sự còn điểm mờ, quy định mang tính nguyên tắc chung; thiếu văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất từ Tòa án nhân dân tối cao; tính chất tội phạm ngày càng tinh vi.
- Nguyên nhân chủ quan: Trình độ nhận thức lý luận và năng lực áp dụng pháp luật của một số Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên chưa đồng đều; áp lực số lượng án lớn tại địa bàn Thủ đô.
Chương 4: Các yêu cầu và các giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng trong trường hợp nhiều tội phạm
Chương 4 đề xuất định hướng và các giải pháp đồng bộ:
- Các yêu cầu bảo đảm: Bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm nguyên tắc công bằng và cá thể hóa hình phạt; đáp ứng yêu cầu Chiến lược cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
- Các nhóm giải pháp đề xuất:
- Hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự: Sửa đổi, bổ sung các điều luật liên quan đến định tội danh, các tình tiết định khung và tăng nặng trách nhiệm hình sự (làm rõ tiêu chí phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội từ 02 lần trở lên); hoàn thiện cơ chế tổng hợp hình phạt tại Điều 55, 56 BLHS năm 2015.
- Nâng cao năng lực áp dụng pháp luật của Tòa án: Tòa án nhân dân tối cao tăng cường tổng kết thực tiễn, ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định về nhiều tội phạm; đẩy mạnh phát triển án lệ; chuẩn hóa quy trình xét xử.
- Các giải pháp hỗ trợ khác: Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân; tăng cường vai trò phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; nâng cấp cơ sở vật chất và điều kiện bảo đảm xét xử tại TAND thành phố Hà Nội.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự nêu các đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn như sau:
- Về tính toàn diện và cách tiếp cận nghiên cứu: Luận án là một công trình khoa học dưới hình thức một luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu, phân tích sâu toàn diện, hệ thống về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm như là một giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự.
- Về mặt lý luận khoa học: Luận án phân tích, xây dựng, thiết lập khung lý luận cơ bản về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm như khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa, nguyên tắc và các yếu tố tác động đến chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm; chuẩn hóa việc phân loại 4 hình thức của nhiều tội phạm.
- Về mặt đánh giá thực tiễn: Luận án nghiên cứu, đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm qua xét xử tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội; phân tích, đánh giá, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật và trong thực tiễn xét xử giai đoạn 2012 - 2021.
- Về giải pháp và kiến nghị: Luận án đề xuất một số giải pháp khoa học góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự; đồng thời đưa ra các giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm trong hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tiễn tại hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp thuộc thành phố Hà Nội trong mốc thời gian từ năm 2012 đến năm 2021.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố khác trên toàn quốc; triển khai các nghiên cứu liên ngành và đa ngành chuyên sâu hơn (kết hợp tội phạm học, xã hội học hình phạt và tâm lý học tư pháp) để đánh giá tác động dài hạn của các loại hình phạt đối với người phạm nhiều tội.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Luận án là tài liệu tham khảo hệ thống về lý luận định tội danh, quyết định hình phạt và chế định nhiều tội phạm trong luật hình sự Việt Nam và luật so sánh.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên đề môn Luật hình sự Việt Nam, Luật tố tụng hình sự và Tội phạm học.
- Đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên: Cung cấp cơ sở lý luận và tiêu chí cụ thể để phân biệt chính xác giữa các tình tiết phức tạp (phạm tội từ 02 lần trở lên, phạm nhiều tội, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp), giúp hạn chế sai sót trong thực tiễn định tội và lượng hình.
- Đối với cơ quan lập pháp và Tòa án nhân dân tối cao: Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự và ban hành các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán nhằm hướng dẫn thống nhất áp dụng pháp luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đưa ra định nghĩa khái quát về "nhiều tội phạm" như thế nào?
Theo tác giả, nhiều tội phạm là trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà mỗi hành vi cấu thành một tội phạm độc lập hoặc chỉ thực hiện một hành vi và hành vi đó cấu thành nhiều tội phạm khác nhau.
2. Bốn hình thức biểu hiện của chế định nhiều tội phạm theo luận án gồm những dạng nào?
Bốn hình thức biểu hiện bao gồm:
- Phạm nhiều tội;
- Phạm tội nhiều lần (phạm tội từ 02 lần trở lên);
- Tái phạm, tái phạm nguy hiểm;
- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
3. Luận án phân biệt "phạm tội từ 02 lần trở lên" và "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" dựa trên các căn cứ nào?
Luận án phân biệt dựa trên 4 yếu tố:
- Về động cơ, mục đích: Phạm tội từ 02 lần trở lên không quy định động cơ, mục đích cụ thể; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp đòi hỏi người phạm tội lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và nguồn sống chính (hoặc tạo nguồn thu phục vụ mục đích của mình).
- Về hình thức lỗi: Phạm tội từ 02 lần trở lên có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp bắt buộc là lỗi cố ý.
- Về số lần: Phạm tội từ 02 lần trở lên yêu cầu từ 02 lần phạm tội; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp yêu cầu từ 05 lần trở lên trong khoảng thời gian liên tục.
- Về tính chất pháp lý: Đều có thể là tình tiết tăng nặng theo Điều 52 BLHS hoặc tình tiết định khung tăng nặng, nhưng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn.
4. Hai chiến lược tiếp cận hình phạt đối với trường hợp phạm nhiều tội được nêu trong nghiên cứu quốc tế là gì?
- Chiến lược thuần túy (cộng dồn số học): Xác định riêng biệt hình phạt cho từng tội rồi cộng dồn tổng thể các hình phạt.
- Chiến lược chiết khấu ("giảm giá hàng loạt"): Cho phép chấp hành các hình phạt đồng thời hoặc tổng hợp hình phạt có mức trần để bảo đảm tính tương xứng, tránh mức án quá khắc nghiệt đối với chuỗi hành vi phạm tội ít nghiêm trọng.
5. Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2021 được chỉ ra có những sai sót cơ bản nào?
Các sai sót gồm: định tội danh sai hoặc bỏ lọt tội phạm; áp dụng hình phạt không tương xứng với tính chất nguy hiểm (quá nặng, quá nhẹ hoặc oan sai); nhầm lẫn giữa các tình tiết tăng nặng/định khung như phạm tội từ 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; sai sót trong phương pháp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo Điều 55 và Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hà là công trình nghiên cứu chuyên sâu về lý luận và thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam. Thông qua việc tổng quan tài liệu trong và ngoài nước, xây dựng khung lý thuyết vững chắc và khảo cứu thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2021, luận án đã làm rõ bản chất, đặc điểm và tiêu chí phân định của bốn hình thức nhiều tội phạm. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học quan trọng, góp phần hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự và nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật của Tòa án trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay.