đặt vấn đề của Hai Jiang Yang, với tư cách là cơ quan giúp việc của Liên hợp quốc, trong báo cáo tại kỳ họp thứ 58 năm 2006, Ủy ban pháp luật quốc tế (ILC) đã đưa ra cách hiểu chính thức về định nghĩa quyền tài phán, theo đó “quyền tài phán của một quốc gia có thể được hiểu là quyền chủ quyền hoặc thẩm quyền của một nhà nước. Đặc biệt hơn, quyền tài phán của một quốc gia có thể được chia thành 3 loại: quyền lập pháp, quyền xét xử và quyền thi hành pháp luật”[120,156-158]. Tiếp ngay sau đó, Vaughan Lowe và Christopher Staker trong cuốn “International Law” do Malcolm D. Evans chủ biên cho rằng: “quyền tài phán là một thuật ngữ mô tả những giới hạn thẩm quyền theo pháp luật của một quốc gia hoặc các cơ quan quản lý có thẩm quyền khác (như cộng đồng châu Âu) để thực hiện, áp dụng và thực thi các quy tắc ứng xử đối với con người.
Nó liên quan thiết yếu đến phạm vi quyền của mỗi quốc gia để điều chỉnh hành vi hoặc hậu quả của các sự kiện”[123,313-314]. Cách hiểu này đã từng được đề cập đến trong “The doctrine of Jurisdiction in International law” của Bernard Oxman với quan niệm: “thuật ngữ quyền tài phán thường được dùng để mô tả quyền pháp lý của quốc gia để xác định và thực thi các quyền và nghĩa vụ và kiểm soát hành vi của các thể nhân và pháp nhân. Một quốc gia thực hiện thẩm quyền tài phán của mình bằng cách thiết lập các quy định (đôi khi được gọi là thực hiện thẩm quyền lập pháp hoặc thẩm quyền pháp lý), bằng cách thiết lập các thủ tục cho việc xác định hành vi vi phạm các quy định và hậu quả của chúng (đôi khi được gọi là thẩm quyền tư pháp hoặc thẩm quyền xét xử), và bằng cách áp dụng những hậu quả cho các hành vi này như mất tự do hoặc tài sản vi phạm hoặc, trong khi chờ xét xử, bị cáo buộc phải thực hiện do vi phạm các quy tắc (đôi khi được gọi là thẩm quyền thực thi hay thẩm quyền)[87,1-162]. Tại Việt Nam, “Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam” cũng ghi nhận: “quyền tài phán là quyền của cơ quan hành pháp và tư pháp của một quốc gia xem xét và giải quyết vụ việc theo thẩm quyền của mình”[67].
Trong khi đó “Từ điển pháp luật Anh - Việt” do Nguyễn Thành Minh chủ biên thì giải thích quyền tài phán là “quyền lắng nghe và phán quyết một vụ kiện hay đưa ra một án lệnh nào đó của tòa”[42]. Như 9 vậy, cách hiểu về quyền tài phán trong từ điển này tương đối hẹp, chỉ giới hạn trong thẩm quyền xem xét và ra phán quyết của tòa án nói chung. Khác với các từ điển trên, trong “Từ điển Luật học” do Viện khoa học pháp lý biên soạn lại không có định nghĩa về quyền tài phán nói chung, tại trang 701, 702 của Từ điển chỉ đề cập đến thẩm quyền xét xử của tòa án. Theo đó, “thẩm quyền xét xử của Tòa được hiểu là một quyền chuyên biệt được trao riêng cho Tòa án, đây là quyền chung của các tòa án, không có sự phân cấp, phân vùng lãnh thổ”[72].
Tuy nhiên, thẩm quyền này cũng có thể được hiểu là thẩm quyền riêng của từng tòa được phân định theo cấp, theo khu vực hành chính và theo vụ việc. Ngoài ra, từ điển này cũng chỉ rõ nội hàm của khái niệm “tài phán” và “xét xử” là hoàn toàn giống nhau. Theo đó, tại trang 869 có nêu: “xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mực độ pháp lí của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính…)”[72]. Với bài viết “Thẩm quyền tài phán hình sự trên các vùng biển Việt Nam” đăng trên số chuyên đề tháng 8/2012 Tạp chí Luật học, tác giả Nguyễn Toàn Thắng có chỉ ra 2 nội hàm của định nghĩa quyền tài phán như sau: “theo nghĩa rộng, quyền tài phán bao gồm quyền lập pháp (ban hành pháp luật để điều chỉnh các vấn đề liên quan), hành pháp (đảm bảo thực thi các quy phạm pháp luật) và tư pháp (xét xử các hành vi vi phạm).
Theo nghĩa hẹp, quyền tài phán được xác định là quyền xét xử của quốc gia đối với hành vi vi phạm”[64,115]. Trong phạm vi bài viết của tác giả, định nghĩa quyền tài phán được hiểu theo nghĩa rộng, theo đó trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quy chế pháp lý của các vùng biển, quốc gia có quyền dừng tàu để khám xét và truy đuổi tàu trong trường hợp cần thiết, áp dụng các biện pháp để bắt người, điều tra đối với hành vi vi phạm xảy ra trên tàu và tiến hành xét xử theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Tuy nhiên, phù hợp với phạm vi nghiên cứu của công trình, tác giả Nguyễn Toàn Thắng không đi vào nghiên cứu cụ thể những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng quyền tài phán của quốc gia trên các vùng biển, mà chủ yếu tập trung giải quyết các nội dung liên quan trực tiếp đến quyền tài phán hình sự của quốc gia trên biển - một nội dung của quyền tài phán nói chung trong Luật quốc tế. Tương tự như vậy, trong bài viết “Quyền tài phán của quốc gia, đường cơ sở” của tác giả Quang Chuyên đăng trên Tạp chí Quốc phòng Toàn dân tháng 7/2011 cũng khẳng định rằng hiện nay chưa có một định nghĩa về quyền tài phán trên biển được thừa nhận rộng rãi bởi các quốc gia, nội dung của quyền tài phán được biểu hiện thông qua quy chế pháp lý của từng vùng biển theo quy định của UNCLOS [12]… - Về đặc điểm của quyền tài phán quốc gia trên biển: Mặc dù có sự gắn kết mạnh mẽ giữa đặc điểm chung của luật quốc tế với các đặc điểm nhận diện quyền tài phán 10 của quốc gia trên biển, tuy nhiên, thực tế là hiện nay hầu hết các công trình nghiên cứu ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam còn bỏ qua vấn đề này.
- Về lịch sử hình thành và phát triển nội dung quyền tài phán của quốc gia trong Luật biển quốc tế: Trên thực tế, đã có không ít công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển của luật biển nói chung như: “United Nations Convention on the law of the sea 1982, A Commentary”, Volume I, của Center for Oceans Law and Policy, University of Virginia School of Law; “The International Law of the Sea”, Volume 1 của D. O'Connell; Lilian del Castillo với “Law of the Sea, From Grotius to the International Tribunal for the law of the sea”; Maria Gavouneli với “Functional Jurisdiction in the Law of the Sea”; R.Lowel với “The law of the sea I”; Yoshifumi Tanaka với “The International Law of the Sea”; Sách tham khảo“Luật biển quốc tế hiện đại” của tác giả Lê Mai Anh; “Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững” của Đại học quốc gia Hà Nội…Nhìn chung các công trình này đã đưa ra một bức tranh chung, tổng thể về quá trình hình thành và phát triển của luật biển quốc tế (trong đó đặc biệt là sự ra đời của UNCLOS), tuy nhiên, các công trình kể trên chủ yếu nghiên cứu lồng ghép nội dung quyền tài phán của quốc gia trong quá trình phát triển chung của luật biển, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng biệt hoặc trực diện về lịch sử hình thành và phát triển nội dung quyền tài phán của quốc gia trên biển. Từ những phân tích về định nghĩa, đặc điểm và lịch sử hình thành nội dung quyền tài phán của quốc gia trên biển có thể đưa ra một vài nhận xét như sau: Một là, định nghĩa về quyền tài phán nói chung trong luật quốc tế đã được khai thác ở những khía cạnh khoa học khác nhau, trong đó một số kết quả nghiên cứu rất có giá trị, cần được kế thừa và tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và chuyên sâu về các vấn đề của quyền tài phán quốc gia trên biển như: định nghĩa, đặc điểm của quyền tài phán quốc gia trên biển trong luật biển quốc tế; Hai là, cách tiếp cận nội dung quyền tài phán của quốc gia nói chung vẫn còn có những quan điểm khác nhau, chủ yếu được chia theo 2 nhóm chính: (i) Nhóm các công trình đưa ra quan điểm quyền tài phán chỉ là quyền xét xử và ra quyết định của tòa án (quyền tài phán theo nghĩa hẹp); (ii) Nhóm quan điểm theo nghĩa rộng với nhận định quyền tài phán của quốc gia bao gồm cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu nghiêng về nhóm quan điểm thứ hai, tức là giải thích thuật ngữ quyền tài phán sẽ bao gồm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba là, chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung làm rõ sự hình thành và phát triển của nội dung quyền tài phán trên biển trong luật biển quốc tế; Bốn là, các công trình này ít đề cập trực tiếp đến vấn đề xung đột và giải quyết 11 xung đột quyền tài phán trên biển giữa các quốc gia. Đánh giá các kết quả nghiên cứu liên quan đến nội dung các nguyên tắc xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển Trong cuốn “Universal Jurisdiction: International and Municipal legal perspectives”, Luc Reydams cho rằng, có thể căn cứ vào 7 nguyên tắc để xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển đó là: nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc quốc tịch của người phạm tội (hay còn gọi là nguyên tắc quốc tịch chủ động), nguyên tắc quốc tịch của nạn nhân (hay còn gọi là nguyên tắc quốc tịch thụ động), nguyên tắc cờ tàu, nguyên tắc bảo hộ, nguyên tắc phổ cập và nguyên tắc đại diện. Cách phân chia này có vẻ khá rõ ràng, tuy nhiên, theo quan điểm của người viết đối với nguyên tắc quốc tịch thụ động, quốc tịch chủ động, và nguyên tắc cờ tàu có thể gộp vào trong nội dung của nguyên tắc xác định quyền tài phán thông qua quốc tịch, bởi vì trong các nguyên tắc này, quốc tịch được coi là dấu hiệu chủ yếu và quan trọng nhất để xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển.