Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quyền tài phán của quốc gia trên biển – Những vấn đề lý luận và thực tiễn" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hồng Yến thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật quốc tế, mã số: 62 38 01 08), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đoàn Năng và TS. Nguyễn Toàn Thắng, bảo vệ năm 2017.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh biển và đại dương chiếm hơn hai phần ba diện tích bề mặt trái đất, việc xác lập và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia ven biển. Các tranh chấp, xung đột và hành vi vi phạm trên các vùng biển diễn biến phức tạp, xuất phát từ cả yếu tố địa chính trị lẫn sự chưa hoàn thiện, thiếu rõ ràng trong các quy định pháp lý phân định quyền tài phán giữa các quốc gia hoặc do tình trạng vùng biển chồng lấn. Luận án xác định tính cấp thiết xuất phát từ bốn điểm:

  • Thực hiện định hướng tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 liên quan đến bảo vệ biên giới quốc gia.
  • Củng cố cơ sở lý luận và pháp lý nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam trước tình trạng tàu thuyền nước ngoài vi phạm pháp luật trên các vùng biển Việt Nam, góp phần duy trì trật tự pháp lý theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS).
  • Đưa ra căn cứ khoa học nhằm nâng cao năng lực cho các lực lượng chấp pháp trên biển.
  • Giải quyết những bất cập trong hệ thống quy định pháp luật và thực tiễn thi hành quyền tài phán trên biển của Việt Nam thời gian qua.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tài phán quốc gia trên biển; đánh giá thực trạng pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích và làm sâu sắc hơn định nghĩa về quyền tài phán của quốc gia trên biển, các nguyên tắc xác định quyền tài phán và vấn đề xử lý xung đột quyền tài phán quốc gia trên biển.
  2. Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước về thi hành quyền tài phán trên biển, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
  3. Nghiên cứu tổng quan chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu nâng cao năng lực thực thi quyền tài phán trên biển của Việt Nam.
  4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm, học thuyết về quyền tài phán quốc gia trên biển; lịch sử hình thành và phát triển nội dung quyền tài phán trong luật biển quốc tế; nội dung và thứ tự ưu tiên áp dụng các nguyên tắc xác định quyền tài phán; các trường hợp và cơ chế xử lý xung đột quyền tài phán; các quy định pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và pháp luật Việt Nam; thực tiễn thực thi và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền tài phán.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi chuyên sâu vào 03 lĩnh vực cụ thể gồm: (1) Quyền tài phán đối với hoạt động đi lại của tàu thuyền; (2) Quyền tài phán đối với hoạt động thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên; (3) Quyền tài phán đối với hoạt động nghiên cứu khoa học biển (NCKHB). Về chủ thể tác động, luận án tập trung chủ yếu vào tàu thuyền mang quốc tịch nước ngoài hoạt động trong các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển.
  • Phạm vi thời gian của dữ liệu: Tập trung phân tích quá trình lập pháp, thực tiễn áp dụng pháp luật và số liệu chấp pháp thực tế giai đoạn 2008 - 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đã công bố thành hai nhóm:

Các công trình nghiên cứu ngoài nước

  • Về lý luận và thẩm quyền tài phán chung: Từ điển Black's Law Dictionary (Bryan A. Garner), Oxford Dictionary, các nghiên cứu của Luc Reydams (Universal Jurisdiction: International and Municipal legal perspectives), Vaughan Lowe và Christopher Staker trong sách International Law do Malcolm D. Evans chủ biên, Bernard Oxman (The doctrine of Jurisdiction in International law), Báo cáo kỳ họp thứ 58 (2006) của Ủy ban Pháp luật quốc tế (ILC), Cedric Ryngaert (Jurisdiction in International law).
  • Về quyền tài phán đối với tàu thuyền và hoạt động hàng hải: Hai Jiang Yang (Jurisdiction of State Coastal over Foreign merchant ships in internal waters and the territorial sea), George C. Kasoulides (Port state control and Jurisdiction: evaluation of the port state regime), Báo cáo Freedom of Navigation: New Challenges của Thẩm phán Rüdiger Wolfrum.
  • Về lịch sử luật biển và quản lý tài nguyên, nghiên cứu khoa học biển: United Nations Convention on the law of the sea 1982, A Commentary (Đại học Virginia), D. O'Connell (The International Law of the Sea), Lilian del Castillo, Maria Gavouneli, R. Churchill & A.V. Lowe, Yoshifumi Tanaka; M. Dahmani, M. Hanich, William T. Burke; Marko Pavliha và Norman A. Martínez Gutiérrez (Marine scientific and the 1982 United Nations Convention on the law of the sea), Sổ tay hướng dẫn thực thi NCKHB của Bộ phận Luật biển và Đại dương Liên hợp quốc.

Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu chung về luật biển và quy chế pháp lý: Lê Mai Anh (Luật biển quốc tế hiện đại), nhóm tác giả Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững), Đặng Đình Quý chủ biên (Tìm kiếm giải pháp vì hòa bình và công lý ở Biển Đông, Biển Đông: hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực), Mai Hồng Quỳ chủ biên (Những khía cạnh pháp lý liên quan đến sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam).
  • Nghiên cứu chuyên đề: Nguyễn Toàn Thắng (Thẩm quyền tài phán hình sự trên các vùng biển Việt Nam), Quang Chuyên (Quyền tài phán của quốc gia, đường cơ sở), Nguyễn Thị Hồng Yến (Cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia theo quy định của Công ước Luật biển 1982), Lê Thị Anh Đào (Xác định các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam), Phạm Hồng Hạnh (Quản lý khai thác thuỷ sản trên các vùng biển Việt Nam – Những vấn đề pháp lý và thực tiễn), Nguyễn Bá Diến (Các vùng khai thác chung trong Luật Quốc tế hiện đại), Nguyễn Vũ Hoàng (Quyền tự do hàng hải và những lợi ích liên quan của quốc gia ven biển), Kim Liên, Nguyễn Đăng Thắng, Vũ Thanh Ca, Deok-Young Park.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu lồng ghép quyền tài phán trong quy chế pháp lý chung của các vùng biển, hoặc chỉ tiếp cận một khía cạnh riêng lẻ (như tài phán hình sự, kiểm soát cảng biển, khai thác thủy sản). Chưa có công trình độc lập nào ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học tại Việt Nam nghiên cứu trực diện, có hệ thống các vấn đề lý luận về quyền tài phán của quốc gia ven biển, phân định thứ tự ưu tiên áp dụng các nguyên tắc xác định tài phán, xử lý xung đột quyền tài phán, đồng thời đánh giá toàn diện thực tiễn thi hành của Việt Nam trong cả ba lĩnh vực: đi lại của tàu thuyền nước ngoài, thăm dò - khai thác - quản lý tài nguyên và nghiên cứu khoa học biển.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Hệ thống lý luận nền tảng: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
  • Khung lý thuyết luật quốc tế: Dựa trên học thuyết về chủ quyền quốc gia, học thuyết tự do biển cả (Mare Liberum - Hugo Grotius) đối thoại với học thuyết biển đóng (Mare Clausum - John Selden), lý thuyết về sự phân tách tương đối giữa chủ quyền và quyền tài phán, cùng các án lệ quốc tế quan trọng của Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế (PCIJ) và Tòa án Luật biển Quốc tế (ITLOS).
  • Hệ thống khái niệm: Luận án tiếp cận khái niệm quyền tài phán theo nghĩa rộng gồm 03 thẩm quyền: thẩm quyền lập pháp (prescriptive/legislative jurisdiction), thẩm quyền hành pháp/thực thi (enforcement jurisdiction) và thẩm quyền tư pháp/xét xử (adjudicative jurisdiction).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý định tính và phương pháp thống kê thực tiễn:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích nội dung các điều ước quốc tế, văn bản quy phạm pháp luật trong nước và các quan điểm học thuật; tổng hợp thực tiễn áp dụng để đưa ra các đánh giá khoa học.
  • Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu quá trình tiến hóa của quyền tài phán trên biển từ trước năm 1945, giai đoạn 1945 - 1975 và từ 1975 đến nay, gắn với các mốc công ước quốc tế (1921, 1930, 1958, 1982).
  • Phương pháp hệ thống: Xâu chuỗi mối liên hệ giữa các quy chế vùng biển (nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa) với thẩm quyền tài phán tương ứng.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định của UNCLOS với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập và tổng hợp số liệu thực tế về hoạt động tuần tra, kiểm tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm hành chính trên biển của Cảnh sát biển Việt Nam giai đoạn 2008 - 2016.
  • Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia: Trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp với các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực luật quốc tế và luật biển.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Điều ước quốc tế: Công ước Barcelona 1921 về Tự do quá cảnh, Công ước Brussels 1952, 04 Công ước Giơnevơ năm 1958 về luật biển, UNCLOS 1982, MARPOL 73/78, Công ước Cứu hộ Salvage 1989, Công ước MCA.
  • Án lệ quốc tế: Vụ tàu Lotus (PCIJ, 1927), vụ tàu M/V Saiga (ITLOS, 1999), vụ tàu Virginia G (ITLOS, 2014).
  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Luật Biển Việt Nam 2012, Luật Biên giới quốc gia 2003, Bộ luật Hàng hải 2015, các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về thủy sản, khoáng sản, tài nguyên môi trường biển.
  • Báo cáo số liệu thực tế: Báo cáo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý vi phạm trên biển của Cảnh sát biển Việt Nam giai đoạn 2008 - 2016.

Nội dung chính theo từng chương

Danh mục bảng, biểu và sơ đồ trong luận án

STT Tên bảng, biểu và sơ đồ Vị trí trang trong luận án
1 Sơ đồ 1: Các vùng biển theo quy định của UNCLOS Trang 54
2 Biểu đồ 1: Hoạt động tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát biển Việt Nam giai đoạn 2008 - 2016 Trang 112
3 Biểu đồ 2: Tình hình kiểm tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm hành chính của Cảnh sát biển Việt Nam giai đoạn 2008 - 2016 Trang 113

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 tập trung rà soát và đánh giá có hệ thống các kết quả nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến 04 nhóm vấn đề chính:

  1. Định nghĩa, đặc điểm và lịch sử hình thành: Chỉ ra rằng đa số công trình nghiêng về cách hiểu quyền tài phán theo nghĩa rộng (bao gồm lập pháp, hành pháp và tư pháp), đồng thời xác định khoảng trống về việc thiếu công trình nghiên cứu trực diện lịch sử phát triển quyền tài phán trên biển.
  2. Nguyên tắc xác định quyền tài phán: Điểm luận các mô hình phân loại nguyên tắc của Luc Reydams (7 nguyên tắc), Cedric Ryngaert (4 nguyên tắc) và các học giả Việt Nam, chỉ ra việc chưa làm rõ thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các nguyên tắc này trên các vùng biển.
  3. Cơ sở xác định quyền tài phán: Phân tích phán quyết vụ tàu Lotus (1927) cùng các cơ sở xuất phát từ chủ quyền quốc gia, luật tập quán quốc tế và pháp luật quốc gia.
  4. Nội dung quyền tài phán trong 03 lĩnh vực chuyên biệt: Tổng hợp tài liệu quốc tế và trong nước về hoạt động đi lại hàng hải, thăm dò - khai thác tài nguyên thiên nhiên và NCKHB, từ đó xác định các vấn đề mới chưa được giải quyết thấu đáo như đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU Fishing), khai thác vượt mức, nghiên cứu khoa học vượt giấy phép và sự phối hợp giữa các lực lượng chấp pháp trên biển.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận chung về quyền tài phán của quốc gia trên biển

Chương 2 làm sáng tỏ bản chất pháp lý và cơ chế vận hành của quyền tài phán trên biển thông qua ba nội dung trọng tâm:

Khái niệm và sự tiến hóa của quyền tài phán trên biển

Luận án phân tích sự phát triển của quyền tài phán qua các giai đoạn lịch sử:

  • Giai đoạn trước thế kỷ 19: Quyền tài phán hoàn toàn đồng nhất và không thể tách rời chủ quyền lãnh thổ; trọng tâm là phân định biển thuộc chủ quyền với biển cả tự do.
  • Giai đoạn từ thế kỷ 19 đến năm 1958: Bắt đầu có sự phân tách tương đối giữa chủ quyền và quyền tài phán do nhu cầu thông thương hàng hải và sự xuất hiện của học thuyết quyền qua lại không gây hại (innocent passage - bắt nguồn từ gốc Latin innoxium). Công ước Barcelona 1921 thừa nhận tự do quá cảnh; Tuyên bố Truman năm 1945 mở đường cho yêu sách tài phán đối với thềm lục địa ngoài lãnh hải. Đến Công ước Giơnevơ năm 1958, quyền tài phán tồn tại ở 03 mức độ: (1) tuyệt đối trong nội thủy, (2) hoàn toàn và đầy đủ trong lãnh hải, (3) xuất phát từ quyền chủ quyền tại vùng tiếp giáp và thềm lục địa.
  • Giai đoạn từ năm 1958 đến nay (UNCLOS 1982): Hoàn thiện quy chế tài phán đa tầng, làm rõ sự khác biệt giữa quyền tài phán tại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa:
[Nội thủy]            -> Quyền tài phán hoàn toàn và tuyệt đối
[Lãnh hải]            -> Quyền tài phán hoàn toàn và đầy đủ (bị giới hạn bởi quyền qua lại không gây hại)
[Vùng tiếp giáp]      -> Quyền kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị vi phạm về 4 lĩnh vực (hải quan, thuế khóa, y tế, nhập cư)
[Vùng ĐQKT & Thềm LĐ] -> Quyền chủ quyền và quyền tài phán chuyên biệt đối với tài nguyên, NCKHB, bảo vệ môi trường, công trình nhân tạo

Luận án chỉ rõ tính chất đặc quyền của thềm lục địa cao hơn vùng đặc quyền kinh tế: quyền đối với thềm lục địa tồn tại mặc nhiên (ipso facto và ab initio) không phụ thuộc vào tuyên bố hay sự chiếm hữu thực tế (Điều 77 UNCLOS), trong khi vùng đặc quyền kinh tế đòi hỏi quốc gia phải chính thức tuyên bố xác lập (Điều 56, 75 UNCLOS).

Các nguyên tắc xác định quyền tài phán trên biển

  • Nguyên tắc lãnh thổ: Giữ vai trò nền tảng. Trong luật biển, nguyên tắc này mở rộng có giới hạn ra vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đối với các lĩnh vực được UNCLOS trao quyền. Quyền truy đuổi (right of hot pursuit theo Điều 111 UNCLOS, vụ án M/V Saiga) là sự mở rộng hợp pháp thẩm quyền kiểm soát ra biển quốc tế khi đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định.
  • Nguyên tắc quốc tịch (Luật cờ tàu): Tàu thuyền chịu sự tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ khi hoạt động trên biển quốc tế. Luận án phân tích tiêu chí xác định tàu thuyền theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015, Luật Biên giới quốc gia 2003, Luật Biển Việt Nam 2012 và yêu cầu về "mối liên hệ thực chất" (genuine link) theo Điều 91, 94 UNCLOS và phán quyết vụ Virginia G (2014). Đồng thời, luận án bác bỏ quan điểm xem tàu thuyền là "lãnh thổ nổi" tuyệt đối thông qua phân tích phán quyết vụ Lotus (1927).
  • Nguyên tắc phổ quát: Áp dụng đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng trật tự pháp lý quốc tế trên biển (như cướp biển, buôn bán nô lệ, phát sóng trái phép từ biển quốc tế).
  • Thứ tự ưu tiên áp dụng: Luận án thiết lập trật tự ưu tiên: tại nội thủy và lãnh hải, nguyên tắc lãnh thổ chiếm ưu thế tuyệt đối; tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, quyền tài phán của quốc gia ven biển ưu tiên trong các lĩnh vực thuộc quyền chủ quyền, ngoài các lĩnh vực này sẽ ưu tiên áp dụng nguyên tắc luật cờ tàu; tại biển cả, nguyên tắc luật cờ tàu và nguyên tắc phổ quát giữ vị trí chủ đạo.

Xung đột và giải quyết xung đột quyền tài phán

Luận án chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến xung đột thẩm quyền (sự trùng lặp giữa nguyên tắc cờ tàu và nguyên tắc lãnh thổ, vùng biển chồng lấn chưa phân định) và tổng kết xu hướng xử lý dựa trên hoạt động xét xử của ITLOS, ICJ, PCA cũng như các thỏa thuận song phương, đa phương giữa các quốc gia.


Chương 3: Pháp luật quốc tế về quyền tài phán của quốc gia trên biển, thực tiễn thi hành tại một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Chương 3 phân tích chi tiết khung pháp lý quốc tế và thực tiễn thi hành:

  • Khung pháp lý quốc tế:
    • Hoạt động đi lại của tàu thuyền nước ngoài: Quy chế nội thủy (thẩm quyền của quốc gia có cảng), quy chế lãnh hải (điều kiện qua lại không gây hại, quyền đình chỉ tạm thời, quyền tài phán hình sự và dân sự theo Điều 27, 28 UNCLOS), quy chế tự do hàng hải trong vùng đặc quyền kinh tế.
    • Hoạt động thăm dò, khai thác và quản lý tài nguyên: Cơ chế xác định tổng sản lượng đánh bắt cho phép (TAC), nghĩa vụ cho phép quốc gia khác tiếp cận phần sản lượng dư thừa (Điều 62 UNCLOS), ngoại lệ đối với các quốc gia phụ thuộc nặng nề vào nghề cá (Điều 71 UNCLOS), kiểm soát tài nguyên phi sinh vật ở thềm lục địa.
    • Hoạt động nghiên cứu khoa học biển: Thẩm quyền chấp thuận rõ ràng của quốc gia ven biển đối với NCKHB trong nội thủy và lãnh hải; cơ chế đồng ý ngầm (implied consent) trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (Điều 252 UNCLOS); quyền đình chỉ hoặc chấm dứt hoạt động nghiên cứu khi vi phạm phê duyệt.
  • Thực tiễn quốc tế và bài học cho Việt Nam: Rà soát pháp luật và mô hình chấp pháp của một số quốc gia tiêu biểu, rút ra các bài học về hoàn thiện quy trình cấp phép NCKHB, xây dựng cơ chế giám sát thực thi pháp luật nghề cá chống IUU Fishing, và phân định thẩm quyền rõ ràng giữa các lực lượng thực thi pháp luật trên biển.

Chương 4: Pháp luật và thực tiễn thi hành quyền tài phán trên các vùng biển của Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chương 4 đánh giá toàn diện hệ thống pháp luật và thực tiễn thực thi của Việt Nam:

Lịch sử phát triển pháp luật biển Việt Nam

Phân tích qua ba mốc thời gian: Giai đoạn trước năm 1945; Giai đoạn 1945 - 1975 (tuyên bố về vùng biển và quy chế kiểm soát bờ biển); Giai đoạn 1975 đến nay (Tuyên bố năm 1977 của Chính phủ, Tuyên bố năm 1982 về đường cơ sở, gia nhập UNCLOS năm 1994, ban hành Luật Biển Việt Nam năm 2012 và Bộ luật Hàng hải năm 2015).

Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành theo ba nhóm lĩnh vực

  1. Đối với hoạt động đi lại của tàu thuyền nước ngoài: Phân tích thẩm quyền xử lý tàu thuyền vi phạm quy chế qua lại không gây hại trong lãnh hải, tàu quân sự nước ngoài đi vào lãnh hải Việt Nam, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bắt giữ và xử phạt hành chính.
  2. Đối với hoạt động thăm dò, khai thác, quản lý tài nguyên: Thực tiễn quản lý tài nguyên sinh vật (ngăn chặn tàu cá nước ngoài xâm phạm vùng biển đánh bắt trái phép, xử lý vi phạm IUU) và tài nguyên phi sinh vật (bảo đảm an ninh, an toàn cho các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam).
  3. Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học biển: Thủ tục cấp phép, kiểm tra hồ sơ, phê duyệt và giám sát tàu nghiên cứu khoa học nước ngoài vào vùng biển Việt Nam theo quy định của Luật Biển Việt Nam 2012 và các nghị định hướng dẫn.

Đánh giá số liệu chấp pháp thực tế

Dựa trên số liệu tổng kết hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam (CSBVN) giai đoạn 2008 - 2016 (trình bày tại Biểu đồ 1 và Biểu đồ 2 của luận án):

  • Công tác tuần tra, kiểm soát được duy trì thường xuyên, kịp thời phát hiện hàng nghìn lượt tàu thuyền nước ngoài vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.
  • Công tác kiểm tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm hành chính tập trung vào các hành vi vi phạm về hàng hải, đánh bắt thủy sản trái phép, buôn lậu, gian lận thương mại và gây ô nhiễm môi trường biển.

Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi

  • Quan điểm, chủ trương: Bám sát các nghị quyết của Đảng về chiến lược biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.
  • Giải pháp lập pháp: Sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn Luật Biển Việt Nam 2012; nội luật hóa đầy đủ các quy định của UNCLOS về kiểm soát tài nguyên, cấp phép NCKHB; quy định chặt chẽ chế tài xử phạt hành chính và hình sự đối với tàu thuyền nước ngoài vi phạm.
  • Giải pháp tổ chức thực thi: Tăng cường trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao năng lực cho lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, Bộ đội Biên phòng; hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành giữa các lực lượng chấp pháp; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong quản lý và nghiên cứu khoa học biển.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đưa ra 06 đóng góp khoa học mới:

  1. Làm sáng tỏ lý luận về quyền tài phán trên biển: Bổ sung và hệ thống hóa định nghĩa, nội dung, đặc điểm của quyền tài phán trong luật biển quốc tế; luận giải sự phân tách tương đối giữa chủ quyền và quyền tài phán; xác định rõ nội hàm và thứ tự ưu tiên áp dụng các nguyên tắc xác định quyền tài phán (lãnh thổ, quốc tịch, phổ quát).
  2. Xác định cơ chế xử lý xung đột quyền tài phán: Làm rõ cơ sở, các dạng xung đột thẩm quyền giữa quốc gia ven biển và quốc gia tàu mang cờ; phân tích xu hướng giải quyết tranh chấp thông qua thực tiễn tài phán quốc tế (ICJ, ITLOS, PCA) và đàm phán ngoại giao.
  3. Đánh giá chuyên sâu 03 lĩnh vực trọng yếu: Phân tích toàn diện quy định quốc tế về quyền tài phán đối với: hoạt động đi lại của tàu thuyền; thăm dò, khai thác, quản lý tài nguyên thiên nhiên; hoạt động NCKHB. Nhận diện các thách thức đương đại như đánh bắt cá IUU, khai thác vượt mức, nghiên cứu khoa học vượt giấy phép.
  4. Hệ thống hóa kinh nghiệm quốc tế: Tổng kết kinh nghiệm lập pháp và thực thi quyền tài phán của một số quốc gia có biển, rút ra các bài học thực tiễn phù hợp cho Việt Nam.
  5. Đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực thi của Việt Nam: Nhận diện rõ ràng các thành tựu, khoảng trống pháp lý và những hạn chế trong hoạt động tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm của các lực lượng chấp pháp trên biển giai đoạn 2008 - 2016.
  6. Đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể, khả thi: Đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật biển Việt Nam, nâng cao năng lực phối hợp giữa các lực lượng chấp pháp (Cảnh sát biển, Kiểm ngư, Biên phòng) và đẩy mạnh cơ chế hợp tác khu vực/quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào đối tượng tàu thuyền nước ngoài và giới hạn trong 03 lĩnh vực (hàng hải, tài nguyên, NCKHB), chưa đi sâu vào các lĩnh vực khác như quyền tài phán đối với bảo vệ cáp và đường ống ngầm quốc tế, bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (BBNJ). Số liệu thực tiễn chấp pháp dừng lại ở giai đoạn 2008 - 2016.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu quyền tài phán trong việc bảo vệ môi trường biển và ứng phó sự cố tràn dầu xuyên biên giới.
    • Nghiên cứu thực thi quyền tài phán đối với các loại phương tiện hàng hải không người lái (unmanned maritime vehicles) và thiết bị tự hành ngầm dưới biển.
    • Cập nhật đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật của Cảnh sát biển Việt Nam sau khi Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018 có hiệu lực.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan xây dựng chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho việc sửa đổi, bổ sung các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Biển Việt Nam 2012, Bộ luật Hàng hải 2015, Luật Thủy sản và các văn bản về quản lý hoạt động NCKHB của người/phương tiện nước ngoài.
  • Đối với lực lượng thực thi pháp luật trên biển (Cảnh sát biển, Kiểm ngư, Bộ đội Biên phòng): Là tài liệu tham khảo về căn cứ pháp lý, trình tự xử lý đối với tàu thuyền nước ngoài vi phạm trong các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là tài liệu chuyên khảo chuyên sâu phục vụ giảng dạy môn Luật quốc tế, Luật Biển quốc tế, Quản lý nhà nước về biển - đảo tại các cơ sở đào tạo luật học và quan hệ quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm "quyền tài phán" theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng?

Luận án tiếp cận khái niệm quyền tài phán theo nghĩa rộng. Theo đó, quyền tài phán của quốc gia trên biển không chỉ bó hẹp ở thẩm quyền xét xử của tòa án (nghĩa hẹp) mà bao gồm toàn bộ ba quyền năng pháp lý công: quyền lập pháp (ban hành quy định điều chỉnh), quyền hành pháp (tuần tra, kiểm soát, cưỡng chế, bắt giữ) và quyền tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử các hành vi vi phạm).

2. Sự khác nhau căn bản về tính chất pháp lý giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo phân tích của luận án là gì?

Luận án chỉ ra hai điểm khác biệt căn bản:

  • Về việc xác lập: Quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa mang tính đương nhiên (ipso facto và ab initio theo Điều 77 UNCLOS), không cần chiếm hữu thực tế hay tuyên bố công khai; trong khi vùng đặc quyền kinh tế đòi hỏi quốc gia phải chính thức tuyên bố xác lập (chiều rộng tối đa 200 hải lý).
  • Về tính chất đặc quyền tài nguyên: Quyền đối với tài nguyên thềm lục địa là đặc quyền tuyệt đối (nếu quốc gia ven biển không khai thác thì không ai có quyền khai thác nếu không có sự đồng ý của quốc gia đó); trong khi tại vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có nghĩa vụ xác định hạn ngạch và tạo điều kiện cho các nước khác khai thác phần sản lượng tài nguyên sinh vật dư thừa theo Điều 62 UNCLOS (trừ ngoại lệ tại Điều 71).

3. Nguyên tắc luật cờ tàu được Tòa án Luật biển Quốc tế (ITLOS) giải thích như thế nào qua các án lệ được trích dẫn?

Qua vụ M/V Saiga (1999) và vụ Virginia G (2014), ITLOS khẳng định:

  • Việc xác định tiêu chí, cấp và tước quốc tịch của tàu thuyền thuộc thẩm quyền đặc quyền của quốc gia mang cờ.
  • Các quốc gia khác không được quyền từ chối công nhận quốc tịch của một con tàu chỉ vì lý do "thiếu mối liên hệ thực chất" giữa tàu và quốc gia mang cờ. Yêu cầu "mối liên hệ thực chất" theo Điều 91 và Điều 94 UNCLOS được hiểu là nghĩa vụ của quốc gia mang cờ phải thực hiện sự kiểm soát hiệu quả về mặt hành chính, kỹ thuật và xã hội đối với con tàu.

4. Luận án sử dụng dữ liệu thực tiễn nào để đánh giá năng lực thực thi quyền tài phán trên biển của Việt Nam?

Luận án sử dụng báo cáo số liệu thực tế về hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam giai đoạn 2008 - 2016, cụ thể được hệ thống hóa qua:

  • Biểu đồ 1 (trang 112): Hoạt động tuần tra, kiểm soát trên các vùng biển.
  • Biểu đồ 2 (trang 113): Tình hình kiểm tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm hành chính đối với các tàu thuyền vi phạm.

Kết luận

Luận án "Quyền tài phán của quốc gia trên biển – Những vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Thị Hồng Yến là công trình nghiên cứu chuyên khảo chuyên sâu về luật biển quốc tế tại Việt Nam. Luận án đã hệ thống hóa lý luận về bản chất, nguyên tắc và cơ chế phân định quyền tài phán trên các vùng biển theo UNCLOS 1982, đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng trong ba lĩnh vực trọng yếu: hàng hải, tài nguyên thiên nhiên và nghiên cứu khoa học biển. Các kết quả nghiên cứu và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực chấp pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn trong công tác bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển của Việt Nam.