Tổng quan luận án

Công tác quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao là một nội dung quan trọng trong chiến lược hiện đại hóa nông nghiệp và tái cơ cấu kinh tế nông thôn tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Khoa học quản lý (mã số: 9310110_QL) của nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Tuân, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Đăng Núi, đã tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước tại địa bàn Thủ đô Hà Nội.

Về tính cấp thiết, thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, giáo dục, kinh tế, khoa học và công nghệ. Địa bàn thành phố có diện tích tự nhiên 3.358,92 km2, trong đó khu vực nông thôn chiếm 2.841,8 km2 (chiếm 84,6% diện tích tự nhiên). Quy mô dân số khoảng 10 triệu người đang sinh sống, học tập và làm việc, với 4,1 triệu người ở khu vực nông thôn; lượng khách du lịch năm 2019 đạt gần 30 triệu lượt, bao gồm khoảng 7 triệu khách quốc tế, tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản chất lượng cao rất lớn. Diện tích đất nông nghiệp của Hà Nội đạt 1.886 km2 (188,6 nghìn ha), trong đó đất sản xuất nông nghiệp trên 150 nghìn ha, và thành phố đã hoàn thành dồn điền đổi thửa gần 79.000 ha, tạo tiền đề thuận lợi cho cơ giới hóa và ứng dụng kỹ thuật cao.

Năm 2017, giá trị sản xuất nông nghiệp thành phố đạt 35 nghìn tỷ đồng, trong đó giá trị sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao chiếm 25% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp. Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chương trình số 02-CTr/TU ngày 26/4/2016 xác định phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nhiệm vụ trọng tâm; Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐND ngày 08/7/2015 về cơ chế hỗ trợ; Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố đã quy hoạch 9 khu nông nghiệp công nghệ cao và kêu gọi 7 dự án đầu tư trực tiếp. Tuy nhiên, tính đến đầu năm 2020, toàn thành phố chỉ có 164 mô hình nông nghiệp công nghệ cao (gồm 109 mô hình trồng trọt, 40 mô hình chăn nuôi, 15 mô hình thủy sản). Đáng chú ý, toàn địa bàn chỉ có duy nhất 1 doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Kinoko Thanh Cao tại xã Đốc Tín, huyện Mỹ Đức hoạt động sản xuất nấm; phần lớn mô hình còn lại có quy mô nhỏ lẻ, ứng dụng công nghệ ở mức độ từng phần. Cả nước tính đến hết năm 2019 cũng chỉ có 45 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao. Thực trạng này xuất phát từ nguyên nhân quản lý nhà nước chưa chuyên nghiệp, chính sách hỗ trợ chậm đi vào cuộc sống, thủ tục đất đai và tín dụng còn nhiều rào cản.

Về khoảng trống nghiên cứu, lý luận quản lý nhà nước về nông nghiệp công nghệ cao ở cấp chính quyền địa phương cấp tỉnh chưa được hệ thống hóa đầy đủ, đặc biệt là việc phân tích vai trò can thiệp khắc phục các thất bại thị trường và tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ đầu vào tại một đô thị đặc thù.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ:

  • Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước của chính quyền thành phố trong thời gian tới.
  • Các mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá tổng quan các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong và ngoài nước về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp và nông nghiệp công nghệ cao để xác định khoảng trống nghiên cứu.
    2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao; làm rõ nội hàm, yêu cầu và nội dung quản lý.
    3. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước của chính quyền thành phố Hà Nội đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn 2015–2019, chỉ rõ kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
    4. Đề xuất quan điểm, định hướng và các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước của chính quyền thành phố Hà Nội đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận phát triển nông nghiệp công nghệ cao vừa là đối tượng vừa là kết quả của quản lý nhà nước. Về nội dung quản lý, tác giả tập trung vào 3 trục chính: (i) Ban hành và phổ biến quy hoạch, chương trình, chính sách; (ii) Tổ chức thực hiện 4 chính sách hỗ trợ phát triển (đất đai, cơ sở hạ tầng, vốn tín dụng, đào tạo nguồn nhân lực) theo 3 khía cạnh: mức độ biết đến, khả năng tiếp cận và tính phù hợp; (iii) Hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm khắc phục thất bại thị trường thông qua cải cách thủ tục hành chính và xúc tiến đầu tư, thương mại.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội, tập trung khảo sát tại 8 huyện có hoạt động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao: Đan Phượng, Mỹ Đức, Thanh Oai, Gia Lâm, Mê Linh, Thường Tín, Quốc Oai, Ứng Hòa.
  • Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng giai đoạn 2015–2019; các định hướng và giải pháp được đề xuất cho giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
Chỉ tiêu tổng quan tại Hà Nội Giá trị ghi nhận trong luận án
Diện tích đất tự nhiên 3.358,92 km2
Diện tích khu vực nông thôn 2.841,8 km2 (chiếm 84,6% diện tích tự nhiên)
Dân số thành phố Khoảng 10 triệu người (nông thôn khoảng 4,1 triệu người)
Diện tích đất nông nghiệp 1.886 km2 (188,6 nghìn ha)
Diện tích đã dồn điền đổi thửa Gần 79.000 ha
Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2017 35 nghìn tỷ đồng
Tỷ trọng nông nghiệp công nghệ cao (2017) 25% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp
Tổng số mô hình nông nghiệp công nghệ cao (2020) 164 mô hình (109 trồng trọt, 40 chăn nuôi, 15 thủy sản)
Số doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận 01 doanh nghiệp (Công ty TNHH XNK Kinoko Thanh Cao)

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai tuyến nội dung lớn: phát triển nông nghiệp công nghệ cao và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.

Về hướng nghiên cứu phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên thế giới, các học giả đã làm rõ cấu trúc kinh tế và vai trò của công nghệ. Linda Lundmark và Camilla Sandstrom (2013) phân tích lý thuyết nguồn lực tự nhiên và sự phát triển vùng tại Thụy Điển, nhấn mạnh tính đa chiều của hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn. Peterson (1986) nghiên cứu sự chuyển đổi kinh tế nông nghiệp tại Mỹ và châu Âu, cho rằng chính sách cần tập trung giảm thiểu chi phí điều chỉnh. Van der Heideb và W. Heijman (2013) làm rõ bốn khía cạnh của nông nghiệp đa chức năng tại Hà Lan (phát triển cây xanh; du lịch, giải trí, giáo dục; kinh doanh trang trại; dịch vụ xanh). Alston (2014) chỉ ra xu hướng suy giảm sản lượng nông nghiệp ở các nước thu nhập cao và gia tăng ở các nước thu nhập trung bình (Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Indonesia). Barbara Chmielewska (2009) khẳng định phát triển đa ngành tại châu Âu cần dựa vào hỗ trợ tài chính từ chính phủ. Báo cáo của FAO (2006) đúc kết bài học tăng trưởng và tái cơ cấu nông nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường tại Trung Quốc và Ấn Độ. Minna Mikkola (2008) tổng kết 4 cơ chế quản lý chuỗi cung ứng thực phẩm: quan hệ thị trường, thứ bậc, mạng lưới và xã hội.

Vấn đề ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật được khẳng định là yếu tố quyết định bởi Feder và cộng sự (1985), Hoppel (1994), Foster và Roenweing (1996), Kohli và Singh (1997), Rogers (2003), Uaiene (2009). Radhika Kapur (2018) nghiên cứu việc áp dụng kỹ thuật thu hoạch và sản xuất tại Ấn Độ để cải thiện năng suất lao động. Dan Senor và Saul Singer (2008) phân tích mô hình Israel trong ứng dụng công nghệ cao. Bonzovanni và Lowenberg-Deboer (2004), Silva và cộng sự (2007), Frankelius và cộng sự (2017), Mondal và Basu (2009) chứng minh vai trò kinh tế và bảo vệ môi trường của nông nghiệp công nghệ cao đối với việc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Huy Tú (2017) ghi nhận lịch sử hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao: Mỹ có trên 100 khu từ thập niên 1980; Anh có 38 khu vườn khoa học năm 1988 với hơn 800 doanh nghiệp; Phần Lan có 9 khu năm 1996; Trung Quốc có 405 khu (1 cấp quốc gia, 42 cấp tỉnh, 362 cấp thành phố) với giá trị sản lượng bình quân 40.000 USD/ha/năm, gấp 40-50 lần mô hình cũ; tại Israel năng suất cà chua đạt 250-300 tấn/ha, bưởi đạt 100-150 tấn/ha, giá trị sản lượng bình quân đạt 120 nghìn USD/ha. Vấn đề thu hút đầu tư được Hallam (2011), Tseng và Zebregs (2002), Murakami và cộng sự (2007), Zhang và cộng sự (2010), Tey và Brindal (2012), Singh và cộng sự (1995) phân tích dưới các khía cạnh đất đai, cơ sở hạ tầng, mô hình trình diễn và ưu đãi thuế, lãi suất.

Ở trong nước, các nghiên cứu tập trung vào quy hoạch và tháo gỡ rào cản sản xuất. Viện Chiến lược phát triển (2016) nghiên cứu quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Trần Ngọc Ngoạn (2008), Nguyễn Điền (1997), Đặng Kim Sơn (2008, 2009) phân tích quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và chiến lược tam nông. Nguyễn Minh Phong (2011) chỉ ra sáu khâu trọng tâm phát triển nông nghiệp (đất đai, chuyển dịch cơ cấu, đào tạo nhân lực, kết cấu hạ tầng, thương hiệu thị trường, tài chính tín dụng). Phạm S (2014) đúc kết chiến lược công nghệ thông tin của Nhật Bản, chiến lược "Đầu tư cao - sản xuất nhiều" của Hà Lan và công nghệ sinh học của Hàn Quốc. Nguyễn Thị Kim Sang (2017), Nguyễn Anh Phong và Phạm Thị Thu Hà (2017) đề xuất giải pháp quy hoạch, vốn và nâng cấp hạ tầng phòng thí nghiệm. Trần Thanh Quang (2016), Đỗ Xuân Trường (2017), Phạm Văn Hiển (2014), Phạm Trần Minh Trang (2017) chỉ ra các rào cản về vốn, đất đai, nguồn nhân lực và liên kết chuỗi giá trị; Bùi Hồng Nhung (2016) phản ánh tỷ lệ vốn FDI vào nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 1%; Trần Hào Hùng (2006), Đăng Nguyên (2011), Tăng Hoàng Vinh (2015), Trương Vĩnh Xuân (2010), Mai Hoa (2013), Đỗ Xuân Trường và Lê Thị Thu (2010), Trần Đình Thao và cộng sự (2010), Phạm Mạnh Cường (2011), Đỗ Phú Hải (2016), Trọng Nguyễn (2014), Nguyễn Đắc Thu và Nguyễn Thị Thanh Hà (2016), Nguyễn Lê Hằng và Đặng Bảo Hà (2013), Nguyễn Duy Mậu (2016) đã đề xuất quy hoạch khu vùng, tích tụ đất đai, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và đa dạng hóa nguồn vốn.

Về quản lý nhà nước đối với nông nghiệp công nghệ cao: Nghiên cứu quốc tế của TCP/Belize (2003) phân tích khiếm khuyết trong tổ chức thực thi và hệ thống thông tin thị trường; Lars Andersson và cộng sự (2017) đưa ra 7 kịch bản phát triển nông nghiệp Thụy Điển đến năm 2030; Kaaya (1999), Phougat (2006), Samah và cộng sự (2009) nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin trong truy xuất nguồn gốc nông sản; Báo cáo của Cục Thống kê Israel (2016) và Dan Senor - Saul Singer (2008) chỉ ra mô hình liên kết "4 nhà" do chính phủ vận hành; Kebede và cộng sự (1990), McNamara, Wetzstein và Douce (1991) tiếp cận yếu tố thể chế. Trong nước, Phạm S (2014) khảo sát chính sách hỗ trợ tín dụng và cơ giới hóa của Đài Loan, Thái Lan, Bỉ; TTC Việt Nam (2017) nghiên cứu vai trò hỗ trợ giá và lập trung tâm khảo nghiệm giống của chính phủ Nhật Bản từ thời Minh Trị; Đỗ Xuân Trường và Lê Thị Thu (2010), Vũ Thanh Nguyên (2017), Trịnh Kim Liên (2016), Trịnh Duy Luân (2017), Phùng Chí Cường (2017) kiến nghị nhà nước giữ vai trò kiến tạo, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, dồn điền đổi thửa và hoàn thiện chính sách hỗ trợ đầu tư.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Mặc dù các công trình đã đề cập nhiều khía cạnh kỹ thuật, kinh tế trang trại hoặc chính sách vĩ mô của trung ương, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Đặc biệt, còn thiếu vắng các nghiên cứu đánh giá việc thực thi các chính sách cụ thể (đất đai, hạ tầng, vốn, nhân lực) và cơ chế kiểm soát, khắc phục các thất bại của thị trường tại địa bàn đặc thù như Thủ đô Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên lý luận quản lý nhà nước về kinh tế và các quy định pháp luật hiện hành. Quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao được định nghĩa là sự quản lý vĩ mô mang tính chất thực hiện quyền lực Nhà nước nhằm tạo lập tiền đề, môi trường cho nông nghiệp công nghệ cao phát triển thông qua quy hoạch, chương trình, chính sách; tổ chức thực thi các chính sách đó; đồng thời điều tiết nhằm khắc phục các thất bại của thị trường trong sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng nông sản công nghệ cao (Đỗ Hoàng Toàn và cộng sự, 2005; Uông Chu Lưu, 2016; Nguyễn Thị Thu Nguyên, 2019). Hoạt động quản lý mang các tính chất: phân cấp qua nhiều tầng bậc, mang tính liên ngành; thực hiện thông qua đội ngũ cán bộ công chức đại diện; mang tính chất đa mục tiêu (kinh tế, xã hội, môi trường) và có độ trễ chính sách nhất định.

Căn cứ Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, bộ máy chính quyền cấp tỉnh gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND). HĐND ban hành nghị quyết, phê duyệt quy hoạch và cơ chế chính sách của địa phương; UBND tổ chức thực hiện, chỉ đạo các sở chuyên ngành (nòng cốt là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) và UBND cấp huyện triển khai thực tế. Quản lý nhà nước cấp tỉnh phải đáp ứng 5 yêu cầu:

  1. Tính hiệu lực: Thể hiện qua quyền lực ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, cơ chế ưu đãi và đưa chính sách vào thực tế đời sống.
  2. Tính hiệu quả: Đánh giá tương quan giữa nguồn lực đầu vào (ngân sách, đất đai, nhân lực) và kết quả đầu ra (số lượng mô hình, tỷ trọng giá trị sản phẩm, mức độ thụ hưởng chính sách).
  3. Tính linh hoạt bắt kịp thị trường: Dự báo xu thế, kịp thời điều chỉnh chính sách trước các biến động kinh tế số và hội nhập.
  4. Tính khoa học, đúng đắn và trúng vấn đề: Ra quyết định dựa trên dữ liệu, dự báo và thực chứng, không theo ý chí chủ quan.
  5. Tính chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình: Quy định rõ quyền hạn, chế tài của từng cơ quan, tăng cường đối thoại với người dân và doanh nghiệp.

Nội dung quản lý nhà nước cấp tỉnh gồm 3 thành tố:

  • Xây dựng, ban hành và phổ biến quy hoạch, chương trình, cơ chế chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao.
  • Tổ chức thực hiện quy hoạch, chương trình và chính sách (tập trung vào 4 nhóm chính sách nguồn lực đầu vào: hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ tín dụng và vốn vay, hỗ trợ tiếp cận đất đai, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực).
  • Kiểm tra, giám sát nhằm khắc phục thất bại của thị trường (tập trung vào cải cách thủ tục hành chính, cung cấp thông tin thị trường, xúc tiến thương mại và đầu tư).

Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước gồm: đặc điểm kinh tế - xã hội địa phương; thể chế và cơ chế chính sách; năng lực và thái độ làm việc của công chức; sự phối hợp giữa 4 nhà (Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà nông); các yếu tố đầu vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Luận án đúc kết kinh nghiệm quản lý của Trung Quốc (mô hình 405 khu nông nghiệp công nghệ cao các cấp), Israel (mô hình liên kết 4 nhà và công nghệ tưới tiết kiệm), một số nước châu Á và kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh (chính sách phát triển Khu nông nghiệp công nghệ cao Củ Chi).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Nguồn tư liệu thứ cấp: Các văn kiện của Thành ủy Hà Nội (Chương trình số 02-CTr/TU); Nghị quyết của HĐND thành phố (Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐND); các quyết định, kế hoạch của UBND thành phố; số liệu Niên giám thống kê thành phố Hà Nội và báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội giai đoạn 2015–2019.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Thực hiện điều tra xã hội học bằng bảng hỏi khảo sát và phỏng vấn sâu. Địa bàn khảo sát thực hiện tại 8 huyện: Đan Phượng, Mỹ Đức, Thanh Oai, Gia Lâm, Mê Linh, Thường Tín, Quốc Oai, Ứng Hòa. Đối tượng điều tra gồm các doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX), chủ trang trại, hộ gia đình tham gia sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; đối tượng phỏng vấn sâu là các chuyên gia, cán bộ quản lý cấp sở, huyện, xã.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm, bảng so sánh đối chiếu số liệu phản ánh mức độ nhận biết, khả năng tiếp cận và đánh giá sự phù hợp của các chính sách, đồng thời phân tích định tính từ biên bản phỏng vấn sâu để làm rõ các nút thắt trong công tác quản lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về nông nghiệp công nghệ cao và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Luận án phân tích các quan điểm về chuyển dịch cơ cấu nông thôn của Linda Lundmark và Camilla Sandstrom (2013), Alston (2014); các cơ chế chuỗi cung ứng của Minna Mikkola (2008); vai trò công nghệ của Feder và cộng sự (1985), Rogers (2003); kinh nghiệm phát triển khu công nghệ cao tại Trung Quốc, Mỹ, Anh, Israel của Huy Tú (2017), Dan Senor và Saul Singer (2008).

Tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các nghiên cứu của Đặng Kim Sơn (2008, 2009), Nguyễn Minh Phong (2011), Phạm S (2014), Đỗ Phú Hải (2016), Trần Đình Thao và cộng sự (2010). Phân tích tổng quan chỉ rõ các khó khăn phổ biến tại Việt Nam gồm: thiếu vốn, tích tụ đất đai hạn chế, hạ tầng yếu kém và thiếu lao động kỹ thuật cao. Từ đó, chương này xác định khoảng trống học thuật: chưa có công trình nghiên cứu toàn diện về quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại một đô thị đặc thù như Hà Nội.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Chương 2 luận giải các khái niệm, bản chất, nguyên tắc quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh. Quản lý cấp tỉnh vận hành qua hai thiết chế quyền lực là HĐND và UBND, thực hiện 3 nhóm nội dung quản lý: ban hành và phổ biến chính sách, tổ chức thực hiện 4 nhóm chính sách nguồn lực (đất đai, vốn, hạ tầng, nhân lực), kiểm tra giám sát khắc phục thất bại thị trường. Chương này xác lập khung tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước theo Bảng 2.1 của luận án (đánh giá đầu vào, đầu ra, mức độ tiếp cận, sự hài lòng và tác động kinh tế - xã hội).

Đồng thời, chương 2 phân tích 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng và bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc (phân cấp quản lý khu nông nghiệp công nghệ cao), Israel (đầu tư mạo hiểm và liên kết 4 nhà), Đài Loan, Thái Lan, Bỉ, Nhật Bản và Thành phố Hồ Chí Minh, rút ra các bài học về hoàn thiện quy hoạch, tháo gỡ điểm nghẽn tích tụ ruộng đất và xây dựng các gói tài chính ưu đãi.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Chương 3 trình bày bối cảnh kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội và thiết kế nghiên cứu. Tác giả phân tích đặc điểm địa bàn: diện tích tự nhiên 3.358,92 km2, đất nông nghiệp 188,6 nghìn ha, dân số 10 triệu người (4,1 triệu ở nông thôn), tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm dần. Khung nghiên cứu của luận án (Hình 3.1) được thiết lập để kết nối giữa chủ thể quản lý (chính quyền cấp tỉnh), công cụ quản lý (quy hoạch, chính sách hỗ trợ, giám sát thị trường) và đối tượng quản lý (các cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao).

Chương này mô tả chi tiết phương pháp chọn mẫu khảo sát tại 8 huyện trọng điểm nông nghiệp của Hà Nội (Đan Phượng, Mỹ Đức, Thanh Oai, Gia Lâm, Mê Linh, Thường Tín, Quốc Oai, Ứng Hòa); phương pháp thiết kế bảng hỏi thu thập thông tin về khả năng tiếp cận chính sách đất đai, vốn, hạ tầng, đào tạo kỹ thuật; phương pháp phỏng vấn sâu các nhà quản lý và phương pháp tổng hợp số liệu thống kê mô tả.

Chương 4: Thực trạng quản lý nhà nước của chính quyền Hà Nội về phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Chương 4 cung cấp bức tranh thực trạng sinh động với hệ thống số liệu chi tiết giai đoạn 2015–2019. Về động thái phát triển, đến đầu năm 2020 Hà Nội có 164 mô hình ứng dụng công nghệ cao (109 trồng trọt, 40 chăn nuôi, 15 thủy sản), nhưng chỉ có 1 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận chính thức (Kinoko Thanh Cao).

Về kết quả quản lý:

  • Công tác ban hành quy hoạch: Thành phố đã quy hoạch 9 khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và xác định các vùng sản xuất tập trung sau dồn điền đổi thửa (79.000 ha). Tuy nhiên, việc công khai và phổ biến quy hoạch còn hạn chế, tỷ lệ người dân và doanh nghiệp nắm bắt đầy đủ thông tin quy hoạch chưa cao.
  • Tổ chức thực hiện chính sách: Luận án công bố kết quả điều tra thực tế tại các bảng số liệu (từ Bảng 4.8 đến Bảng 4.12):
    • Chính sách đất đai: Việc tích tụ ruộng đất gặp nhiều trở ngại do hạn điền, tâm lý giữ đất của nông dân và thủ tục chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất phức tạp. Tỷ lệ cơ sở tiếp cận được quỹ đất sạch để mở rộng quy mô sản xuất ở mức thấp.
    • Chính sách cơ sở hạ tầng: Mặc dù thành phố đã hỗ trợ đầu tư đường giao thông nội đồng và kiên cố hóa kênh mương tại một số huyện, hạ tầng cấp điện 3 pha và hệ thống logistics, bảo quản lạnh cho nông nghiệp công nghệ cao vẫn thiếu đồng bộ.
    • Chính sách vốn và tín dụng: Doanh nghiệp và HTX phản ánh khó tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi theo Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐND do yêu cầu tài sản thế chấp khắt khe (tài sản hình thành trên đất nông nghiệp như nhà màng, nhà lưới không được cấp chứng nhận quyền sở hữu để thế chấp).
    • Chính sách đào tạo nhân lực: Các lớp tập huấn chủ yếu mang tính ngắn hạn, chưa đáp ứng yêu cầu vận hành công nghệ tự động hóa, cảm biến hay quản lý chuỗi giá trị.
  • Kiểm tra, giám sát và khắc phục thất bại thị trường: Tác giả chỉ ra hạn chế trong cung cấp thông tin dự báo cung - cầu, xúc tiến thương mại nông sản an toàn chưa liên kết chặt chẽ; thủ tục hành chính liên quan đến cấp phép dự án nông nghiệp công nghệ cao còn nhiều tầng nấc, làm kéo dài thời gian đầu tư.

Chương 5: Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Chương 5 xác định mục tiêu và đề xuất các nhóm giải pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030:

  1. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch: Hoàn thiện quy hoạch vùng, khu nông nghiệp công nghệ cao tích hợp vào quy hoạch chung xây dựng Thủ đô; công khai rộng rãi danh mục các dự án kêu gọi đầu tư trực tiếp (tiếp tục triển khai 7 dự án nông nghiệp công nghệ cao đã lập danh mục giai đoạn 2019-2025).
  2. Hoàn thiện cơ chế chính sách nguồn lực đầu vào: Sửa đổi quy định hỗ trợ lãi suất vay vốn, chấp nhận tài sản trên đất nông nghiệp làm tài sản thế chấp; thiết lập cơ chế linh hoạt cho phép tích tụ, tập trung đất đai thông qua hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất hoặc thành lập ngân hàng đất nông nghiệp; tăng ngân sách hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật chuyên biệt (trạm biến áp, cấp thoát nước chuyên dùng).
  3. Đổi mới tổ chức thực hiện: Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi trường; liên kết chặt chẽ giữa 4 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông); nâng cao chất lượng các chương trình chuyển giao công nghệ sinh học và quản trị nông nghiệp số.
  4. Tăng cường kiểm soát và khắc phục thất bại thị trường: Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính (chỉ số PAR Index), nâng cao chỉ số hỗ trợ doanh nghiệp; phát triển sàn giao dịch thương mại điện tử nông sản, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử bằng mã QR cho nông sản công nghệ cao Hà Nội.
  5. Kiến nghị với Trung ương: Sửa đổi Luật Đất đai về hạn mức và thời hạn giao đất nông nghiệp; sửa đổi các quy định về đăng ký tài sản trên đất nông nghiệp để phục vụ vay vốn ngân hàng.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã làm rõ nội hàm, đặc thù và các yêu cầu quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng thành công khung phân tích gồm 3 nội dung quản lý gắn với 5 yêu cầu thực thi và hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả quản lý tại địa phương.

Về mặt thực tiễn, luận án đã:

  • Phân tích có hệ thống thực trạng quản lý nhà nước của chính quyền thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2015–2019, chỉ rõ khoảng cách lớn giữa văn bản chính sách và việc thụ hưởng của người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
  • Cung cấp các số liệu điều tra thực chứng tại 8 huyện trọng điểm về mức độ tiếp cận 4 nhóm chính sách nguồn lực đầu vào (đất đai, hạ tầng kỹ thuật, vốn vay tín dụng, đào tạo nguồn nhân lực) và chỉ số cải cách thủ tục hành chính.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi đối với chính quyền thành phố Hà Nội nhằm tháo gỡ các nút thắt then chốt về tích tụ ruộng đất, cấp tín dụng dựa trên tài sản dự án công nghệ cao và kết nối thị trường nông sản chất lượng cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 4 nhóm chính sách nguồn lực đầu vào và 2 khía cạnh khắc phục thất bại thị trường (thủ tục hành chính, xúc tiến thương mại), chưa đánh giá toàn diện các chính sách phụ trợ khác như chính sách bảo hiểm nông nghiệp hay bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giống cây trồng, vật nuôi. Dữ liệu khảo sát sơ cấp tập trung tại 8 huyện trọng điểm của Hà Nội trong giai đoạn 2015–2019, chưa bao quát toàn bộ các vùng ven đô khác. Ngoài ra, việc đo lường mức độ tác động của các nhân tố quản lý chủ yếu dựa trên phương pháp thống kê mô tả và điều tra xã hội học, chưa lượng hóa bằng các mô hình kinh tế lượng hồi quy chuỗi thời gian hoặc dữ liệu bảng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng nghiên cứu sang mô hình quản lý chuỗi giá trị liên kết vùng giữa Hà Nội với các tỉnh trong vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng; đồng thời đi sâu phân tích cơ chế quản lý nhà nước đối với các mô hình nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với Thường trực HĐND, UBND thành phố Hà Nội và các sở, ngành chuyên môn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ) trong việc rà soát, sửa đổi các nghị quyết về cơ chế hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn tiếp theo.

Đối với các nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Khoa học quản lý và Chính sách công, luận án cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp thiết kế nghiên cứu khảo sát chính sách công ở cấp chính quyền địa phương. Đồng thời, các doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ trang trại nông nghiệp trên địa bàn Hà Nội có thể sử dụng các phân tích trong luận án để nắm bắt định hướng quy hoạch và quy trình tiếp cận các nguồn hỗ trợ của thành phố.

Câu hỏi thường gặp

1. Tính đến đầu năm 2020, quy mô phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn thành phố Hà Nội đạt mức độ nào? Tính đến đầu năm 2020, toàn thành phố Hà Nội có 164 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phân bổ theo lĩnh vực gồm: 109 mô hình trồng trọt, 40 mô hình chăn nuôi và 15 mô hình thủy sản. Tuy nhiên, toàn thành phố chỉ có duy nhất 1 đơn vị được chính thức cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao.

2. Đơn vị duy nhất được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội thời điểm đó là doanh nghiệp nào? Đó là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Kinoko Thanh Cao, có trụ sở tại xã Đốc Tín, huyện Mỹ Đức, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và chế biến nấm.

3. Khảo sát thực địa của luận án được tiến hành tập trung tại những địa bàn huyện nào của Hà Nội? Khảo sát thực địa và điều tra xã hội học được thực hiện tại 8 huyện có hoạt động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tập trung, bao gồm: Đan Phượng, Mỹ Đức, Thanh Oai, Gia Lâm, Mê Linh, Thường Tín, Quốc Oai và Ứng Hòa.

4. Khung nội dung quản lý nhà nước cấp tỉnh trong luận án gồm những nhóm công việc cơ bản nào? Gồm 3 nội dung cốt lõi: (i) Xây dựng, ban hành và phổ biến quy hoạch, chương trình, cơ chế chính sách; (ii) Tổ chức thực hiện quy hoạch, chương trình và chính sách (tập trung vào 4 nhóm chính sách nguồn lực: đất đai, cơ sở hạ tầng, vốn tín dụng, đào tạo nguồn nhân lực); (iii) Kiểm tra, giám sát nhằm khắc phục thất bại của thị trường (cải cách thủ tục hành chính, xúc tiến đầu tư và thương mại).

5. Điểm nghẽn lớn nhất trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội là gì? Rào cản lớn nhất là yêu cầu tài sản thế chấp của các tổ chức tín dụng. Các tài sản có giá trị đầu tư rất lớn hình thành trên đất nông nghiệp như hệ thống nhà kính, nhà màng, thiết bị điều khiển tự động chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất để làm thủ tục bảo đảm tiền vay theo quy định.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Minh Tuân đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao và kiểm chứng thực nghiệm tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2015–2019. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù thành phố có nhiều tiềm năng về khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ và đã ban hành nhiều chủ trương, nhưng sự phát triển thực tế vẫn chưa tương xứng do những rào cản trong tổ chức thực thi chính sách đất đai, vốn tín dụng và thủ tục hành chính. Hệ thống các giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền Hà Nội nhằm thúc đẩy ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng hiện đại và bền vững.