Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cần nghiên cứu về đề tài luận án; Chương 2. Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về đào tạo sau đại học; 7 Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo sau đại học ở Việt Nam; Chương 4.
Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo sau đại học ở Việt Nam hiện nay. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về đào tạo sau đại học Những nghiên cứu về quản lý hành chính công mới bắt đầu được quan tâm vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Có thể chia thành các giai đoạn như sau: Giai đoạn 1900 - 1960 là giai đoạn mà các vấn đề hiệu quả quản lý gắn với những tìm kiếm và xây dựng các nguyên tắc quản lý nhằm nâng cao chất lượng quản lý, đo lường hiệu suất làm việc của tổ chức. Nhiều nghiên cứu đã đặt ra vấn đề cần phải đo lường hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính và công chức. Giai đoạn 1960 - 1980 là giai đoạn các nghiên cứu tập trung về đánh giá đặt ra nhiệm vụ bổ sung các thiếu hụt về thông tin qua việc phân tích tiến trình và hiệu quả, tác động kinh tế - xã hội của các chương trình quốc gia. Hiệu quả quản lý trở thành một xu hướng nghiên cứu của quản lý công mà các nhà chính trị là những người khởi xướng trước tiên.
Nghiên cứu về hiệu quả quản lý trong giai đoạn này không phải nhằm mục đích nâng cao chất lượng quản lý hay nhằm kiểm soát chi phí, mà nhằm đưa ra các chính sách sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực. Trong phong trào cải cách hành chính bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỷ XX, việc đánh giá hiệu quả các tổ chức của chính phủ rất được coi trọng xuất phát từ thực trạng thâm hụt ngân sách tăng cao, áp lực từ phía các đối tượng nộp thuế và nhằm khắc phục chủ nghĩa quan liêu. Đánh giá và nâng cao hiệu quả QLNN trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chính 9 phủ. Dưới ảnh hưởng của mô hình quản lý công mới (New Public Management), vấn đề đo lường hiệu quả hoạt động (performance measurement) và quản lý thực thi (performance management) với tư cách là cách thức đánh giá trở thành tâm điểm chú ý của các nhà nghiên cứu.
Ý tưởng chủ đạo của quản lý công mới là thay thế từ mô hình của hệ thống hành chính và chính phủ chủ yếu vận hành theo các quy định và quy tắc chặt chẽ bằng mô hình vận hành theo mục tiêu và kết quả. Thay cho việc kiểm soát đầu vào (thông qua các quy định pháp lý nghiêm ngặt và ngân sách cụ thể) ở các hệ thống hành chính cũ, trong mô hình quản lý công mới tập trung trước hết vào vấn đề “quản lý thực thi” tạo nên sự năng động và linh hoạt trong điều hành (xác định mục tiêu và khả năng kiểm soát) để bảo đảm “kết quả đầu ra”, thể hiện thông qua các chỉ số hiệu quả. Trong giai đoạn này, nhiều công trình nghiên cứu đã bổ sung và hoàn thiện lý thuyết về hiệu quả quản lý hành chính nhà nước và tiếp cận nghiên cứu các phương pháp quản lý trong khu vực tư để áp dụng và khu vực công. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về vấn đề này như: “Partitioners Guide to Public Sector Productivity improvement” (Cẩm nang hướng dẫn cho nhà hoạt động thực tiễn trong nâng cao hiệu quả quản lý ở khu vực công) của Morley E.
và Van Nostrand Reinhold (1986) [161]; “Evaluation and Effective Public Management” (Đánh giá về hiệu quả của quản lý công) của Wholey J.[173] Các tác giả cho rằng hiện nay các tổ chức thuộc khu vực công đang hoạt động trong môi trường, các điều kiện luôn thay đổi liên tục. Theo tác giả “việc đo hiệu suất của tổ chức là một chức năng quản lý”, được nghiên cứu độc lập, là một bộ phận của khoa học quản lý; việc đo lường hiệu quả của các tổ chức khu vực công được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng việc áp dụng một cách tổng hợp các phương pháp là rất phức tạp. Việc áp dụng phương pháp đo lường hiệu suất trong lĩnh vực kinh doanh và áp dụng trong lĩnh vực công, việc áp dụng này sẽ giúp tập trung vào các quyết 10 định cốt lõi của tổ chức trong khu vực công, tạo ra sự phát triển của các quá trình nội bộ, tăng động lực của nhân viên để cải thiện và sẽ phục vụ như một công cụ để xác định cải tiến của thực thể như bất kỳ tổ chức không thể làm việc hiệu quả và khách quan mà không đo lường hiệu quả của nó. Nhìn chung, các nhà khoa học Mỹ và Tây Âu đã tập trung vào việc nghiên cứu ứng dụng đánh giá hiệu quả quản lý hành chính nhà nước ở cấp độ tổ chức hay đối với các chương trình, dự án cụ thể, xây dựng và hướng dẫn các phương pháp tính toán chi tiết để định lượng tối đa các loại hiệu quả khác nhau.
Nghiên cứu về QLNN về đào tạo sau đại học ở một số quốc gia châu Âu có thể kể đến một số công trình như: Vught (1993) trong “Patterns of governnsnce in HE: Concepts & Trends”[162], Neave &Vught (1994), trong “Government and HE across three continents: The winds of change” [163] đã đưa ra hai mô hình điều khiển hệ thống GDĐH, đào tạo sau đại học của nhà nước mang tính bao quát là giám sát và kiểm soát trong đó nhấn mạnh phương thức giám sát, nguyên lý tự quản và quản trị. Tuy nhiên chưa nói đến quản lý GDĐH, đào tạo sau đại học trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Gornitzka & Maassen (2000) trong “Hybrid steering approaches with respect to European HE”, đã phản ánh vai trò nhà nước và những tác nhân xã hội có liên quan qua bốn mô hình điều khiển nhà nước: Nhà nước toàn trị, Hợp nhất đa nguyên, mô hình nhà trường và Siêu thị nhà nước chi phối tự chủ của cơ sở GDĐH, đào tạo sau đại học.[152] Sanyal (2003), trong “Quản lý trường đại học trong Giáo dục đại học”, đã đề cập về quản lý các cơ sở GDĐH, đào tạo sau đại học, tuy nhiên các nội dung được đề cập chỉ tập trung so sánh cách thức điều khiển có tính khái quát của nhà nước và giải quyết vấn đề QLNN trên trong các cơ sở GDĐH, đào tạo sau đại học. Lý thuyết quản lý nhà nước (State management theory of G.
2004) [154], đề cập các vấn đề lý luận về QLNN: khái niệm, bản chất, đặc điểm, chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức, phương pháp, cơ sở khách 11 quan, các nhân tố chủ quan của QLNN; hệ thống QLNN; cây “mục tiêu”; cơ cấu chức năng của QLNN; cơ cấu tổ chức của QLNN; sự điều chỉnh của pháp luật trong QLNN; pháp chế trong QLNN; thông tin trong QLNN và nhiều vấn đề khác. Các nghiên cứu nước ngoài có liên quan trực tiếp đến đề tài còn hạn chế do đào tạo sau đại học ở Việt Nam có tuổi đời khá trẻ và tính hội nhập chưa cao. Nghiên cứu Institute of Internatinonal edu cation Vietnam (2004) đã đưa ra bức tranh chung của hệ thống GDĐH, đào tạo sau đại học Việt Nam với vai trò nổi bật của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong “HE in Vietnam”, chỉ ra dấu hiệu phi tập trung và khuyến cáo việc tăng cường đảm bảo chất lượng.[158] Tuy nhiên không đưa ra giải pháp QLNN nào đảm bảo quyền tự chủ của cơ GDĐH, đào tạo sau đại học. Hayden M và Thiep (2006, 2007), trong “A 2020 vision for Vietnam” và “Institutional autonomy for HE in Vietnam”, cho rằng việc đổi mới giáo dục đại học Việt Nam gắn với việc đổi mới quản lý và đảm bảo tự chủ cho cơ GDĐH, đào tạo sau đại học.73-85] Nghiên cứu “Việt Nam: giáo dục đại học và kỹ năng cho tăng trưởng” của ngân hàng thế giới năm 2008” đã chỉ ra trách nhiệm của nhà nước đối với chất lượng GDĐH, đào tạo sau đại học khi các tác giả khẳng định để nâng cao chất lượng GDĐH, đào tạo sau đại học, để GDĐH, đào tạo sau đại học thực sự là chủ thể xây dựng các kỹ năng cho tăng trưởng thì cần phải nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục của các cơ quan nhà nước.
Nhà nước cần phải tạo lập môi trường chính sách, môi trường pháp lý bảo đảm các cơ sở giáo dục vận động hướng tới các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Vallely và Ben Wilkinson thuộc Harvard Kennedy School trong báo cáo về GDĐH Việt Nam năm 2008 [169], sau khi đưa ra những đánh giá về chất lượng GDĐH, đào tạo sau đại học của Việt Nam, đã chỉ ra nguyên nhân của chất lượng GDĐH, đào tạo sau đại học thấp mà hai tác giả 12 gọi là sự khủng hoảng về chất lượng: “Nguyên nhân trực tiếp nhất của cuộc khủng hoảng hiện nay là thất bại trong chính sách quản lý của nhà nước … các cơ sở giáo dục Việt Nam vẫn phải chịu một hệ thống kiểm soát tập trung cao độ”. Trong báo cáo về GDĐH Việt Nam năm 2008, Thomas J. Vallely và Ben Willkinson cho rằng: “Việt Nam không có dù chỉ là một trường đại học có chất lượng được công nhận.
Không có một trường nào của Việt Nam xuất hiện trên bất kỳ bảng xếp hạng các đại học có chất lượng cao tại Châu Á được nhiều người biết đến. Về phương diện này Việt Nam thua kém ngay cả các quốc gia khác ở Đông Nam Á.” Nhận định của báo cáo này đã đưa đến những ý kiến khác nhau của các học giả trong nước. Một số học giả cho rằng những nhận xét này chưa hoàn toàn thỏa đáng về còn gây tranh cãi song vấn đề căn bản là cần phải đề cao trách nhiệm của cơ QLNN, tạo những chính sách để bảo đảm và nâng cao chất lượng GDĐH, đào tạo sau đại học rõ ràng là một vấn đề cần được chú ý trong chiến lược phát triển GDĐH, đào tạo sau đại học, trong trách nhiệm của Nhà nước đối với nền GDĐH, đào tạo sau đại học. Ở trong nước, một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về QLNN dưới dạng phương pháp luận và thực tiễn nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế ở nước ta đã được công bố.