Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN 1. Những nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp Trong cuộc đời của một con người, khoảng 1/2 thời gian là hoạt động nghề nghiệp (có người gần như suốt cuộc đời). Những thành công (và cả những thất bại) của đời người chủ yếu được bắt nguồn từ hoạt động nghề nghiệp. Vinh quang và cay đắng, danh dự và tủi nhục trong cuộc đời ít nhiều đều liên quan đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp của mỗi con người.
Những con người gương mẫu, say mê trong lao động nghề nghiệp, mô phạm về mặt đạo đức luôn được xã hội, cộng đồng tôn trọng và kính yêu. Tựu trung lại, lương tâm, trách nhiệm, nghĩa vụ, sự yêu - ghét, tốt - xấu, tính thiện - ác của mỗi người đều được thể hiện tập trung qua hoạt động nghề nghiệp. Nói đến đạo đức nghề nghiệp là phải nói tới lương tâm nghề nghiệp. Lương tâm nghề nghiệp là biểu hiện tập trung nhất của ý thức đạo đức cá nhân trong thực tiễn.
Nó vừa là dấu hiệu, vừa là thước đo sự trưởng thành của đời sống đạo đức cá nhân. Mỗi con người với tư cách một chủ thể đạo đức đã trưởng thành bao giờ cũng biểu hiện là người sống có lương tâm, trong đó nhất là qua hoạt động nghề nghiệp của họ. Lương tâm nghề nghiệp là ý thức trách nhiệm của chủ thể đối với hành vi của mình trong hoạt động nghề nghiệp, là thái độ và cách ứng xử của người làm nghề trước lợi ích của người khác, của xã hội; là sự tự phán xử về các hoạt động, các hành vi nghề nghiệp của mình. Theo Đêmôcrít - nhà triết học Hy Lạp cổ đại - lương tâm chính là sự tự hổ thẹn, nghĩa là hổ thẹn với bản thân mình.
Sự hổ thẹn giúp cho con người tránh được ý nghĩ, việc làm sai trái. Do vậy, ông cho rằng, cần phải dạy cho con người biết hổ thẹn, nhất làm hổ thẹn trước bản thân mình. Nếu làm được như vậy thì sẽ giữ vững và nâng cao được đời sống đạo đức cá nhân và cộng đồng. Trong hoạt động nghề nghiệp, nếu không biết tự hổ thẹn sẽ không nâng cao được tay nghề và kết quả của hoạt động nghề nghiệp không những không có tác 9 n dụng, ngược lại còn ảnh hưởng xấu đối với xã hội.
Trong lĩnh vực triết học, một số nhà triết học như Apichor, Aristotle, Kant… sử dụng những khái niệm cơ bản bao gồm các tiêu chí như niềm tin, sự cần cù, sự xuất sắc, lương tâm, đam mê và lợi ích chung để xây dựng một cấu trúc đạo đức tuyệt vời [77].V (1991), khi nghiên cứu về vấn đề đạo đức, ông đã định nghĩa như sau: Đạo đức nghề nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu của bất cứ loại hình công việc nào. Mỗi loại nghề đòi hỏi người tham gia nghề đó cần phải hội đủ các thành tố: tri thức, thái độ, kĩ năng. Do đó, mỗi nghề nghiệp thường có những chuẩn mực đạo đức riêng biệt [62]. Tác giả Jonh Hardwig (1991), khi nghiên cứu về vấn đề đạo đức chuyên môn đã đưa ra những cách đánh giá cụ thể trong đạo đức chuyên môn và đưa ra những quy tắc chung trong đạo đức chuyên môn.
Theo ông, có các nguyên tắc của đạo đức chuyên môn, những nguyên tắc đạo đức này có vai trò định hướng hành vi cho những người làm chuyên môn. Một nghiên cứu khác về đạo đức nghề nghiệp là nghiên cứu của tác giả Joshua joseph (2000). Trong cuốn sách “Đạo đức nơi làm việc” đã chỉ ra vấn đề đạo đức ngày càng trở nên phổ biến trong các tổ chức của Mỹ. Theo ông, các tổ chức cần phải xây dựng bộ tiêu chuẩn đạo đức để hướng dẫn cho nhân viên trong việc thực hiện các hành vi tại nơi làm việc và trong công việc.
Ông đã nêu ra một số tiêu chuẩn về đạo đức nơi công sở. Đó là: trung thực, tôn trọng và tin tưởng.Wueste (1998) lại tìm hiểu về vấn đề đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội. Theo ông khái niệm đạo đức nghề nghiệp không tương đồng với khái niệm đạo đức xã hội. Phạm vi của đạo đức nghề nghiệp nhỏ hơn phạm vi của đạo đức xã hội [67].
Theo hiệp hội Kế toán Quốc tế (IFAC), đạo đức nghề nghiệp là những 10 n nguyên tắc, giá trị, chuẩn mực hay quy tắc hành vi có tác dụng hướng dẫn các quyết định, quy trình và hệ thống của tổ chức theo cách có thể đóng góp phúc lợi cho những người hữu quan chính và tôn trọng quyền của tất cả các thành viên hữu quan đối với hoạt động của thành viên hiệp hội. Yaghinlou và cộng sự (2003) cho rằng, cần có những quy định hành vi đạo đức là những chính sách quan trọng nhất của ngành nghề, mô tả các đặc điểm riêng của từng ngành nghề và các mối quan hệ giữa các thành viên với nhau cũng như với xã hội trong đạo đức nghề nghiệp [91]. Như vậy, những tiêu chuẩn về hành vi đạo đức là tiêu chuẩn quan trọng đối với việc duy trì và phát triển một ngành nghề nào đó. Qua hành vi đạo đức nghề nghiệp người ta hiểu về mối quan hệ đồng nghiệp trong nghề.
Như vậy, theo tác giả này, đạo đức nghề nghiệp là một tiêu chuẩn để một tổ chức kiểm soát hành vi nghề nghiệp của các thành viên, đánh giá nhân cách của các thành viên. Về phía cá nhân, đạo đức nghề nghiệp là một tiêu chuẩn để cá nhân tự xem xét lại, tự đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ được giao của mình trong tổ chức, sự đóng góp của mình cho tổ chức và quan hệ của mình với đồng nghiệp. Lashkar Boloulki (2008) cho rằng, đạo đức nghề nghiệp là trách nhiệm đạo đức của mỗi cá nhân ở góc độ nghề nghiệp. Mỗi nghề nghiệp tạo ra một trách nhiệm khác nhau [72].
Với quan điểm này, đạo đức nghề nghiệp là một tiêu chuẩn, là cơ sở để tổ chức và xã hội đánh giá tinh thần trách nhiệm của các cá nhân đối với nghề nghiệp đó. Tác giả Beigzad và Cộng sự (2010) cho rằng, một tổ chức tốt là tổ chức có những nguyên tắc đạo đức tốt. Dựa vào nguyên tắc đạo đức và quan điểm của tổ chức nhà quản lí hoàn toàn có khả năng quyết định cái gì là đúng và cái gì là sai [64]. Theo Javaher Dashti và cộng sự (2008), giáo dục đạo đức nghề nghiệp nên 11 n dựa trên hai thành phần: kiến thức văn hoá xã hội và kiến thức đầy đủ về nghề nghiệp.
Mỗi xã hội đã được hình thành dựa trên một văn hoá đặc biệt và có một loạt các nguyên tắc đạo đức ở mọi xã hội và các nguyên tắc theo văn hoá [69]. Theo Mizgerd (2010), nguyên tắc cơ bản giáo dục đạo đức nghề nghiệp là việc dạy cho người học có khả năng làm một công việc và con người không nên cam kết làm một công việc mà họ không làm được. Về cơ bản, năng lực chuyên môn là một phần của đạo đức nghề nghiệp [74]. Beigzadvà cộng sự (2010) cho rằng, một tổ chức tốt là tổ chức có những nguyên tắc đạo đức tốt.
Dựa vào nguyên tắc đạo đức và quan điểm của tổ chức mà nhà quản lí hoàn toàn có khả năng quyết định cái gì là đúng và cái gì là sai. Như vậy, đạo đức nghề nghiệp là một cơ sở để đánh giá giá trị của một tổ chức, là một cơ sở cho người lãnh đạo ra các quyết định trong quá trình quản lí tổ chức [64]. Năm 1986 - 1987, UNESCO đã tiến hành điều tra quốc tế về giá trị đạo đức của những người chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI trong tình hình có nhiều biến đổi đang ảnh hưởng đến xã hội vào những năm cuối thế kỉ XX, mục đích nghiên cứu để đề nghị đưa chương trình giáo dục giá trị đạo đức vào hệ thống giáo dục các nước. Trong Hội nghị lần thứ 32 của UNESCO (2003), các quốc gia thành viên đã bày tỏ sự cần thiết phải bắt đầu và hỗ trợ các chương trình giảng dạy về đạo đức, không chỉ trong đạo đức sinh học, mà còn trong mọi lĩnh vực giáo dục và khoa học.
Trên cơ sở những khuyến cáo và tuyên bố này, UNESCO đã phát động Chương trình Giáo dục Đạo đức từ năm 2004. Mục tiêu tổng thể của các hoạt động của UNESCO trong chương trình này là tăng cường và nâng cao năng lực của các quốc gia thành viên trong lĩnh vực giáo dục đạo đức. Đây là một mục tiêu dài hạn. Trong hai năm 2004-2005, các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đạo đức chủ yếu tập trung vào Đông và Trung Âu.
Trong năm 2006-2007, ưu tiên đã được dành cho Đông Nam Âu và một phần của khu vực Ả Rập. UNESCO đã thúc đẩy việc thành lập Hiệp hội quốc tế về đạo đức trong giáo dục (IAEE) từ năm 2011 nhằm khuyến khích các nước trên thế giới đưa giáo dục đạo đức trở thành vấn đề học thuật nghiêm túc và quan trọng để đáp ứng những thách thức về tiến bộ khoa học trên toàn cầu. 12 n Tại Nam Úc, trong cuốn “Đào tạo và đánh giá dựa trên năng lực”, các tác giả ở Viện Đại học Doulas Mauson cho rằng: Đạo đức nghề nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu của bất cứ loại hình công việc nào. Mỗi loại nghề nghiệp cần những người lao động hội tụ đủ các thành tố là tri thức (knowledgement), thái độ (attitude) và kỹ năng (skills) trong nghề nghiệp đó.
Các tác giả Sarah Banks (2015), Đại học Durham, Anh có bài viết: “Đạo đức nghề nghiệp xã hội”. Bài báo này thảo luận về đạo đức nghề nghiệp trong công tác xã hội, tìm hiểu chủ đề then chốt (giá trị cốt lõi, nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, lí thuyết đạo đức, các khó khăn về hành vi đạo đức, các quyết định đạo đức và điều chỉnh xử sự) trong lí thuyết thực tại và thực hành. Bài báo này xem xét liệu các mô hình chi phối của thực tiễn công tác xã hội và đạo đức từ Bắc thế giới có nên được xem xét lại trong bối cảnh quốc tế [38]. Ở Nhật Bản, Kazuo Inamori, người sáng lập tập đoàn Kyocera và Giám đốc điều hành hiện tại của Japan Airlines cho rằng việc tạo dựng một doanh nghiệp phải dựa trên những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp khắt khe nhất.
Nếu một người không có những tiêu chuẩn đạo đức cao, người đó không thể làm việc tốt. Người đó phải nâng cao đức tính của mình để phát triển công việc kinh doanh của mình. Vì thế, bí mật để thành công chính là phải nâng cao đạo đức [60].