CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TIẾNG ANH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề năng lực, năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp, tiếp cận phát triển, bồi dưỡng theo tiếp cận năng lực 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề năng lực Những nghiên cứu ở nước ngoài Với xu thế toàn cầu hoá và cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, đặc biệt Việt Nam đã gia nhập các tổ chức quốc tế, để cạnh tranh có hiệu quả, giáo dục của mỗi quốc gia phải thực sự là quốc sách hàng đầu, đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực về số lượng, cơ cấu và có năng lực, chất lượng cao, phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ.
Bên cạnh đó, giáo dục cũng phải góp phần ảnh hưởng tích cực, giữ gìn bản sắc của mỗi dân tộc trong quá trình hội nhập và phát triển. Nguồn gốc của các cuộc thảo luận về năng lực có thể quay ngược trở lại năm 1996 khi hội đồng châu Âu định nghĩa công dân tích cực có khả năng đảm nhận trách nhiệm, tham gia vào các quyết định nhóm, giải quyết xung đột một cách phi bạo lực và đóng một phần trong hoạt động và cải thiện thể chế dân chủ. Bằng cách này, năng lực được đưa vào các tài liệu chính thức nhằm bao gồm các khía cạnh chính trị xã hội thiết yếu trong cuộc sống của những công dân châu Âu [90]. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi ở 27 nước thành viên châu Âu liên quan đến triết lý giáo dục, lịch sử, phương pháp tiếp cận học tập và phát triển chương trình giảng dạy, các tiến trình cải cách và ảnh hưởng quốc tế gần đây.
Trong nỗ lực làm rõ khái niệm “năng lực”, Weinert gắn thuật ngữ này với khái niệm “arete", theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là “xuất sắc; cùng với thuật ngữ tiếng Latinh “virtus”, được hiểu là xuất sắc thuộc về đạo đức, hay sức mạnh, hiệu quả; 9 trong khi mọi người thường hiểu thuật ngữ này có liên quan tới “những gì mọi người có thể làm hơn là những gì họ biết”. Khái niệm này áp dụng cho cá nhân, nhóm xã hội hoặc thể chế. Các thuật ngữ “khả năng” hoặc “năng lực” có thể được sử dụng thay thế cho nhau. [153] Denyse Tremblay cho rằng năng lực là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.
Năng lực do đó được phân biệt với kỹ năng, một từ được định nghĩa là khả năng để thực hiện những hành động phức tạp một cách dễ dàng, chính xác và thích hợp. và Deakin Crick, R., năng lực là sự kết hợp phức tạp của kiến thức, kỹ năng, hiểu biết, giá trị, thái độ và mong muốn đem lại hiệu quả, được thể hiện qua hành động của con người ở một lĩnh vực nào đó. Thành tích của ai đó trong công việc, trong các mối quan hệ cá nhân hoặc trong xã hội dân sự không đơn giản chỉ dựa vào sự tích lũy kiến thức cũ được lưu trữ dưới dạng dữ liệu, mà là sự kết hợp của kiến thức với các kỹ năng, giá trị, thái độ, mong muốn, động lực và áp dụng kiến thức này trong một bối cảnh cụ thể của người đó tại một thời điểm cụ thể trong quỹ đạo thời gian. Benjamin Bloom [79] được coi là người đưa ra những phát triển bước đầu về ASK, với ba nhóm năng lực chính bao gồm: Phẩm chất/Thái độ (Attitude): thuộc về phạm vi cảm xúc, tình cảm Kỹ năng (Skills): kỹ năng thao tác (Manual or Physical) Kiến thức (Knowledge): Thuộc về năng lực tư duy (Cognitive) 10 Mô hình năng lực ASK – Thái độ, Kĩ năng and Kiến thức S Kĩ năng Trí tuệ Xã hội Giao tiếp Thể chất ….
Thái độ Kiến thức Ham hiểu biết A K Cơ sở lập luận Khát vọng thành công Số liệu Sẵn sàng tiếp thu cái mới Khái niệm Kiên cường Ý tưởng Tự kiểm soát … … Hình 1. Mô hình năng lực ASK [79] Mô hình tảng băng trôi trong quản trị nhân sự cho thấy năng lực và tiềm lực của một người. Cụ thể: • Kỹ năng: Những điều, cách thức giúp một người có thể làm tốt việc gì • Kiến thức: Những gì người đó hiểu biết • Thái độ: Bao gồm các nhân tố thuộc về thế giới quan tiếp nhận và phản ứng lại với thực tế, cách xác định giá trị và giá trị ưu tiên, thể hiện thái độ và động cơ • Giá trị: Hình ảnh của người đó trong tập thể; nó thể hiện điều quan trọng phản ánh giá trị của họ Kỹ năng Kiến thức Thái độ Giá trị Định vị bản thân Đặc tính Hình 1. Mô hình năng lực tảng băng trôi [143] Động lực • Định vị bản thân: Thể hiện qua khả năng lãnh đạo, quản lý; Khả năng thích nghi và sự tự tin 11 • Đặc tính: Thể hiện qua sở thích, năng khiếu, sự điều tiết hợp lý, tiềm năng, sự hiểu biết sâu rộng, linh hoạt, sáng tạo, ngay thẳng, bộc trực, thông minh, sự trung thành và khả năng chịu áp lực công việc • Động lực: Suy nghĩ trong vô thức khiến có những hành động hướng đến thành công.
Các ưu tiên của EU nhằm nâng cao chất lượng giáo viên và việc đào tạo giáo viên, như được xác định trong các kết luận của Hội đồng Giáo dục vào tháng 11 năm 2007, 2008 và 2009, nhắc lại sự cần thiết phải nâng cao năng lực giáo viên, cũng như để thúc đẩy các giá trị và thái độ nghề nghiệp, đề cập đến những yêu cầu nghề giáo viên như sau: Kiến thức chuyên ngành của môn học Kỹ năng sư phạm, bao gồm: • Dạy các lớp học hỗn hợp; • Sử dụng ICT; • Dạy học năng lực qua môn học; • Tạo ra trường học hấp dẫn an toàn; • Văn hóa/ Thái độ đối với việc thực hành suy tưởng, nghiên cứu, sáng tạo, hợp tác, tự học. [102] Theo các tác giả Koster và Dengerink, năng lực giáo viên là “sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị và đặc điểm cá nhân, giúp cho giáo viên có thể thể hiện một cách chuyên nghiệp và phù hợp trong một tình huống và triển khai chúng một cách chặt chẽ.” [117] Trong cuốn kỷ yếu “Teaching Competency Standards in Southeast Asia: Eleven Country Audit”, Hội nghị Hội đồng Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á nhằm thúc đẩy hợp tác giáo dục, khoa học và văn hóa trong khu vực đã chia sẻ, trao đổi và bàn luận về các tiêu chuẩn năng lực giảng dạy ở các quốc gia Đông Nam Á. Sau khi nghiên cứu, thảo luận các tiêu chuẩn năng lực giảng dạy nói riêng ở từng nước trong khu vực, Hội nghị đã đưa ra các năng lực giảng dạy chung bao 12 gồm: nhân cách, kiến thức nghề nghiệp, phát triển nghề nghiệp, các tiêu chuẩn đạo đức trong nghề và các kĩ năng nghề nghiệp. [156] Bản báo cáo “A Teacher Education Model for the 21st Century” của Viện Giáo dục Quốc gia Singapore đã khẳng định rõ tầm quan trọng của giáo dục trong việc đảm bảo sự sống còn và phát triển của quốc gia trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa.
Trong đó giáo viên ở thế kỷ 21 cũng càng cần lòng yêu nghề, những giá trị đúng đắn, kỹ năng và kiến thức để nuôi dưỡng, phát triển cả về mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, xã hội và thẩm mỹ cho học sinh. Bên cạnh đó, người giáo viên ở thế kỷ 21 đòi hỏi phải có năng lực toàn diện hơn để có thể đáp ứng nhu cầu cao hơn của người học và có thể trang bị tốt cho họ những kỹ năng và kiến thức cần thiết nhằm đạt được thành công trong cuộc sống và trở thành công dân có ích cho xã hội. Hơn nữa, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về giảng dạy diễn ra gần đây đã lưu ý rằng giáo viên cần giúp học sinh không chỉ có “những kỹ năng dễ dạy nhất và dễ kiểm tra nhất”, mà quan trọng hơn cả là cách suy nghĩ (sự sáng tạo, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, kĩ năng đưa ra quyết định làm và học tập); cách thức làm việc (giao tiếp và hợp tác); các công cụ để làm việc (bao gồm công nghệ thông tin và truyền thông); và các kỹ năng về công dân, về cuộc sống, sự nghiệp và trách nhiệm của cá nhân và xã hội để đạt thành công trong nền dân chủ hiện đại. [133] Tài liệu “Competency Framework for Teachers” do Sở giáo dục và đào tạo Tây Úc đã đưa ra khung năng lực cho giáo viên và định hướng giáo viên trong chuyên môn và nâng cao trình độ nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng những thay đổi về yêu cầu học tập, tăng chất lượng đầu ra của học sinh.
[94] Năng lực liên văn hóa cần thiết ở giáo viên giảng dạy ngoại ngữ đã được đề cập và mô tả trong dự án “Intercultural competences for Foreign Language Teachers”, đó là: Các năng lực chung: 13 1. Tính mở: quan tâm và hiểu biết về các nền văn hóa khác 2. Kiến thức: hiểu biết về văn hóa, giao tiếp liên văn hóa và có thể truyền đạt cho học sinh 3. Tính linh hoạt: chấp nhận một số hành vi thích hợp trong một số tình huống và hướng dẫn học sinh làm Các năng lực định hướng nghề: 4.
Nhận thức: có thể suy nghĩ và hành động qua những nhận thức khác nhau và áp dụng thuật ngữ nhận thức vào giảng dạy 5. Bối cảnh: có kiến thức đầy đủ về văn hóa đích để thêm bối cảnh vào các hoạt động học tập và có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu bối cảnh 6. Đối thoại: hiểu biết các nền tảng và vấn đề của giao tiếp liên văn hóa và có thể thực thi hiểu biết này trong giảng dạy. [115] Giáo viên cần có năng lực học tập suốt đời để có thể liên tục nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là trong thời đại công nghệ thông tin và toàn cầu hóa.
Khái niệm này đề cập đến khả năng cá nhân tự phát triển liên tục, suốt cuộc đời. Theo khung tham chiếu của Châu Âu gồm có 8 loại năng lực chủ chốt: giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; giao tiếp bằng ngoại ngữ; năng lực toán và khoa học, công nghệ cơ bản; năng lực số hóa; học cách học; năng lực xã hội và công dân; ý thức sáng tạo và kinh doanh; ý thức văn hóa.