Tổng quan luận án

Công trình khoa học được mô tả là luận án tiến sĩ triết học với đề tài: Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay, do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của người hướng dẫn Vũ Mạnh Toàn. Luận án được hoàn thành và bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2019, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số đào tạo 9229002.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định kinh tế và chính trị là hai hoạt động cơ bản nhất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội có nhà nước. Kinh tế là cơ sở vật chất cho chế độ chính trị, còn chính trị được thiết lập trên nền tảng của một chế độ kinh tế nhất định. Trong công cuộc đổi mới tại Việt Nam, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được Đại hội VIII (1996) xác định là một trong những quan hệ cơ bản và tiếp tục được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) là một trong chín mối quan hệ lớn cần nắm vững, xử lý. Sau hơn 30 năm đổi mới, thực tiễn nảy sinh nhiều bất cập: về mặt nhận thức, xuất hiện khuynh hướng tuyệt đối hóa kinh tế thị trường, xem thị trường là liều thuốc vạn năng, hoặc ngược lại, tuyệt đối hóa quyết định chính trị; có quan điểm cho rằng kinh tế nhiều thành phần tất yếu đòi hỏi đa nguyên chính trị. Về mặt thực tiễn, kinh tế phát triển chưa bền vững, năng lực cạnh tranh còn thấp, trong khi đổi mới chính trị diễn ra chậm hơn đổi mới kinh tế, tổ chức bộ máy cồng kềnh, nhiều đầu mối và chức năng chồng chéo. Khoảng trống đặt ra là cần luận giải sâu sắc mối quan hệ này dưới lăng kính triết học để tìm ra giải pháp phù hợp.

Mục đích nghiên cứu của luận án là dựa trên việc luận chứng một cách khoa học quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay cùng thực trạng giải quyết mối quan hệ này sau hơn 30 năm đổi mới, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành ba nội dung cụ thể:

  • Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về quan hệ giữa kinh tế và chính trị; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay.
  • Thứ hai, phân tích thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay.
  • Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phát triển kinh tế và giữ vững ổn định chính trị ở Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu hướng trọng tâm vào tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2019) trên phạm vi không gian lãnh thổ Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành điểm luận và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm nội dung cơ bản:

Nhóm công trình Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung học thuật đã đạt được
Nhóm nghiên cứu lý luận C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin; Nguyễn Chí Trung; Phạm Ngọc Quang; Lê Thanh Hà; Nguyễn Duy Quý; Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hoà; Vũ Trọng Dung; Nguyễn Cúc; nhóm Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Viên, Nguyễn Viết Thông; Vũ Hồng Tiến; Hoàng Xuân Nghĩa; Nguyễn Kế Tuấn; Lê Minh Thông; Phạm Ngọc Trâm; Lê Quốc Lý; Nguyễn Phú Trọng; Vũ Hoàng Công; Dương Xuân Ngọc; Hoàng Chí Bảo. Phân tích quy luật kinh tế quyết định chính trị, chính trị tác động trở lại đối với kinh tế; phân tích sự sụp đổ mô hình Xôviết do cải tổ sai lầm; khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phù hợp; xác định đổi mới hệ thống chính trị nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Nhóm nghiên cứu thực trạng Dương Xuân Ngọc; Vũ Văn Phúc; Nguyễn Phú Trọng; Lưu Thị Bích Thu; Hoàng Chí Bảo, Dương Phú Hiệp, Lương Đình Hải, Trần Văn Phòng, Lê Minh Quân; Nguyễn Gia Thơ; Trương Quốc Chính. Đánh giá thành tựu sau 30 năm đổi mới; chỉ ra hạn chế: đổi mới chính trị chậm hơn kinh tế, bộ máy hành chính cồng kềnh, phân biệt đối xử với kinh tế tư nhân, lúng túng trong đổi mới doanh nghiệp nhà nước, luật pháp chạy theo sau thực tiễn kinh tế.
Nhóm nghiên cứu giải pháp Vũ Hoàng Công; Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo, Bùi Đình Bôn; Phạm Văn Đức; Đặng Hữu Toàn; Dương Xuân Ngọc; Vũ Thanh Sơn; Nguyễn Trọng Chuẩn. Đề xuất giải pháp tư tưởng, phát triển dân chủ, giữ vững vai trò cầm quyền của Đảng; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; cải cách hành chính và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Về khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Tác giả chỉ rõ, các công trình trước đây phần lớn chỉ mới tiếp cận các khía cạnh riêng rẽ của đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, chưa khái quát thành một hệ thống giải pháp tổng thể giải quyết đồng bộ mối quan hệ biện chứng giữa hai lĩnh vực này. Nhiều vấn đề thực tiễn bức xúc như xử lý mâu thuẫn giữa nền kinh tế nhiều thành phần với thể chế nhất nguyên chính trị, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội vẫn chưa được luận giải đầy đủ dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Luận án đặt mục tiêu bù đắp khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án được xác lập vững chắc trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị qua các kỳ đại hội.

Các khái niệm và khung phân tích trọng tâm được tác giả làm rõ:

  • Khái niệm "kinh tế": Luận án phân tích ba tầng nghĩa phổ quát (nghĩa nguyên thủy từ từ ngữ "economic" là nghệ thuật quản lý gia đình; hoạt động sản xuất vật chất bảo đảm nhu cầu tồn tại của con người; tổng thể nền kinh tế quốc dân) và lựa chọn cách tiếp cận theo quan điểm của Ph.Ăngghen: kinh tế là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một chế độ xã hội nhất định, là cơ sở hiện thực làm nảy sinh kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị.
  • Khái niệm "chính trị": Tiếp cận từ nguyên nghĩa "politica" (công việc nhà nước, thị quốc) và định nghĩa của V.I.Lênin, luận án xác định chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia trong việc giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước; chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế; cấu thành từ hệ tư tưởng chính trị, quyền lực nhà nước và các thiết chế tương ứng.
  • Khung phân tích: Sử dụng quy luật biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng để phân tích mối quan hệ giữa kinh tế (tính thứ nhất, giữ vai trò quyết định) và chính trị (tính độc lập tương đối, giữ vị trí hàng đầu trong định hướng, dẫn dắt và điều tiết kinh tế).

Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuần túy thuộc khoa học triết học, hoàn toàn không áp dụng mô hình toán lượng hay phần mềm xử lý dữ liệu định lượng. Tác giả vận dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử và logic: Được dùng để tái hiện quá trình phát triển nhận thức của Đảng và diễn biến thực tế của mối quan hệ kinh tế - chính trị từ năm 1986 đến năm 2019.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để bóc tách các văn kiện chính trị, các công trình học thuật tiền nhiệm nhằm rút ra các luận điểm cốt lõi.
  • Phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa: Dùng để phân tích bản chất các mâu thuẫn xã hội và khái quát hóa thành các kết luận lý luận.
  • Phương pháp thống kê: Được sử dụng ở mức độ tổng hợp các dữ liệu thứ cấp có sẵn từ văn kiện chính thức để minh họa thực trạng phát triển.

Nguồn tư liệu nghiên cứu: Luận án khai thác các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin ("Phê phán cương lĩnh Gôta", "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", "Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết", "Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản", "Bàn về thuế lương thực", "Lao động làm thuê và tư bản", "Chống Đuyrinh", "Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức"); hệ thống Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XII (2016); Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011; cùng hệ thống sách chuyên khảo, bài báo khoa học đã xuất bản trong nước.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 4 chương với 11 tiết cụ thể:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Tác giả phân tích các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin để chỉ ra rằng mọi sự phát triển xã hội đều bắt nguồn từ kinh tế và phương thức sản xuất vật chất. Trọng tâm đấu tranh cách mạng sau khi giành chính quyền phải chuyển sang lĩnh vực kinh tế nhằm tạo lập năng suất lao động xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản. Điểm lại các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam, tác giả nhận định các nghiên cứu đã khẳng định quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong chín mối quan hệ lớn của thời kỳ quá độ, biểu hiện qua việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Phát hiện quan trọng của chương là các công trình đi trước chưa xây dựng được hệ thống giải pháp hoàn chỉnh mang tính chỉnh thể để xử lý mâu thuẫn giữa đa dạng hóa sở hữu kinh tế và duy trì trật tự chính trị một đảng lãnh đạo cầm quyền, đặt ra yêu cầu luận án phải đi sâu giải quyết.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam

Chương 2 tập trung luận giải cơ sở lý luận triết học và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác giả làm rõ bản chất kinh tế quyết định chính trị trên ba nội dung cốt lõi:

  1. Kinh tế là gốc, là thước đo tính hợp lý của chính trị; cơ sở kinh tế nào thì sinh ra kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng; chính trị chỉ tiến bộ khi phục vụ kinh tế theo đúng quy luật khách quan.
  2. Những mâu thuẫn về mặt chính trị suy cho cùng đều bắt nguồn từ mâu thuẫn kinh tế; đấu tranh giai cấp và sự hình thành chính đảng bắt nguồn từ đối kháng lợi ích vật chất; quyền lực nhà nước là công cụ bảo vệ lợi ích kinh tế của giai cấp thống trị.
  3. Sự biến đổi của kinh tế quy định sự biến đổi của chính trị; sự thay đổi phương thức sản xuất tất yếu dẫn tới sự thay đổi thể chế chính trị tương ứng.

Ngược lại, chính trị tác động mạnh mẽ trở lại kinh tế với vị thế hàng đầu ("chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế" - Lênin). Chính trị định hướng mục tiêu, bảo vệ thể chế và dẫn dắt kinh tế thông qua đường lối, chính sách công và pháp luật. Về quan điểm của Đảng, tác giả chứng minh Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới tư duy chính trị trong hoạch định đường lối, nhưng tập trung trước hết vào đổi mới kinh tế để tạo tiền đề vật chất giữ vững ổn định chính trị. Luận án khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng: không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; không đồng nhất chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần với việc thực hiện đa nguyên kinh tế hay đa nguyên chính trị. Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Chương 3: Thực trạng và mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 tổng kết các kết quả đạt được, chỉ ra những bất cập và phân tích các mâu thuẫn nội tại trong thực tiễn hơn 30 năm đổi mới:

  • Thành tựu: Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước định hình; chính trị - xã hội giữ vững ổn định, quyền làm chủ của nhân dân và dân chủ xã hội chủ nghĩa được mở rộng; bộ máy nhà nước từng bước được kiện toàn theo mô hình nhà nước pháp quyền.
  • Hạn chế: Kinh tế phát triển thiếu tính bền vững, năng suất lao động và sức cạnh tranh thấp; kinh tế vĩ mô có giai đoạn thiếu ổn định; đổi mới chính trị chậm hơn so với đòi hỏi của đổi mới kinh tế; năng lực của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ; tổ chức bộ máy hành chính cồng kềnh, nhiều đầu mối, thẩm quyền chồng chéo; luật pháp chính sách có lúc lạc hậu, chạy theo sau thực tiễn kinh tế; việc thực hiện tự phê bình và phê bình chưa đạt kết quả mong muốn, niềm tin của nhân dân có mặt giảm sút do tệ quan liêu, tham nhũng.

Tác giả phân tích các mâu thuẫn cơ bản trong giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, được tổng hợp qua bảng sau:

Mâu thuẫn cơ bản Biểu hiện cụ thể trong thực tiễn đổi mới
Mâu thuẫn giữa khuynh hướng XHCN và khuynh hướng TBCN Quá trình vận hành kinh tế thị trường làm nảy sinh tự phát tư bản chủ nghĩa, phân hóa giàu nghèo, xung đột với mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa và công bằng xã hội.
Mâu thuẫn giữa đa dạng hóa kinh tế và nhất nguyên chính trị Sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế tạo ra sự đa dạng hóa về cơ cấu xã hội và cơ cấu lợi ích, tạo sức ép đòi hỏi đa nguyên chính trị trong khi thể chế duy trì vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản.
Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội Yêu cầu tăng trưởng nhanh, tối ưu hóa lợi nhuận kinh tế đối lập với yêu cầu bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết đói nghèo, bảo vệ môi trường trong điều kiện nguồn lực quốc gia còn hạn chế.
Mâu thuẫn giữa giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế Mở cửa kinh tế, thu hút vốn đầu tư và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đối mặt với nguy cơ lệ thuộc kinh tế, tác động tiêu cực đến an ninh chính trị và chủ quyền quốc gia.
Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh với sự bất cập của bộ máy thể chế Yêu cầu vận hành linh hoạt của cơ chế thị trường bị cản trở bởi thủ tục hành chính rườm rà, sự chậm trễ trong ban hành luật pháp và tư duy bao cấp, bảo thủ của một bộ phận cán bộ quản lý.

Chương 4: Một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 đề xuất ba nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả xử lý mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong giai đoạn tiếp theo:

  1. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay: Hoàn thiện thể chế sở hữu, xác định rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đồng thời tôn trọng và tạo môi trường bình đẳng cho kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển; hoàn thiện hệ thống luật pháp kinh tế, xóa bỏ triệt để cơ chế xin - cho; chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng sang kết hợp hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất lượng và tính bền vững của nền kinh tế.
  2. Giữ vững ổn định chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, bảo đảm Đảng lãnh đạo thông qua cương lĩnh, đường lối và hệ thống pháp luật; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước, tinh gọn bộ máy, khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng và thẩm quyền; mở rộng thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với kỷ luật, kỷ cương; tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí để củng cố niềm tin của nhân dân.
  3. Tăng cường tổng kết thực tiễn đẩy mạnh đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, giải quyết một cách có hiệu quả quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay: Chú trọng nghiên cứu lý luận gắn liền với tổng kết thực tiễn qua từng chặng đường đổi mới; nâng cao năng lực dự báo và hoạch định đường lối; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân nhằm tạo sự đồng thuận xã hội cao trong giải quyết các mối quan hệ lợi ích.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo công bố chính thức của tác giả tại phần mở đầu văn bản, những kết quả và đóng góp mới của công trình tập trung vào các điểm sau:

  • Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm rõ hơn bản chất mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong điều kiện thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; phân tích sâu sắc các hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án hệ thống hóa thực trạng, chỉ ra các mâu thuẫn nội tại đang tồn tại giữa sự vận động của kinh tế thị trường và sự vận hành của hệ thống chính trị; từ đó đề xuất một hệ thống giải pháp cơ bản mang tính đồng bộ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng, xử lý mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam trong thời gian tới.

Các kiến nghị, giải pháp do luận án đề xuất tập trung vào ba hướng định hình chính sách: hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh cải cách thể chế chính trị và bộ máy hành chính nhà nước tương ứng với trình độ kinh tế; tăng cường công tác tổng kết thực tiễn nhằm điều chỉnh kịp thời các chính sách phát triển.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, căn cứ vào văn bản và phạm vi nghiên cứu được công bố:

  • Luận án tiếp cận vấn đề dưới giác độ của chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, do đó tập trung chủ yếu vào các nguyên lý triết học, các quy luật chung và định hướng quan điểm đường lối; công trình không đi sâu phân tích các chỉ số tài chính vi mô, mô hình kinh tế lượng hay các bài toán kỹ thuật quản lý cụ thể.
  • Phạm vi thời gian nghiên cứu của văn bản dừng lại ở năm 2019 (thời điểm luận án hoàn thành), do đó chưa bao quát được các bước phát triển lý luận và thực tiễn từ Đại hội XIII của Đảng trở về sau.
  • Luận án tập trung khảo cứu bối cảnh Việt Nam, chưa tiến hành các nghiên cứu so sánh thực chứng chuyên sâu với các mô hình chuyển đổi thể chế kinh tế - chính trị ở các quốc gia khác trên thế giới.

Về hướng nghiên cứu tiếp: Các nghiên cứu tiếp nối có thể cập nhật những quan điểm mới trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng sau năm 2019; mở rộng so sánh kinh nghiệm xử lý quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị của Việt Nam với các quốc gia chuyển đổi thể chế; đồng thời cụ thể hóa các giải pháp cải cách thể chế hành chính thành các tiêu chí đánh giá hiệu quả định lượng có thể đo lường trong thực tiễn quản lý nhà nước.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo rõ rệt đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Triết học, Kinh tế chính trị, Xây dựng Đảng và Quản lý nhà nước: Luận án cung cấp hệ thống tài liệu tổng quan phong phú về các tác phẩm kinh điển mácxít và các văn kiện chính trị của Đảng bàn về quan hệ kinh tế - chính trị. Phần tổng quan tài liệu tại Chương 1 và cơ sở lý luận tại Chương 2 là nguồn tư liệu học thuật có tính tham khảo trực tiếp cho các nghiên cứu lý luận.
  • Đối với giảng viên lý luận chính trị: Luận án là tài liệu phục vụ công tác giảng dạy các chuyên đề về Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và các mối quan hệ lớn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý: Chương 3 và Chương 4 của luận án cung cấp bức tranh thực trạng về các mâu thuẫn thể chế, sự chậm trễ của đổi mới chính trị so với đổi mới kinh tế, cùng các khuyến nghị về cải cách nền hành chính nhà nước, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, giúp ích cho việc tham mưu xây dựng chính sách và chỉ đạo thực tiễn.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "kinh tế" được tác giả luận án sử dụng theo cách hiểu nào của các nhà kinh điển mácxít? Tác giả phân tích ba tầng nghĩa của khái niệm kinh tế và quyết định sử dụng khái niệm này theo nghĩa mà Ph.Ăngghen thường dùng trong các tác phẩm kinh điển: "kinh tế" là toàn bộ những quan hệ sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tế của một chế độ xã hội nhất định, tức là cái cơ sở hiện thực làm nảy sinh kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị.

2. Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị được luận án luận giải qua những khía cạnh nào? Tính quyết định của kinh tế đối với chính trị được luận giải qua ba nội dung: (1) Kinh tế là gốc, là thước đo tính hợp lý của chính trị; (2) Những mâu thuẫn về mặt chính trị suy cho cùng đều do mâu thuẫn về mặt kinh tế sinh ra; (3) Sự biến đổi của kinh tế quy định sự biến đổi của chính trị và tổ chức nhà nước.

3. Vì sao Việt Nam không chấp nhận đa nguyên chính trị dù phát triển nền kinh tế nhiều thành phần? Theo trích dẫn văn kiện và lý giải của luận án, chế độ chính trị của Việt Nam là chế độ làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền. Việc phát triển nền kinh tế thị trường nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế là quy luật khách quan của thời kỳ quá độ nhằm giải phóng sức sản xuất, hoàn toàn không đồng nhất với việc thực hiện đa nguyên kinh tế hay chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

4. Luận án chỉ ra những hạn chế chính nào trong đổi mới chính trị ở Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới? Luận án chỉ ra ba hạn chế chính: (1) Đổi mới chính trị diễn ra chậm hơn so với yêu cầu của đổi mới kinh tế; (2) Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhất là bộ máy hành chính nhà nước, có quá nhiều đầu mối, thẩm quyền chức năng chồng chéo, trách nhiệm cá nhân và tập thể chưa rõ ràng; (3) Thể chế luật pháp kinh tế chưa hoàn chỉnh, nhiều khi chạy theo sau thực tiễn, làm kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.

5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị? Luận án đề xuất ba nhóm giải pháp cơ bản tại Chương 4: (1) Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) Giữ vững ổn định chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước; (3) Tăng cường tổng kết thực tiễn đẩy mạnh đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.

Kết luận

Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Nguyễn Thị Hoa đã làm rõ những vấn đề lý luận cốt lõi về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Công trình đã đánh giá khách quan thành tựu cùng những hạn chế, mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị tại Việt Nam giai đoạn 1986 - 2019. Đồng thời, luận án đã đề xuất một hệ thống giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước trong thời kỳ quá độ.