Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Các tài liệu liên quan đến đường lối chính sách phát triển nguồn nhân lực Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc (ĐHĐBTQ) lần thứ VI (1986) và được hoàn thiện dần qua các kỳ ĐHĐBTQ tiếp theo. Về kinh tế, tại ĐHĐBTQ lần thứ IX, ĐCSVN khẳng định chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN (ĐCSVN, 2004). Như vậy về cơ bản, Việt Nam đã xác lập nền kinh tế nhiều thành phần, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong công cuộc xây dựng đó, ngoài các yếu tố về vốn, công nghệ, tài nguyên có sẵn hay các tiềm lực từ “Cú huých bên ngoài” dùng để phát triển thì phát triển các yếu tố nội tại sẵn có, trong đó nguồn nhân lực của quốc gia là vấn đề cốt lõi rất được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Trong công cuộc phát triển, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, kế thừa tinh thần các kỳ đại hội trước, trong các Văn kiện của ĐHĐBTQ lần thứ XII và XIII của Đảng đã chỉ rõ nguồn nhân lực là yếu tố để xây dựng và phát triển đất nước cho nên công tác giáo dục và đào tạo đã được chú trọng đúng mức. Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XI khẳng định “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” (ĐCSVN, 2011, tr 410). Tiếp đó, trong Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XII, các nội dung về giáo dục và đào tạo được đề cập một cách liên tục, xem trọng công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đánh giá cao sự tác động của nó đối với sự phát triển các mặt kinh tế xã hội "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ"; trong Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, giáo dục và đào tạo đã được để ở mục riêng.
Đặc biệt, Văn kiện ĐHĐBTQ XIII đã gắn nội dung phát triển giáo dục và đào tạo với đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc cách mạng công nghiệp lần 9 thứ tư và hội nhập quốc tế. Trần Thắng (2013), trong nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI” đã khẳng định trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng yếu tố con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển kinh tế đất nước trong kế hoạch trung hạn và dài hạn; yếu tố con người luôn được đặt lên hàng đầu trong cả sự nghiệp chính trị lẫn kinh tế xã hội. Với nhận thức sâu sắc về yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng cho sự phát triển bền vững, quyết định chất lượng tăng trưởng, đáp ứng quá trình phát triển và hội nhập quốc tế mạnh mẽ của địa phương, tỉnh Bình Dương xác định đào tạo nguồn nhân lực là một trong những mũi đột phá quan trọng trong giai đoạn 2015-2020. Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐND ngày 31/1/2019, Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ X Đảng bộ tỉnh Bình Dương về kinh tế xã hội đã quy định về chính sách thu hút, chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương, xem nguồn nhân lực là chìa khóa cho phát triển bền vững của tỉnh nhà, xác định chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tiên quyết làm nên thành công chứ không chỉ dừng ở công nghệ.
Đồng thời, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là một trong những thế mạnh giúp địa phương thu hút đầu tư mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới. Đại hội đảng bộ lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025 đã quyết tâm phấn đấu đưa Bình Dương trở thành trung tâm công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm phái nam trên tinh thần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện thành công mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, xây dựng Bình Dương thành đô thị văn minh, hiện đại, trên cơ sở tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo, tạo đột phá mạnh mẽ trong phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao (Tạp chí Cộng sản, 2020). Như vậy, bằng quan điểm của mình, ĐCSVN đã nhận thức được vai trò của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, từ đó đã có những chính sách chỉ đạo cụ thể để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam. Không đứng ngoài các quan điểm đó, Đảng bộ tỉnh Bình Dương trên tinh thần kế thừa các chỉ đạo của Đảng và nhà nước cũng đã thể hiện rõ nhận thức về vai trò của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực đối với các hoạt động kinh tế xã hội tại địa phương.2 Các nghiên cứu liên quan đến vai trò của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển xã hội, vì vậy, từ lâu nó đã được quan tâm nghiên cứu.
Khái niệm NNL đã được được nhiều tác giả đề cập trong các công trình nghiên cứu, tiêu biểu có thể kể đến các tác giả như Nadler và Nadler (1989), Begg, Fisher và Dornbush (1992), và Engel (1993) thực hiện, tiếp sau đó, một số nhà khoa học như Becker (2006), Kuznet (2016), Marquardt (2011)… và rất nhiều tác giả khác. Mặc dù tiếp cận ở giác độ vĩ mô hay vi mô, các nghiên cứu trên đều cho rằng nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người thể hiện qua các năng lực (thể lực, trí lực, tâm lực) hay ở dạng tiềm năng (kiến thức, kỹ năng, thái độ) được huy động vào quá trình hoạt động để cải tạo thế giới, tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của con người. Nguồn vốn con người thường được đồng nghĩa với chất lượng nguồn nhân lực và được gọi chung là vốn nhân lực. Nguồn vốn này không chỉ được khai thác, sử dụng giống như yếu tố lao động trong hàm sản xuất, mà điều quan trọng là nó cần phải được bảo tồn, bồi dưỡng và phát triển.
NNL là yếu tố của quá trình sản xuất, với sức lao động, con người vận hành, sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng sản xuất, chỉ có sức lao động mới tạo ra giá trị thặng dư, tạo ra lợi nhuận. Mọi tổ chức không thể thiếu con người. Các nguồn lực khác không thể tự sinh lời nếu thiếu sức lao động. Dưới góc độ khác, NNL được xem là vốn nhân lực, cũng cần được đầu tư tích lũy và phát triển.
Đặc biệt là trong lúc các nguồn lực tự nhiên là có hạn, ngày càng cạn kiệt và khan hiếm, thì NNL là vô hạn, càng sử dụng, càng bộc lộ những đặc trưng và tiềm năng vô tận. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu trong lĩnh vực này, vấn đề phát triển NNL trở nên phổ biến và giữ vai trò đặc biệt sau khi lý thuyết tăng trưởng và lý thuyết vốn con người được ủng hộ bởi Schultz (1961) và Becker (1964) từ những năm 1950. Lý thuyết về phát triển NNL đã xuất hiện nhiều và đa dạng, được đề cập đến ở những mức độ khác nhau. Mọi lý thuyết đều đi đến đồng thuận khi cho rằng: Không có quốc gia nào vững mạnh khi không có NNL vững mạnh.
NNL là tài sản lớn nhất, là thước đo hiệu quả sản xuất của một nền kinh tế, là một trong những yếu tố quyết định cạnh tranh quốc gia. Nguồn tài sản trí tuệ này không những giữ vững hiệu quả cho hoạt động hiện tại mà còn sinh lợi cho tương lai (Schultz, 1961; & Becker, 1964). Vì lý do đó, phát triển NNL luôn là chiến lược trọng tâm của bất kì chính phủ nào. Behrman và Taubman (1982) cho rằng vốn con người là một thành tố vô cùng quan trọng.
Vốn con người được hiểu là sự tích lũy đầu tư trước đó vào giáo dục, đào 11 tạo, sức khỏe và những nhân tố khác làm tăng năng suất lao động. Như vậy, theo tác giả, các yếu tố cấu thành vốn con người là kiến thức, sức sáng tạo, kỹ năng, phẩm chất, kinh nghiệm thực tế trong công việc. Để cũng cố thêm lý luận về các tác động của nguồn nhân lực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, Paul Moris, Li Fin Fu và Li You khi đề cập đến lực lượng lao động, nguồn nhân lực đã khẳng định, nguồn nhân lực không chỉ là nguồn lực chính thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia mà còn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt là vấn đề giáo dục - đào tạo. Trong khi đó, Henaff và Martin trong tác phẩm “Labour, employment and human resource in Vietnam after 15 years renovation” đã tổng kết rằng những thay đổi trong giáo dục, đào tạo lao động đã làm nên sự đổi mới kinh tế thần kỳ ở Việt Nam và khẳng định, để có một nguồn nhân lực tốt và bền vững nhà nước cần có chiến lược ưu tiên trong lao động và việc làm.
Ngoài ra có thể kể đến những ấn phẩm đáng chú ý về chủ đề nguồn nhân lực của tổ chức quốc tế như Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), với những báo cáo hàng năm về tình hình phát triển con người (Human development report), cung cấp một cách khá đầy đủ và cập nhật chỉ số phát triển con người của hầu hết các quốc gia trên thế giới được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp. Đặc biệt, UNDP đã đề ra 5 nhân tố của sự phát triển nguồn nhân lực, đó là giáo dục và đào tạo; sức khỏe và dinh dưỡng; môi trường; việc làm và sự giải phóng con người; trong đó giáo dục và đào tạo là bộ phận cơ bản nhất, quan trọng nhất để phát triển nguồn nhân lực. Một số tổ chức quốc tế quan trọng khác, như tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng có những nghiên cứu quan tâm tới nguồn nhân lực từ khía cạnh sức khỏe; ILO - Tổ chức Lao động quốc tế cũng phát hành những những ấn phẩm về chủ đề nguồn nhân lực và vấn đề đào tạo (Human development and training, ILO, Geneva, 2003, 2004).