Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN 1. Khái niệm hạ tầng KT - XH nông thôn 1. Khái niệm về hạ tầng KT - XH xã hội Cho ñến nay, quan niệm về cơ sở hạ tầng vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau.
TS Nguyễn Ngọc Nông thì: “Cơ sở hạ tầng là tổng thể các ngành kinh tế, các ngành công nghệ dịch vụ” [39, tr. Cụ thể cơ sở hạ tầng bao gồm: Việc xây dựng ñường xá, kênh ñào tưới nước, bãi cảng, cầu cống, sân bay, kho tàng, cơ sở cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao thông vận tải, bưu ñiện, cấp thoát nước, cơ sở giáo dục, khoa học, y tế, bảo vệ sức khoẻ. TS Lê Du Phong cho rằng kết cấu hạ tầng là “tổng hợp các yếu tố và ñiều kiện vật chất - kỹ thuật ñược tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc gia, là nền tảng và ñiều kiện chung cho các hoạt ñộng KT - XH. Với TS Mai Thanh Cúc quan niệm cơ sở hạ tầng là: “hệ thống các công trình làm nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết cho phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống” [15, tr.
Cơ sở hạ tầng bao gồm cung cấp nước, tưới tiêu và phòng chống bão lụt, cung cấp năng lượng, giao thông, thông tin liên lạc. TS ðỗ Hoài Nam thì cho rằng hạ tầng “là khái niệm dùng ñể chỉ những phương tiện làm cơ sở nhờ ñó các quá trình công nghệ, quá trình sản xuất và các dịch vụ ñược thực hiện” [37, tr. Có quan niệm cho rằng hạ tầng KT - XH ñược sử dụng ñể chỉ: “những hạ tầng ña năng phục vụ cho cả kinh tế và xã hội; hoặc trong trường hợp ñể chỉ những hạ tầng chuyên dùng phục vụ trong hoạt ñộng kinh tế và văn hoá, xã hội khi cùng ñề cập ñến cả hai loại hạ tầng phát triển KT - XH nói chung” [64, tr. Quá 7 trình sản xuất cần có người lao ñộng, tư liệu sản xuất và công nghệ.
Trong tư liệu sản xuất có một bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là những cơ sở phương tiện chung nhờ ñó mà quá trình công nghệ, sản xuất và dịch vụ ñược thực hiện. Bộ phận này chính là cơ sở hạ tầng, kết cấu hạ tầng hay hạ tầng. Như vậy mặc dù còn có những quan ñiểm khác nhau, cụm từ khác nhau nhưng các quan ñiểm, ý kiến này ñều cho rằng: Cơ sở hạ tầng hoặc kết cấu hạ tầng hay hạ tầng ñều là những yếu tố vật chất làm nền tảng cho các quá trình sản xuất và ñời sống xã hội hình thành và phát triển. Với quan niệm về hạ tầng như vậy, cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm cho hạ tầng không những có vai trò quan trọng trong lĩnh vực kinh tế mà nó còn có vai trò ñặc biệt quan trọng trong phát triển xã hội.
Tương ứng với mỗi lĩnh vực hoạt ñộng của xã hội có một loại hạ tầng tương ứng chuyên dùng. Hạ tầng trong kinh tế phục vụ cho hoạt ñộng kinh tế, hạ tầng trong quân sự phục vụ cho hoạt ñộng quân sự, hạ tầng trong lĩnh vực giáo dục, y tế phục vụ cho hoạt ñộng giáo dục, y tế… Trong thực tế cũng có những loại hạ tầng ña năng có tầm hoạt ñộng rộng lớn, có tác ñộng nhiều mặt như: Hạ tầng giao thông vận tải, ñiện năng, thuỷ lợi… ðó là những hệ thống hạ tầng trong khi tồn tại và vận hành không chỉ phục vụ cho một hoạt ñộng ví dụ như hoạt ñộng kinh tế mà còn phục vụ cho nhiều hoạt ñộng khác. Do ñó khái niệm hạ tầng KT - XH ñược sử dụng ñể chỉ những hạ tầng có tính ña năng phục vụ cho lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội hoặc ñể chỉ cho những hạ tầng chuyên dùng phục vụ cho lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội khi cùng ñề cập ñến. Trong ñiều kiện kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng - tài chính giữ vai trò là nền tảng cho các hoạt ñộng kinh tế.
Nó là cơ quan vận hành và cung ứng vốn cho nền kinh tế vận hành và phát triển. Do vậy, hoạt ñộng của hệ thống tài chính, ngân hàng giữ vai trò hết sức quan trọng trong vận hành của toàn bộ nền 8 kinh tế. Với vai trò là nền tảng, hệ thống tài chính, ngân hàng cũng ñược coi là một loại hạ tầng mang tính thiết chế của nền kinh tế thị trường hiện ñại. Trong ñiều kiện hiện tại của sự phát triển và trong nền kinh tế thị trường hiện ñại, tôi thống nhất với PGS.
TS ðỗ Hoài Nam cho rằng: “Hạ tầng KT - XH của xã hội hiện ñại là khái niệm dùng ñể chỉ tổng thể những phương tiện và thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho KT - XH phát triển” [37, tr. Thực tế cho thấy, hạ tầng KT - XH ngày càng ñóng vị trí quan trọng trong sự phát triển KT - XH của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Hạ tầng KT - XH là một trong những chỉ tiêu tổng hợp ñánh giá mức ñộ phát triển của một quốc gia. Bất cứ một xã hội nào, một quốc gia nào muốn phát triển thì ñều cần có một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và ñồng bộ, ñiều ñó cũng có nghĩa là phải ñầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phải xem nó là nền tảng, là ñiều kiện tiền ñề vật chất ñể thúc ñẩy các hoạt ñộng KT - XH phát triển.
Hạ tầng KT - XH có những ñặc trưng sau: - Tính hệ thống: Hạ tầng KT - XH của một quốc gia, một vùng hay một ñịa phương là một hệ thống cấu trúc phức tạp bao trùm và có phạm vi ảnh hưởng mức ñộ cao thấp khác nhau lên mọi hoạt ñộng kinh tế, xã hội trên ñịa bàn. Dưới hệ thống ñó lại có những phân hệ với mức ñộ và phạm vi ảnh hưởng thấp hơn, nhưng tất cả ñều liên quan gắn bó với nhau, mà sự trục trặc ở khâu này sẽ liên quan, ảnh hưởng ñến khâu khác. Do ñó việc quy hoạch tổng thể phát triển hạ tầng KT - XH phải kết hợp, phối hợp các loại hạ tầng trong một hệ thống ñồng bộ ñể giảm chi phí và tăng hiệu quả sử dụng của các công trình hạ tầng. Tính ñồng bộ hợp lý trong phối kết hợp các bộ phận cấu thành hạ tầng KT - XH có ý nghĩa quan trọng cả về mặt kinh tế và còn có ý nghĩa cả về xã hội.
Công trình hợp lý không chỉ là ñòn bẩy tác ñộng vào lĩnh vực kinh tế mà còn tác ñộng lớn ñến nếp sống, môi trường, sinh hoạt của dân cư trên ñịa bàn, tạo sự thay ñổi cảnh quan trong không gian của khu vực. 9 - Tính kiến trúc: Phát triển hạ tầng KT - XH không chỉ là vấn ñề kinh tế - kỹ thuật ñơn thuần mà các bộ phận cấu thành hệ thống cơ sở hạ tầng phải có cấu trúc phù hợp với những tỉ lệ cân ñối, kết hợp với nhau thành một tổng thể hài hòa, ñồng bộ. Sự khập khiễng trong kết cấu hạ tầng có thể làm cho hệ thống công trình mất tác dụng, không phát huy ñược hiệu quả, thậm chí làm tê liệt cả hệ thống hay từng phân hệ của cấu trúc. - Tính tiên phong ñịnh hướng: Cơ sở hạ tầng của một nước, một quốc gia, một vùng phải hình thành và phát triển ñi trước một bước so với các hoạt ñộng kinh tế, xã hội khác.
Tính tiên phong của hệ thống cơ sở hạ tầng còn thể hiện ở chỗ nó luôn ñi trước, mở ñường cho các hoạt ñộng kinh tế, xã hội phát triển tiếp theo và thuận lợi. Chiến lược ñầu tư phát triển hạ tầng ñúng là lựa chọn ñược những hạ tầng trọng ñiểm làm nền tảng cho một tiến trình phát triển ñó là chiến lược “ưu tiên”, công trình hạ tầng “trọng ñiểm”. Sự phát triển về cơ sở hạ tầng về quy mô, chất lượng, trình ñộ kỹ thuật là những tín hiệu cho thấy ñịnh hướng phát triển KT - XH của một nước hay của vùng ñó. - Tính tương hỗ: Các bộ phận trong cơ sở hạ tầng có tác ñộng qua lại với nhau.
Sự phát triển của bộ phận này có thể tạo thuận lợi cho bộ phận kia và ngược lại. Ví dụ như việc xây dựng một con ñường giao thông thì không những phục vụ trực tiếp cho hoạt ñộng giao thông ñi lại, vận chuyển hàng hoá… của vùng ñó ñược thuận tiện, dễ dàng mà nó còn tạo ñiều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các cơ sở trong vùng nhờ giảm ñược chi phí vận chuyển, qua ñó giảm giá thành sản phẩm… Nguyên tắc cơ bản là gắn quyền lợi và nghĩa vụ, tuy nhiên trong một số trường hợp khi xây dựng công trình làm thiệt hại cho ñối tượng này nhưng lại làm lợi cho ñối tượng khác. - Tính công cộng: Các ngành sản xuất và dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng tạo ra những sản phẩm hàng hoá công cộng như: ðường giao thông, cầu cống, mạng lưới ñiện, cung cấp nước… ñiều ñó ñược thể hiện cả trong xây dựng và trong sử dụng. Bởi vậy, hiệu quả ñầu tư phát triển cơ sở hạ tầng không thể chỉ xét ñến lợi ích của doanh nghiệp ñầu tư mà còn phải xét ñến ý nghĩa phúc lợi của nó ñối với toàn xã hội.
Ngoài ra còn phải thực hiện tốt việc phân cấp xây dựng và quản lý sử dụng cho từng cấp chính quyền và từng ñối tượng cụ thể. 10 - Tính vùng (ñịa lý): Các ngành sản xuất và dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng thường gắn với một vùng, ñịa phương cụ thể. Nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên (tài nguyên, môi trường, ñịa hình, ñất ñai…) và các yếu tố kinh tế, xã hội của từng vùng, từng khu vực. Kết cấu hạ tầng của các vùng có vị trí ñịa lý khác nhau thì cũng sẽ khác nhau.
- Là lĩnh vực ñầu tư kinh doanh, lĩnh vực ñầu tư ñòi hỏi vốn lớn: Công trình hạ tầng KT - XH thường là những công trình lớn có quy mô lớn, ñòi hỏi vốn lớn, không thể hoặc khó có khả năng thu hồi vốn. Nguồn vốn ñầu tư xây dựng công trình hạ tầng KT - XH thường ñược ña dạng hoá, xã hội hoá: Vốn ngân sách Nhà nước, vốn ñóng góp của dân (sức lao ñộng, tiền vốn), vốn các doanh nghiệp, vốn nước ngoài (chủ yếu là vốn ODA)…và nguồn vốn khác (như hảo tâm, công ñức).